Dịch Cân Kinh
Từ
lâu chúng ta nghe nói đến Dịch Cân Kinh của Chùa Thiếu Lâm, và nghe đến Dịch
Cân Kinh ai cũng liên tưởng một môn võ học bí truyền chỉ có trong sách vở hoặc
trong truyện chưởng của Kim Dung, và cùng lắm nếu áp dụng ở ngoài đời cũng chỉ
là một cách luyện tập đòn thế, quyền cước.
Sự thật, Dịch Cân Kinh là một sự
luyện tập thân thể, căn cứ vào sự hòa hợp âm dương, dịch lý để điều hòa cơ thể
và khai thông những huyệt đạo bị bế tắc, dụng công bồi dưỡng sức khỏe và phòng
ngừa bệnh tật. Thân thể mà âm dương cân bằng, sức khỏe dồi dào, tự nhiên bách
bịnh tiêu tan.
Hiện nay ở hải ngoại, tiện nghi cơ
khí vượt bực, máy móc điện tử dồi dào đã làm con người ngày nay càng lười
biếng, ỷ lại. Trừ những công việc nặng nhọc, hay những môn thể thao đòi hỏi
phải vận dụng đến sức mạnh của gân cốt và bắp thịt, hầu như đa số những người
Việt Nam tại Mỹ ít có dịp để cơ thể vận động và khiến mồ hôi thoát ra. Bước ra
khỏi nhà là leo lên xe hơi. Đi đến chỗ nào cũng ráng tìm chỗ đậu xe càng gần
cửa ra vào càng tốt. Có cầu thang máy thì dù có là lầu hai, lầu ba cũng chờ cho
bằng được để thang máy “lao động” dùm mình. . . Thành thử càng lệ thuộc ỉ lại
vào văn minh, kỷ thuật khoa học chừng nào, con người trở nên yếu đuối và dể
vướng bịnh tật chừng nấy. Lý do nhiều cơ phận không vận chuyển hay ít vận
chuyển sẽ mất dần hiệu năng hữu hiệu của nó.
Tài liệu Xuất Thủ liệu pháp nầy xin
tặng đến những người đang suy yếu cơ thể một cơ hội để chiêm nghiệm và thử
luyện tập. Chúng ta không mất một tổn phí nào cho sự hồi phục sức khỏe kể cả
thuốc thang. Chúng ta chỉ mất một ít thời gian không đáng kể so với số lượng 24
giờ mỗi ngày nhưng kết quả thu hoạch có khi đáng giá gấp bội so với những người
khác đã phải mất tiền mất nhiều thì giờ bởi những quảng cáo “rất hấp dẫn” mà kết
quả gặt hái chẳng được bao nhiêu, chưa kể nhiều khi “tiền mất tật mang”.
Đạt Ma Dịch Cân Kinh là một trong
những bộ môn tối cổ của Trung Hoa gồm 12 cuốn, tưởng như đã thất truyền sau bao
nhiêu lâu, nay tìm lại được, khiến hiện giờ người Trung Hoa coi đây là một di
sản văn hóa cần được bảo vệ. Trong 12 cuốn Dịch Cân Kinh, chúng tôi xin lựa ra
một cuốn mà công dụng của nó chắc giúp ích chúng ta rất nhiều trong sự luyện
tập thân thể với mục đích là phòng ngừa bá bệnh có tên là XUẤT THỦ LIỆU
PHÁP.
PHÁP NẦY CHỈ CÓ 16 CÂU NHƯ SAU:
1- Thượng Nghi Hư: Phần trên để nhẹ tựa trống rỗng.
2- Hạ Nghi Thực: Phần dưới cứng chắc dầy đặc.
3- Đầu Nghi Huyễn: Đầu nên lơ lững như treo.
4- Khâu Nghi Dao: Mồm để mặc tự nhiên.
5- Hung Nghi Nhu: Ngực hít thở đều đặn.
6- Bối Nghi Bạt: Lưng nên thẳng cứng.
7- Yêu Nghi Trục: Eo như cái trục.
8- Tỳ Nghi Giao: Cánh tay đưa đi đưa lại.
9- Trừu Nghi Trầm: Khuỷu tay để chìm xuống.
10- Uyển Nghi Trọng: Cổ tay lên gân cứng.
11- Thủ Nghi Hoạch: Tay nên đưa.
12- Phúc Nghi Thục: Bụng nên đầy.
13- Khỏa Nghi Tùng: Bàn tay để lỏng tự nhiên.
14- Công Nghi Để: Hậu môn thót lên.
15- Cạnh Nghi Thạch: Gót chân chắc như hòn đá.
16- Chỉ Nghi Trắc: Ngón chân bám chặc mặt đất.
Đặc điểm của Xuất Thủ là “Thượng Hư
Hạ Thực” trên rỗng dưới chắc, động tác dịu dàng, tinh thần tập trung, hai tay
đưa xuống rồi trở về sau. Làm như vậy có thể thay đổi được trạng thái “Thượng
Thanh Hạ Hư” của những thể chất yếu kém, khiến phần dưới vững chắc, phần trên
nhẹ nhàng, bệnh tật tự nó biến đi.
TÁC DỤNG CƯỜNG THẬN, PHÒNG BỆNH VÀ TRỊ BỆNH:
Xuất Thủ là một phương pháp tập
luyện cho thân thể cường kiện, không những vậy mà tác dụng trị liệu rất nhiều
chứng bệnh bất trị kinh niên, kiến hiệu nhanh chóng thật không ngờ mà thật khó
tin. Không phải bất cứ trạng thái bệnh tật nào cũng cố định bất biến, điều quan
trọng là TRANH ĐẤU và tranh đấu tới cùng là phải thắng lợi.
PHẦN HƯỚNG DẪN:
Người tập nên coi kỹ phần nầy để
việc luyện tập được chu đáo, đúng phương pháp và mau đạt kết quả.
1- Người đứng thẳng, chân dang, khoảng
cách của đôi bàn chân bằng khoảng cách của đôi vai, gót chân chắc như hòn đá,
ngón chân bám chặc vào mặt đất.
2- Mắt nhìn thẳng về phía trước,
trong đầu óc không nên suy nghĩ hổn tạp, nhưng có thể đếm động tác của đôi tay.
3- Hai bàn tay duỗi thẳng tự nhiên,
không nên co lại, năm ngón tay cũng duỗi thẳng và khép kín.
4- Hai tay không dùng sức, cùng một
lược đưa lên ngang vai ra phía trước, song song với nhau và lòng bàn tay hướng
xuống dưới. Tiếp đó dùng sức đưa hai tay xuống và quật ra phía sau lưng cho tới
khi không thể được nửa thì thôi. Bây giờ thì khoảng cách giữa hai ngón tay cái
và hai bàn tay lớn hơn khoảng cách đôi vai tựa như một chiếc thang nhỏ (nếu vai
rộng một thước thì khoảng cách đó 1 thước 20) và lòng bàn tay ở thế ngửa lên.
Tiếp theo đó lại đưa tay về phía trước như cũ, qua lại như quả lắc đồng hồ theo
đúng luật trên.
5- Tốc độ của động tác độc nhất nầy
bằng tốc độ đánh xa tay khi ta đi nhanh.
6- Lưỡi co lên đốc vọng suốt thời
gian tập.
7- Khi ta đưa tay ra phía trước
không dùng sức, đồng thời hít hơi vào. Khi quật tay ra phía sau thì dùng sức,
đồng thời thở ra. Cần phải đều đặng thuận theo tự nhiên, không nên dùng sức thở
mạnh. (người mới tập chưa quen, chưa theo được nhịp thở của đôi tay thì tự
nhiên hít thở dài theo lá phổi cũng không hệ gì)
8- Thời gian tập khoảng chừng nửa
giờ, bắt đầu từ mấy trăm lần rồi lên mấy ngàn lần. . . Mỗi lần tập nếu thấy mệt
phải ngừng ngay.
CHÚ THÍCH:
Khi quật tay hết sức về sau, tự động
khớp xương của ngón tay lúc thì hơi co, lúc thì hơi duỗi, nhất là sự co duỗi cổ
tay lại càng lớn.
VẤN ĐỀ PHẢN ỨNG:
Châm cứu mà phản ứng thì tập Xuất
Thủ phản ứng càng thấy rõ rệt hơn. Phản ứng ở chỗ khí huyết thay đổi.
Những người tập Xuất Thủ đúng cách,
chỉ sau vài ngày phản ứng ở vùng ngực, vùng bụng thấy nhẹ nhàng, chân thấy nóng
lên. Những chỗ trước kia máu chưa chảy tới đầy đủ, thì nay máu huyết lưu thông
đã được dễ dàng. Tam Tiêu cũng được thông suốt. Tam Tiêu theo Đông Y gồm:
Thượng Tiêu là phía trên miệng dạ dày. Trung Tiêu là giữa dạ dày. Hạ Tiêu là
phía trên bàng quang. Khi Tam Tiêu thông xuất, người tập Xuất Thủ thấy nấc cục,
đánh rấm, nhức tê, chướng đau, nóng lạnh và cảm thấy như sâu bọ cắn, rung động
thớ thịt v.v.
Người tập không nên e ngại, mà nên
lấy đó làm điều phấn khởi. Vì những phản ứng ở chỗ có lúc thấy bịnh đều là
chuyện rất bình thường, hữu ích, chỉ đòi hỏi ta không ngưng tổng kết, kiên trì
tới cùng thì mới có thể thay đổi được thể chất, chiến thắng được tật bệnh.
XUẤT THỦ TRỊ LIỆU CHỮA
ĐƯỢC BỆNH?
Tại sao Xuất Thủ có thể chữa được
bệnh? Mâu thuẫn chính trong cơ thể chúng ta là gì?
Đông Y quan niệm khí huyết rất quan
trọng đối với sức khỏe của con người. Khí huyết mà không luân chuyển thì sẽ
phát sinh hàng trăm bịnh tật, làm thay đổi từ lượng tới chất. Ngược lại, nếu
khí huyết thông suốt thì trăm bịnh cũng hết, tự nó biến đi. Căn cứ theo nguyên
tắc nầy thì Xuất hủ có thể làm thay đổi căn bản khí huyết, cải tạo được thể
chất. Ta nắm vững và hiểu rõ mâu thuẫn chính đó thời những xung khắc phụ thuộc
khác cũng sẽ được giải quyết hết.
BỆNH LÝ UNG THƯ:
Ung thư và bứu đều là kết tụ của khí
huyết, là hậu quả sự tắc trở không thông suốt, bởi sự lưu chuyển của máu không
vận chuyển nhanh như bình thường. Những biến hóa của chất lượng, số lượng máu
không đủ mạnh, nhiệt lượng tỏ ra yếu ớt khiến cơ thể không thể bài tiết hết,
tiêu thoát hết những chất chứa.
Luyện Xuất Thủ một thời gian, một
hay hai tuần, tùy theo tình trạng yếu hay mạnh của cơ thể, ăn uống sẽ thấy ngon
miệng, tăng triển được máu mới. Bả vai cử động được trơn tru, gánh nặng (sự
cứng đơ) ở phần trên được giải quyết. Hoành cách mỡ ở bụng chịu sự tác động của
Xuất thủ nên sự vận chuyển lên xuống được nhịp nhàng, linh hoạt, khiến cho giữa
hai cơ phận ruột và dạ dầy phát sinh được đọng khí. Đọng khí ở phần cơ tác dụng
hưng phấn và ức chế khí huyết khiến cho nhiệt lượng phát sinh, khích động cho
việc nhả cái cũ, nối cái mới, bổ xung huyết khí.
BỆNH CHAI GAN:
Chai gan tức là bị cứng, Tây Y coi
như gan đã chết. Tuy nhiên với Đông Y, chai gan còn cơ cứu vãn, vì chất lượng
dẫn đến cơ năng nầy bị suy kiệt, và cái chính yếu là động lực máu không đủ.
Bệnh gan sẽ khiến cho lớp cơ hơi ở bụng rất khó chịu, sinh đọng nước đọng hơi
trong đó mà không thể bài tiết hay tống khứ đi được ảnh hưởng tới sự bất ổn ở
dạ dầy, ở tỳ (lá mía), mật. Sự kiến hiệu của Xuất Thủ là có thể chữa khỏi được
bệnh chai gan và chứng Phục Thủy (đọng nước ở trong bụng) trong thời kỳ sau.
Còn những chứng viêm sủng lại càng không sợ nữa. Hễ tập Xuất Thủ mà đạt đến kết
quả có thể đánh rấm được ngay hay nức cục được nữa, sẽ rất đáng quý với những
người đang có bịnh. Và cơ thể yếu chỉ đây là cách chữa bệnh tốt nhất.
Lý do tại sao? Theo Đông Y Tam Tiêu
mà thông xuất thì sự thay củ đổi mới trong cơ thể cũng biến đổi.
Những động tác lúc co lúc duỗi theo
phương pháp Xuất Thủ làm cho khí huyết vận chuyển, mặt khác ăn được ngon thì bổ
sung được máu mới.
Những nơi như: Mũi, Miệng, Mắt, Tai,
Hậu Môn. . . đều nở nang thông xuất khiến gan có thể từ trạng thái ngưng trệ
dần dần được sống lại, không cứng, không chai. Chai biến thành mềm, mềm biến
thành chai đều là sự biến hóa. Đó là vấn đề tư tưởng thuần lý, không có tính
cách mê tín dị đoan.
Chúng ta nói chuyện gan bị chai, đó
là sự đấu tranh giữa hai lực lượng Mới và Cũ. Kết cục của đấu tranh, nếu lực
lượng Cũ vẫn chiếm ưu thế, tức là bệnh trầm trọng.
Ngược lại, nếu lực lượng Mới đã có
ưu thắng thì bệnh tình thuyên giảm, tình trạng cứng sẽ biến thành mềm. Sự công
hiệu của Xuất Thủ là đứng trước sự “cứng đơ”, chai cứng có tác dụng ủng hộ lực
lượng Mới trổi dậy.
BỆNH VỀ MẮT:
Xuất Thủ có lợi cho sự tinh tường
của mắt là điều hợp lý. Có những người bị cận 2 hoặc 3 độ, áp dụng phương pháp
Xuất Thủ một thời gian không cần đeo kiếng nữa. Có những người xem sách báo rất
vất vả vì không nhận rõ mặt chữ, chỉ cần tập Xuất Thủ là mắt tinh tường xem
sách báo dễ dàng hơn trước.
Tại sao vậy? Trong cuốn Nội Kinh có
nói: Mắt Được Sự Trợ Giúp Của Máu Mà Nhìn Được. Thì ra lại là vấn đề máu huyết.
Khi Huyết mà chạy không tới, dĩ nhiên sẽ gây ra bệnh. Trên dưới mà thông suốt,
khí huyết mà luân lưu, các mạch đều thông liền với nhau thì tự nó sẽ làm người
ta hết bệnh.
Quy luật phổ biến sau khi Xuất Thủ
là: Ăn ngon cơm, đi đứng dễ dàng, ngủ ngon giấc, đại tiện đều đặn. . . Chứng tỏ
sự thay Cũ đổi Mới trong cơ thể là sự hiển nhiên.
BÁN THÂN BẤT TOẠI:
Bán thân bất toại, huyết áp cao
trúng gió (Stroke), Viêm khớp xương thường đi đôi với nhau. Đó là khí huyết
trong cơ thể chúng ta chưa được thăng bằng, ảnh hưởng tới sự lưu thông, khiến
cho kinh lạc, cơ thịt khớp xương phải thay đổi.
Đặc điểm là mạch ở hai bên không
giống nhau, một bên cao (nhiều) một bên thấp (ít), đôi khi mỗi bên chênh lệch
từ 10 đến 20 đập. Thường thường lại thấy một bên chân tay có những phản ứng
như, đau, tê. Tuy nhiên, thực tế nhìn thì cả trên lẫn dưới đều bất ổn, ở phía
trên sung huyết thì máu không tới được ở phía dưới.
Xuất thủ có công hiệu đặc biệt với
chứng bịnh nầy. Tại sao? Xuất Thủ không những có thể chữa được, còn có thể
phòng ngừa được sự trúng gió (Stroke). Trúng gió (Stroke) là bởi lưu tại hai
bên bị trục trặc (hai bên màng tang) mạch máu bị tắt nghẽn nó ép hệ thống thần
kinh, hoặc mạch máu bị vỡ trong óc.
Đông Y có cậu: “Mạch từ gót chân trở
lên” Sở dĩ Xuất Thủ có tác dụng là nhờ Xuất Thủ mà gây được sự thay đổi ở mạch,
mà mạch chỉ tiêu biểu cho Ngũ Tạng Lục Phủ trong cơ thể. “Bán Thân Bất Toại” là
đầu nặng, chân nhẹ, tức là “Thượng Thực Hạ Hư”.
Lý do tại sao? Theo lý thuyết Đông Y
thì Tam Tiêu mà thông suốt rồi thì sự “Thay Cũ Đổi Mới” trong cơ thể cũng biến
đổi. Những động tác lúc co lúc dãn theo phương pháp Xuất Thủ thì làm cho khí
huyết hăng hái, luân chuyển mọi chỗ.
Hơn nữa tác dụng Xuất Thủ khiến ăn
cơm được ngon. Chất bổ dưỡng do đồ ăn cung cấp đã bổ xung được máu mới.
XUẤT THỦ VÀ SỰ THAY ĐỔI
CỦA MẠCH:
Bắt mạch là một phát minh của Đông
Y. Các nhà Y Học cổ xưa đã nghiên cứu, thực hành về mạch lý đạt được những
thành tựu huy hoàng. Từ sự biến hóa của mạch cơ thể hiểu được sự biến hóa của
Ngũ Tạng Lục Phủ, sự mạnh yếu của thể chất.
Sở dĩ Xuất Thủ có thể chữa được bệnh
tật, điều quan yếu là nó có thể cải tạo được thể chất, dĩ nhiên cũng có thể
thấy được số phản ứng đó từ trong mạch.
1-Bệnh Tim Huyết Áp Cao:
Nói chung, mạch nơi cao quá nhanh.
Huyết áp càng cao mạch đập càng mạnh. Bởi thế bệnh tim có liên hệ mật thiết với
áp huyết cao. Mạch bình thường thì từ 60 đập đến 80 đập, mạch đập kéo dài, có
mức khá sâu. Bệnh tim già yếu mạch sẽ xuống thấp dưới 60 và yếu, huyết áp thấp
thì mạch cũng yếu. Mạch đập nhanh và “trơn’ nổi. Đông Y gọi là “Tả Tâm Thất Bất
Giản”. Nếu tim đập chậm thì bệnh trên cũng có thể chữa khỏi.
2-Bán Thân Bất Toại,
Trúng Gió (Stroke):
Thường thấy hai bên mạch của bệnh
nhân khác nhau, đôi khi trênh lệch 20 đập trong 1 phút. Nghĩa là một bên không
thông suốt, một bên tăng áp lực, nhưng Xuất Thủ đều làm thay đổi được hết.
Những bệnh có mạch đập quá nhanh là
bởi máu không thông thương cho việc chở dưỡng khí, sẽ làm khí mất đi ở chỗ cần
phải tới. Đó là sự không đầy đủ của một thành phần cấu tạo nên máu mới. Xuất
Thủ làm cho bổ máu, (nói khác đi, theo Tây Y là mang dưỡng khí vào để tạo thêm
hồng huyết cầu), có tác dụng thông chở được khí.
Bổ máu như thế nào? Từ những cử động
kích thích, xoa bóp nơi dạ dầy, ruột. . . làm tăng thêm sự nhu động, khiến các
cơ quan tiêu hóa hấp thụ được chất dinh dưỡng.
Những bệnh có mạch đập quá chậm là
bởi sự lưu thông của máu bị trờ ngại và thiếu số lượng. Xuất Thủ khiến tứ chi
đều cử động và kéo theo sự chuyển động ở ngực, bụng khiến máu tụ được khai
thông, tản mát. Dĩ nhiên mạch máu đó sẽ được bình thường trở lại. Sự thay đổi
của mạch là sự thay đổi của kinh lạc, nhưng làm thế nào để thay đổi?
Mạch từ gót chân, mà trọng tâm của
Xuất Thủ lại là chân. Chân mà dùng sức thì như cây già mà được mọc rễ, như nền
nhà đóng được cọc khiến cho máu ở tại chân gây được tác dụng xoa bóp mà từ đó
rất dễ dàng thông với toàn thân thớ thịt, lớp da, lớp xương, xương tủy. . . kéo
theo sự thay đổi.
BÍ QUYẾT QUAN TRỌNG:
THƯỢNG TAM HẠ THẤT.
Thượng Tam Hạ Thất là nguyên tắt bất
di bất dịch, là bí quyết của phương pháp Xuất Thủ. Nếu luyện Xuất Thủ lâu năm
mà không nắm vững bí thuật, không theo đúng nguyên tắc thì công phu đó không
đạt được kết quả mảy may nào.
Vậy Thượng Tam Hạ Thất là gì? Là
trên Ba dưới Bảy là thượng thủ hạ thực, là nguyên tắc quy định rõ rệt mức độ
của sự hư thực và tỷ lệ của sự dụng sức.
Khi đứng trong tư thế Xuất Thủ thì
phần trên của thân mình để tự nhiên, nhưng lưng thì đứng thẳng và eo thì chắc
đó là thượng hư hay là trên Ba. Riêng về chân thì phải cứng trắc, bắp đùi cứng
trắc (Cân Nghi Thạch, Chi Nghi Trục câu 15 câu 16 phần đầu), đó là hạ thực hay
dưới Bảy.
Nói về động tác tay, khi đưa tay về
phía trước thì nhẹ nhàng tự nhiên, đó là Thượng Hư hay Thượng Tam. Nhưng khi
quạt tay ra sau lưng phải dùng sức mạnh, đó là Hạ Thực hay là Hạ Thất, gót chân
hơi nhón lên, hậu môn thót lại (câu 14 Công Nghi Để). Từ động tác tay mà nói ta
có thể nhẹ nhàng sang nặng. Nguyên tắc Thượng Tam Hạ Thất không những chỉ áp
dụng trong thế đứng của chân khi Xuất Thủ hay trong động tác của tay, mà còn
phải áp dụng tỉ lệ giữa tay và chân. Nghĩa là tay dùng sức bảy phần, tức là
Thượng Hư Hạ Thực, trên nhẹ dưới nặng. Tay cho nặng mà chân không nặng, như vậy
chỉ biết một mà không biết hai, biết có tay mà không biết có chân.
Không dùng sức, không có nghĩa là
hoàn toàn để lổng.
Cần dùng sức cũng không phải là toàn
bộ đều dùng sức.
Hoàn toàn buông lổng thì không gây
được tác dụng mà lại làm điều sai lầm. Sai ở chỗ chân buông lổng, tay lại hơi
dùng sức một ít, như vậy là đảo lộn nguyên tắc, là Thượng Thực Hạ Hư rồi.
Nguyên tắc Xuất Thủ là phải lưu ý
tới động tác ở tay, lấy động tác ở tay làm căn bản, lấy sức mạnh dùng vào động
tác ở tay làm gốc để phân định tỷ lệ giữa chân và phần trên của thân mình. Chân
với eo và lưng lại càng quan trọng hơn tay.
Điều nầy hơi khó hiểu nhưng nếu ai
đã học Thái Cực Quyền hay nghiên cứu Thuyết Kinh Lạc của Đông Y sẽ hiểu dễ
dàng.
Có thể giải thích một cách đơn giản
là tay trong động tác Xuất Thủ nhưng xuất phát của nó lại từ eo. Mà gốc của eo là chân. Nếu ở trên (Tay)
dùng sức dưới (Chân) không dùng sức, tức là mất trọng lực. Rất nhiều người chỉ
biết rằng ngã trên xe, trên tàu là do tình trạng mất trọng lực là không đạt lý.
Vì sao gây nên sự mất thăng bằng đó? Đây chính là đầu nặng, chân nhẹ. Hiện
tượng Thượng Thực Hạ Hư (đầu nặng chân nhẹ) cũng là tình trạng mất trọng lực,
rất nhiều bệnh kinh niên, mãn tính cũng là mất trọng lực, bán thân bất toại là
một tình trạng mất trọng lưc.
Sự công hiệu của Xuất Thủ là phương
pháp của nó giúp điều chỉnh sự mất trọng lực, lấy lại mức quân bình cho cơ thể.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ
DÙNG SỨC VÀ CHÂN:
Ở chân có nhiều huyết vi của Ngũ
Tạng Lục Phủ, huyệt Dung Tuyền nằm ở lòng bàn chân chạy tới tận thận tạng. Mỗi
khi tim đập mạnh, mất ngủ, xoa bóp huyệt Dung Tuyền là có thể chữa được bệnh
mất ngủ, lấy lại được sự bình tĩnh. Cho nên, dựa vào huyệt đạo ở chân, chúng ta
có thể chữa được những căn bệnh về Ngũ Tạng.
Sử dụng sức đúng đắn tức là điều
chỉnh, là chữa trị. Quan niệm “vạn bệnh nhất châm” là một điều phóng đại thái
quá. Đúng ra phương pháp châm cứu có thể chữa được nhiều bệnh và không chỉ giới
hạn chữa bệnh mà thôi. Riêng phương pháp Xuất Thủ có thể chữa được bá bệnh còn tùy
thuộc vào những cá nhân tập luyện, có xử dụng đúng như cách đã chỉ dẫn, có ý
chí sắt đá kiên trì vượt thắng bệnh tật đang gánh chịu hay không. Từ trước đến
nay rất nhiều người thực hành thuyết lý của Xuất Thủ đã phải ca tụng Xuất Thủ
quả thực là một phép lạ cho họ, và tổng kết lại có thể nói Xuất Thủ chữa được
bá bệnh không phải là ngoa /-
Quyển XUẤT THỦ LIỆU PHÁP nầy
được người Xử dụng và đã truyền đạt cho nhiều người, ra công ghi lại đầy đủ,
nay là lần thứ 3, có sự bổ túc một phần nhỏ đễ cho mọi người được dễ dàng thực hiện,
Kính tặng đến quí vị đồng hương, ngỏ
hầu giúp đở được phần nào trong lúc ốm đau bệnh tật.
Hoa Kỳ
ngày 2 tháng 6 năm 2005.