.
|
|
Lê Văn Tất
(1917-1964)
Đạo hiệu mà cũng là bút hiệu: Thần Liên có nghĩa là sen mai. Quý vị ở trong nhóm Liên Hoa ở Thiên Thai am, núi Sam Châu Đốc đều có chữ LIÊN ở sau đạo hiệu.
- 1917: Sanh tại làng Long Sơn (Tân Châu). Cha là Lê Văn Diệu mất sớm, mẹ là Đặng Thị Huê.
- 1939: Dạy học tại Tân Châu.
- 1940: Đảm nhiệm vườn thơ Báo Tân Tiến (Sa Đéc).
- 1941: Bị nhà cầm quyền Pháp bắt cầm thù vì bài thơ “ Cái Võng Bố”.
- 1942: Sang Cam Bốt và Thái Lan.
- 1945: Trở về quê nhà tham gia kháng chiến.
- 1947: Lên sống đất Sài Gòn (công chức Tòa Đô Chánh).
- 1950: Đảm nhiệm vườn thơ cho tờ Việt Nam Tạp Chí Sài Gòn
- 1955: Thọ nạn xe hơi trở thành tàn phế (gãy xương sống và tê liệ, chỉ còn cử động đầu và tay).
- 1957: Về Châu Đốc sống đời phế nhân ẩn dật. Mở “lớp học làm thi hàm thụ”.
- 1958: Thành lập thi đàn “Sơn Hải Nguyệt Phong Vân” Châu Đốc. Thành lập “Bạch Hoa Viên” (vườn thơ lộ thiên trên núi Sam, có trồng nhiều hoa trắng).
- 1955-1964: Nằm trên giường bịnh làm thơ, viết sách, vẻ tranh.
|
|
.
|
Thi phẩm của ông đã xuất bản tính đến năm 1964:
-
Tiếng Lòng (Thơ, 1957)
-
Bến Ngân Hà (Kịch-Thơ, 1959)
-
Thần Liên Thi Tập (Thơ, 16 quyển, 1960)
-
Em Tôi Đốt Lá Rừng(Thơ, 1962)
-
Sương Gió Biên Thùy (Truyện diễn ca, 1963)
Ngoài các tập thơ ra, Thần Liên còn viết văn xuôi sau đây:
-
Niêm luật đường thi (1957)
-
Sự tích miễu Bà núi Sam (1958)
-
Sự tích chùa Tây An và mộ Phật Thầy (1959)
-
Đức Phật Thầy chuyển kiếp (1960)
-
Sự tích Lăng Ông núi Sam (?)
-
Pháp môn hành đạo của Đức Phật Thầy (1962)
-
Cảm nghĩ của người tàn phế làm thơ (1964)
|