BUỔI PHÁT GIẢI THUỞNG “BÀI THƠ ĐẮC Ý NĂM 2008”                                             

CỦA BÁN TUẦN BÁO VIỆT LUẬN

                                                                                                  

Phùng Nhân

 

Trưa ngày chủ nhựt 8/3/2009, nhằm ngày Quốc Tế Phụ Nữ, bán tuần báo Việt Luận đã tổ chức một buổi phát giải thuởng “Bài thơ đắc ý năm 2008” tại Chesterhill RSL Club, số người tham dự tuy không được đông đảo như ban tổ chức mong muốn. Tuy nhiên rất ấm lòng người, khi nhìn thấy những khuôn mặt thân quen, cũng là những gương mặt đang gắn bó với nền văn hoá lưu vong nơi hải ngoại hiện giờ.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trang thơ trên báo Việt Luận do chị Trúc Quân phụ trách, mà trước đây ở Sydney nầy người ta biết đến Trúc Quân như một người soạn giả bên phía ca kịch cải lương. Nhưng kể từ khi Trúc Quân về cộng tác báo Việt Luận, thì có thêm trang thơ với tên là: Vườn Thơ Giao Cảm do chị phụ trách. Rồi cũng từ đó, mỗi năm chị đứng ra tổ chức trao giải thưởng một lần. Có mời được mấy vị giáo sư, cũng như những người am hiểu về văn chương ngồi lên bàn giám khảo.

Đây là năm thứ hai, Vườn Thơ Giao Cảm đã làm tròn bổn phận của mình. Nhưng năm nay ban giám khảo đã bình chọn ra được 12 bài thơ vào vòng chung kết. Sau đó mời bình chọn ra; giải Nhứt, giải Nhì, giải Ba và 5 giải Khuyến Khích.

Phải nói trong Vườn Thơ Giao Cảm của báo Việt Luận, do Trúc Quân phụ trách càng ngày càng phong phú. Điều đó đã nói lên trang thơ đã đáp ứng được sự mong đợi của mọi người, bởi trong tờ báo, ngoài tin tức thời sự, chánh trị, văn học ra. Nó phải còn có một trang thơ, để đọc cho vơi bớt nỗi nhọc nhằn, khi phải đối diện với bao chuyện đời nhức đầu căng thẳng.

Có lẽ nhờ vậy, mà trang thơ mỗi ngày thêm phong phú. Như một vườn cây ăn trái đã vào mùa, một khi đã có được người thợ vườn chuyên môn chăm bón. Chính nhờ công lao chăm bón đó, mà ngày hôm nay ban giám khảo như: cựu giáo sư Nguyễn Văn Chấn, cựu bác sĩ Nguyễn Thanh Sơn, nhạc sĩ Phạm Quang Ngọc cũng không phải khó khăn gì, khi ngồi vào chiếc ghế giám khảo của mình, để bình chọn ra những bài thơ hay đã đóng góp trong một năm qua. Cũng giống như một vườn cây trái trúng mùa, tất cả đều trĩu cành say quả.

Nhưng lựa làm sao; để bốc ra được một trái cây vừa chín, vừa thơm. Với đủ tiêu chuẩn đã đề ra, đó mới là điều khó khăn trong khi lựa chọn. Tuy vậy mà ban giám khảo kỳ nầy, đã lựa ra được những bài thơ hay, cũng giống như một người chủ vựa trái cây, khi cầm trên tay những trái cây rồi bỏ theo thứ tự trong giỏ cần xé không chút ngập ngừng.

Nhưng cô bác và độc giả của bán tuần báo Việt Luận hôm nay, phải hồi họp ngồi chờ, khi anh Phạm Hoài Nam chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ báo bước lên sân khấu để ngỏ lời cám ơn đến tất cả mọi người, đã nhín một chút thời gian vào buổi chiều chủ nhựt hôm nay, để đến chia sẻ sự thành công của ngày phát giải.

Công lao đó là nhờ chị Trúc Quân phụ trách trang trong suốt 1 năm qua, nếu chị Trúc Quân không lao tâm khổ trí, thì không thể có được ngày nầy. Cuối cùng Phạm Hoài Nam xin cám ơn mạnh thường quân đã bảo trợ buổi phát giải thuởng hôm nay, cũng như ban giám giảo và ban tổ chức đã tiếp tay với chị Trúc Quân, cũng như bán tuần báo Việt Luận đã tổ chức trao giải “Bài thơ đắc ý năm 2008” với ý nghĩa phục vụ cho bạn đọc, cho văn chương với tinh thần phụ vụ không biết mệt mỏi nầy.

Về mặt vật chất thì giá trị không có là bao. Nhưng về mặt tinh thần thì đã nói lên một niềm khát vọng của người văn thi sĩ sáng tác. Phạm Hoài Nam ao ước trong tương lai, tờ báo Việt Luận sẽ có đủ tài chánh, để tổ chức những cuộc thi sáng tác văn chương lớn hơn, phần thưởng cũng lớn hơn. Đó cũng là kỳ vọng của tờ báo, cuối cùng anh tâm sự nghề lám báo, là thực hiện được lý tưởng hoài bão nhỏ nhoi của mình. Chớ làm báo, cũng không thể làm giàu như bao nhiêu ngành nghề Business đang phát triển ở đây. Cuối cùng anh mong ước buổi lễ trao giải hôm nay được thành công như mọi người mong đợi...

Người MC điều khiển chương trình là bà Tô Châu, rất duyên dáng trong chiếc áo dài. Khi vừa bước lên giới thiệu chương trình, thì bà đã ứng khẩu đọc mấy câu thơ: Hôm nay mùng tám tháng ba, tôi giặt cho bà cái áo của tôi. Trước ý nghĩa câu thơ dí dỏm đó, làm cho mọi người đều cười lên khúc khích. Sau đó bà Tô Châu liền mở màn, phỏng vấn ba vị giám khảo, để chứng tỏ tài nghệ của mình, bà Tô Châu đã đặt ra những câu hỏi vô cùng hóc búa, cũng như đi thẳng vô cái nghề giám khảo chấm bài của mấy vị giáo sư, làm cho ông Chấn cũng phải giựt mình, sau đó mới ôn tồn giải đáp theo phương pháp vừa khoa học, vừa cổ điển để tìm hiểu nội dung cảm ứng của bài thơ.

Cuối cùng thì buổi lễ được công bố:

- Giải Nhứt trao cho Đặng Triều qua bài thơ (Khúc Đêm).

- Giải Nhì trao cho Đoàn Xuân Thu qua bài thơ (Chuông Ơi Đừng Reo Nữa).

- Giải Ba trao cho Phạm Huy Đương qua bài thơ (Trà Khuya Cuối Năm).  

Năm Giải Khuyến Khích được trao cho:

- Châu Marrichville với bài thơ Dãy Trời Mới. Vĩnh Hòa Hiệp với bài Quê Ngoại Thời Thơ Ấu. Từ Thắng với bài Trăng Thiên Di. Thương Hoài với bài Vệt Nắng Đường Sương. Nguyên Sơn với bài Lời Người Lính Trẻ.

 Tất cả những bài thơ chiếm giải hôm nay, là một khát vọng văn chương cho ngày mai. Cho nên người lãnh giải, cũng như người trao giải, đã thể hiện nét trân trọng qua cung cách trên gương mặt của mình. Trong số những người nhận giải nầy, có hai giải được chính tác giả nhận giải, đã trân trọng gởi bao thơ lại cho ban tổ chức, để gởi một số tiền nhỏ bé nầy đến người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang sống đời khốn khó ở quê nhà. Chính trong một phút giây ngắn ngủi đó, làm cho cả hội trường xúc động gần rơi nước mắt. Bởi nghĩa cử đó, đích thực là của văn chương, của người thơ, của người cầm viết. Họ đến với giải thưởng Vườn Thơ Giao Cảm của Trúc Quân phụ trách, không phải vì tiền, mà họ đến bằng cả tấm lòng, với những gì cao cả thiêng liêng hơn, có lẽ đó là hồn thơ đang réo gọi. Tôi ao ước nếu sang năm có tổ chức nữa, thì bán tuần báo Việt Luận, cũng như chị Trúc Quân đang phụ trách. Phải có phát kèm một giấy chứng nhận, cũng như bao nhiêu giải thưởng văn học từ trước tới giờ. Bởi vì dù lớn, hay nhỏ nó cũng là xuất phát chỗ đứng của văn chương. Cho nên; tấm giấy chứng nhận đó, nó không thể thiếu trong ngày phát giải. Mà nó là một sự khích lệ về mặt tinh thần, để cho người sáng tác “thơ”, họ có thể tự hào với những đứa con tinh thần mà họ đang ấp ủ.

Về phần Văn Nghệ phải nói bầu không khí rất ấm áp tuyệt vời, ngoài bài “Ải Nam Quan Ngày Quật Khởi” của nhạc sĩ Lê Đá, được ca sĩ Thiên Hương, Trần Hoàng, Lê Đá hợp ca đã làm sống lại hồn thiêng sông núi giữa chốn nầy, và còn rất nhiều tiết mục ngâm thơ, cũng như hát những bài ca hùng tráng.

Phải nói bản nhạc Ải Nam Quan Ngày Quật Khỏi làm mọi người bồi hồi xúc động, khi nghe một giọng hợp ca hùng tráng nổi lên. Chính tôi lại có một cảm tưởng rất lạ lùng, Lê Đá chỉ cần một bản nhạc nầy, cũng đủ sức để mang danh là người “nhạc sĩ”.

Khi tôi nghe hát những câu như:

Ải Nam Quan thân yêu ơi...

...

Ai đã chặt thân gầy của mẹ, ai đã chặt từng khúc xương cha...

...

Máu thành sông ra biển, của cha ông bao năm...

Phải nói những câu hát được thăng hoa, là nhờ giọng hát của Thiên Hương, đã đưa hồn thiêng sông núi đến tận lòng người. Một bài hát hay, nếu muốn nó được chắp cánh bay cao, là phải nhờ đến giọng hát, gương mặt, biểu diễn trong lúc trình diễn, và nhạc sĩ Lê Đá đã thành công khi biết chọn lựa ra những điều kiện đó.

Về ba giải thưởng của Vườn Thơ Giao Cảm năm nay, có một bài thơ “Chuông ơi! đừng reo nữa” của Đoàn Xuân Thu. Bài thơ nầy được chiếm giải Nhì, đây là một bài thơ với nguồn cảm xúc rất mới, và cũng rất cũ như một cái áo đã bị bỏ sót dưới đáy rương. Tuy nhiên được Đoàn Xuân Thu làm mới lại, qua bao cảm xúc ngậm ngùi, khi anh diễn tả lại thân phận của người con gái theo chồng. Mà mười hai bến nước, biết bến nào đục, bến nào trong để gởi thân vào.

Cũng như thân phận của người thuyền nhân vượt biển, phải trốn ra đi trong cảnh ngậm ngùi uất ức, giữa biển khơi sóng bủa mịt mùng. Rồi khi bước được lên phần đất tự do sống nơi xứ lạ quê người, cũng là ngày “má” nhắm mắt ra đi. Từng tiếng chuông điện thoại viễn liên đổ liên hồi, để báo một hung tin, của phía bên kia bờ biển Thái Bình Dương vọng lại. Má ơi; má không còn nữa! Một nỗi ngậm ngùi đau đớn tan thương.

Trong khoảnh khắc bùi ngùi đó, Đoàn Xuân Thu đã vẽ ra được giải khăn sô cho má, cho khắp nẻo quê hương đang tang tóc dưới bàn tay cai trị của chế độ cộng sản hiện thời, và cũng đồng thời vẽ lên bao cảnh chiều hôm. Khi bóng chiều buông xuống, mẹ có còn âm thầm ngồi gom lá đốt cho khói tỏa lên trời, để làm nguôi lòng trong lúc quạnh hiu. Cũng như con chim chỉ cần một lần bị ná, thì thấy nhánh cây công nào cũng tưởng cái giàn thung, nên Đoàn Xuân Thu đã cho chúng ta một cái cảm giám rất hồn nhiên, mà cũng là thực tế. Khi nghe điện thoại viễn liên thì chắc phải có điều gì, bếp lửa đời đã tắt, hay là má đã ra đi. Thôi thì chuông ơi đừng reo nữa...

Vậy thì chúng ta hãy cùng đọc với nhau, một vài đoạn thơ đã chiếm giải Nhì:

“ Con theo chồng,

Chỉ cách một bến sông;

Má nghĩ xa ngàn dặm

Chiều bến sông, con buồn ra giặt áo

Phía kia bờ, má ảo não đứng trông...”

Trong hồn thơ da diết, dường như đang réo gọi một điều gì. Một thân phận của người con gái, nữ sanh ngoại tộc của một thời nho giáo còn sót lại đâu đây, hay là tiếng chim bìm bịp gọi nhau trong cơn nước lớn. Hay đó là tiếng chim từ quy khắc khoải gọi về, điều gì cũng có thể. Vì hồn thơ quá lớn, nó mênh mông tràn đầy cảm xúc, gợi cho chúng ta nhớ lại non nước ở quê nhà. Có cây cầu nước bắt xuống con rạch nhỏ, hoặc ở con sông lớn Tiền Giang, hay Hậu Giang. Phía bên nầy đứng nhìn sang phía bên kia, chỉ thấy chập chùng khói sóng. Mà ở bên đó đã có mẹ già, đang tựa cửa nhớ con. Đó cũng là nỗi nhớ của đứa con gái theo chồng, mà cũng là nỗi nhớ đến những đứa con, đang âm thầm trốn khỏi quê hương ra đi trên chiếc ghe nhỏ xíu. Không chuẩn bị đủ lương thực, nước uống cho một cuộc hải trình nhưng cũng phải ra đi. Cũng như tấm thân của người con gái phải lấy chồng, khi mẹ cha định đoạt. Đó là một khổ thơ, đã nói và vẽ lên một cảnh đời trôi nổi, nhớ thương...

Qua đoạn thơ thứ ba, thì Đoàn Xuân Thu đã làm cho chúng ta giựt mình nhớ lại, trong cuộc đời tỵ nạn của mình. Trước sau gì cũng phải nhận một cuộc điện thoại viễn liên, nhưng trong cuộc điện thoại đó lại báo một tin buồn thảm khốc. Vậy chúng ta hãy cùng nhau đọc thử:

“Điện thoại viễn liên;

Bên kia trời-nỗi nhớ

Sao em lặng yên? rồi nức nở!

Ôi má ơi! Cả trời thương sụp đổ...

“ Con không về kịp, giờ phút cuối, má thương ơi!”

Phải nói một đoạn thơ, đã cho chúng ta hồi tưởng lại một đoạn đời. Ngày đó trong chúng ta, có ai nhận một cuộc điện thoại như vậy không. Theo tôi nghĩ đơn giản ắt là phải có, nhưng ngày đó chúng ta chỉ có bùi ngùi. Chớ làm sao hình dung ra được người em gái báo hung tin, đang cầm cái máy điện thoại gọi nhờ ở Ty Bưu Điện nào đó mà rưng rưng hai dòng lệ. Vậy mà hôm nay, khi đọc tới đoạn thơ nầy. Tôi đã hình dung ra cách nay không bao lâu, tôi đã hai lần nhận được một cú điện thoại có nội dung như vậy. Nhưng tôi chưa có được cảm xúc đau đớn như lúc nầy, mà tôi chỉ lo đi gởi tiền về để lo làm đám ma chay. Với dắt vợ con đi vô ngôi chùa Thiên Ấn ở Canleyvale làm lễ cầu siêu tụng niệm. Thế mà hôm nay, trong lúc ngồi viết bài nầy. Tôi lại hình dung ra má tôi, mỗi chiều đang ngồi tựa của bên nhà, phía sau là con rạch Cả Muồng đang cuồn cuộn chảy, để nhớ đến tôi. Một đứa con đang trôi giạt phương xa, đói no ấm lạnh chỉ một mình, không có mẹ một bên để cùng chia xẻ. Tôi cám ơn Đoàn Xuân Thu, đã dắt tôi về lại bến đị xưa. Bến phà Rạch Miễu – Mỹ Tho với bước chân trần, của những người mẹ chân đất, trên vai nặng oằn một gánh chuối, gánh khoai. Ôi những bà mẹ một đời đội sương, đội nắng để nuôi con ăn học nên người.

 

Còn nói về nhà thơ Đặng Triều, đã chiếm giải Nhứt năm nay rất là xứng đáng. Bởi anh là một nhà thơ, có một niềm cảm xúc rạt rào bất tận. Anh đã viết được nhiều thể loại, diễn tả chính xác nội dung. Khi anh công bố với độc giả một bài thơ, cũng là công bố một nỗi lòng, hay công bố một tâm sự riêng tư đang ủ kín.

Cũng chính vì vậy mà nàng thơ lại thúc giục anh phải viết ra, dù đó là “thực”, hay là “hư” đi nữa thì hồn thơ của anh cũng tràn đầy cảm xúc. Rồi tôi lại gặp anh trong ngày lãnh giải, cũng ngang tàng như những vần thơ. Cũng cái quần jean bạc màu thời gian, với chiếc áo sơ mi không thẳng nếp. Nhưng trong anh dường như đang ẩn chứa điều gì, chắc là thơ. Vì chỉ có nàng thơ, mới cho người thi sĩ những cảm xúc thật trong đời. Chớ còn những “nàng” khác, thì lại cho chúng ta những niềm đau buồn tủi.

Trong bài thơ Khúc Đêm, đã chiếm giải nhứt kỳ nầy, đã nói lên một điều gì u uẩn. Của một kiếm khách cuồng ngông, hay một người say đang vỡ mộng. Điều gì cũng có thể, bởi bài thơ đã tự nó nói ra. Cũng tự nó khắc hoạ lên một chuyện đời, mà Đặng Triều đang vẽ lại. Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau đọc thử vài câu, đây là một bài thất ngôn trường thiên không phân đoạn:

Đường vạn nẻo mịt mùng cát bụi

Ta đường nào lang thang đêm nay

Rượu cứ đổ cho tràn môi đắng

Em sầu Đông, mà ta sầu Tây...

Phải nói một giọng thơ rất ngang tàng, khinh bạc coi đời chẳng có chi. Chỉ có lấy ly rượu cay để gởi niềm tâm sự. Nhưng chính trong cái cõi ngang tàng đó, làm cho người đọc thơ anh lại nhận diện chính mình. Bởi ở nơi đây là đời sống tạm dung, tuy có người thành đạt về công danh sự nghiệp. Ngược lại cũng có người coi của cải cũng bằng không, mà họ đêm ngày nhớ về cố thổ. Trong hồn thơ của Đặng Triều sáng tác từ trước tới nay, anh thường hay bày tỏ uất ức những nỗi niềm, mà ly rượu đắng cũng là một người bạn đời cho anh tâm sự. Chúng ta thử đọc tiếp:

Có lúc thức, tưởng lòng muốn ngủ

Có lúc tỉnh, tưởng lòng như say

Một lần nằm mơ, ngàn đọa đày

Phố lên – phố lên – che bốn hướng...

Tôi chỉ trích một cách rất tình cờ, nên khổ thơ trên không theo niêm luật, mà tôi trích theo từng con chữ đã bật ra những hồn thơ khinh bạc. Điều gì đã làm cho Đặng Triều, có lúc thức tưởng lòng muốn ngủ, có lúc tỉnh tưởng lòng lại say. Rồi có lúc một lần nằm mơ, ngàn đọa đày. Lại có lúc phố lên, phố lên che bốn hướng. Quả thật ý thơ thật là siêu thoát, ngoài những con chữ tượng hình, hồn thơ còn bật máu để khóc cho một thân phận điêu linh, đang trôi nổi giữa dòng đời không bến đổ.

Quả thật lâu lắm rồi, tôi mới có dịp đọc được một bài thơ hay, nên lòng tôi bùi ngùi cảm xúc, nên tôi lo đi nấu vội một bình trà, mà từ trước tới nay tôi có thói quen là rất tiết kiệm thời gian. Là mỗi khi ngồi vào bàn viết, tôi phải viết một mạch cho xong rồi mới nghỉ. Nhưng đọc bài thơ Khúc Đêm của Đặng Triều, tôi phải dừng tay lại hết mấy lần. Khi đọc tới đoạn thơ:

Nỗi chết, phủ êm nền tháp cổ

Nỗi đau, bồi cứng bệ tương lai

Để đám cá cơm quỳ thẳng gối

Mượn áo, quá quan nở mặt mày!...

Phải rồi đây là giọng ca ngâm của người tráng sĩ, tráng sĩ hề đâu rồi tráng sĩ ơi. Trong phút giây hồn phiêu lảng, tôi cứ ngỡ như nhìn tạng mặt một người hiệp sĩ đang gò cương ngựa dưới ánh trăng, để khinh thường phường bọn tham quan ô lại, đang quỳ gối để kiếm miếng đỉnh chung. Mà chính tác giả, đã phổ hồn của mình vào bài thơ thật là dữ dội. Nếu người đọc biết cách ngắt hơi, thì ý thơ lại càng toát ra thêm mạnh mẽ. Tuy nhiên; cho dù có đọc bằng cách nào, thì bài thơ Khúc Đêm cũng cho ta một cảm giác êm đềm, hoặc bi phẫn hay đớn đau theo vận nước, thì cũng tùy thuộc theo tâm sự của mỗi người.

Sau đây là bài thơ Trà Khuya Cuối Năm đã chiếm giải Ba của nhà thơ Phạm Huy Đương, đây là một bài thơ lục bát. Thể thơ lục bát thì rất dễ làm, nhưng làm cho được một bài thơ hay, thì điều nầy rất khó. Bởi chính cái hồn thơ bình dị của lục bát từ trước tới nay, từ người học cao, cho tới người không học cũng đều làm được cả. Nó cũng như một chiếc áo bà ba, mới trông qua thì rất dễ. Nhưng muốn may nó cho vừa vặn với thân hình, thì thật khó vô cùng. Vậy thời tại sao bài thơ nầy được chiếm giải Ba. Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau đọc thử:

Mở đầu nhà thơ Phạm Huy Đương, đã nhập vai như thế nầy:

Cuối năm rót chén trà khuya

Mừng ta thêm được bốn mùa buồn vui

Rót thầm một chén ngậm ngùi

Người đi, kẻ ở, được, thua, mất, còn...

Đây là một ý thơ rất lạ, rất mới, rất khó gieo vần. Nhứt là câu tám của đoạn thơ, mỗi chữ đều ngắt ra riêng, để cho nó hàm súc thêm, và chuyên chở cả một trời mênh mông tâm sự. Bởi trong cuộc sống thường nhựt của chúng ta, cũng có thể rót chén trà khuya, để mừng thêm một tuổi, chớ ít khi chúng ta có cảm giác để mừng thêm được bốn mùa buồn vui...

Nhưng ở nhà thơ Phạm Huy Đương, đã cho chúng ta một sự hồn nhiên tuyệt diệu, mà ở trong đó đang lãng đãng đất trời, đang buồn tũi của kiếp tha nhân. Để rồi chúng ta bùi ngùi xét lại, người đi kẻ ở được thua mất còn. Nhưng tại sao ta phải bon chen, để ngoi lên cho được một chổi ngồi, nếu xét theo lẽ công bằng thì chúng ta chưa xứng đáng. Như vậy mà Phạm Huy Đương đã vô tư cho chúng ta một điều phán xét rất bất ngờ, cũng như một bài học về cách xử thế của chúng ta. Khi cuối năm ngồi ôn lại rót chén trà khuya, rồi bâng khuâng ngẫm nghĩ chuyện đời mà cư xử sao cho hợp lẽ.

Chúng ta cùng nhau đọc tiếp:

Mừng ta rót một chén ngon

Rằng tim vẫn nhịp – rằng hồn vẫn thơ

Rót chùng nửa chén bơ vơ

Bến xa, bờ cách, người vờ vật quên...

Đây những câu thơ lục bát rất ngậm ngùi, nó nói lên một niềm than trách. Nhưng không đến nỗi căm hờn, mà nó chỉ nhè nhè lâng lâng. Nên nó sẽ thấm sâu vào lòng người đọc, làm cho chúng ta rất đỗi sửng sờ. Khi nhớ lại bến xa, bờ cách người vờ vật quên.

Tại sao phải như vậy, vì trong đời sống luôn biến đổi. Làm sao tìm được một người luôn gắn bó với kỷ niệm thuở ban đầu, điều nầy quả là rất hiếm trong cuộc sống hôm nay, nên Phạm Huy Đương đã thở dài, rồi buông ra những lời áo não. Đó là trong những lúc tàn canh, khi đối diện với nỗi buồn, thì người thi sĩ phải làm gì bây giờ, chỉ còn có nước “rót chùng” nửa chén bơ vơ. Đây là một câu thơ, ý thơ vô cùng độc đáo. Tại sao ta phải hiểu nghĩa rót “chùng” nó khác hẳn với nghĩa rót “chừng” như thế nào. Phải có hiểu tận ngọn nguồn như vậy, thì chúng ta mới cảm nhận được hồn thơ.

Trước khi kết bài nầy, tôi thành thật cám ơn các tác giả bài thơ trúng giải, đã cho tôi có dịp đọc được những bài thơ hay.

Mong sao trong những năm tới, tờ báo Việt Luận tổ chức lớn hơn, hoàn chỉnh hơn, để tỏ lòng cám ơn với những người tham dự.

 

Phùng Nhân