VỀ
LẠI XÓM CẦU SẮT AN BIÊN.
CA GIAO.
Mẹ
tôi kể mấy tháng sau ngày đình chiến 1954, khi đó tôi còn ẩm ngửa, ba mẹ có chiếc
ghe nhỏ làm nơi tá túc của gia đình Vậy là anh chị em tôi theo ba mẹ trên chiếc
ghe chèo về thành bắt đầu làm dân kẻ chợ, đậu ghe ở xóm Cầu Sắt trong kinh
Ông Cò ( để phân biệt với cái cầu sắt ngoài ở chợ gà ) vì ở đó có bến
ghe, có những người quen trong xóm hướng dẫn giúp đở như bác Hai Đại Kiết, cô
Hai Thoại Hoa, cô Năm Ngọc Quang, Bác Hai Thắng ( chủ hãng xe Công Tạo ). Ba
tôi mở tiệm may trên bờ, mẹ tôi thấy ở bến có các ghe hàng về đậu mua bán đủ thứ
hàng hóa nên tham gia từ mua đi bán lại với vốn in ít, rồi dần dần làm vựa hàng
bông nho nhỏ, vậy mà là nguồn thu nhập chính nuôi sống gia đình, ban đầu ba mẹ
tính chỉ ở ghe tạm rồi mới chọn chỗ định cư, nhưng khi tôi chưa tròn một tuổi
Ba đã phải nhận nhiệm vụ ở địa bàn khác mà không thể đem vợ con theo, mẹ lại một
mình tần tảo nuôi con. Đến khi chiếc ghe đã không còn an toàn cho những đứa trẻ
đang lớn, mẹ xoay sở mua được mái lá trên bờ cất nép sau chiếc mang cá cầu bằng
bê tông, là chỗ mẹ thuê để chứa hàng, vì phía trước mặt còn nhà của bác Hai
Thông nên mỗi khi muốn lên đường nhà tôi phải đi qua một cái cầu nối bằng những
miếng ván vụn dài gần 5mét mới tới được chân mang cá cầu rồi leo ngang qua mới
lên được đường, khi cất lại nhà để ở mẹ tôi thay cầu bằng tấm ván to hơn, có vẻ
chắc chắn hơn, nhưng vì quá dài nên cái cầu ván cứ nhún nhẩy theo bước chân mà
không khéo thì lọt ngay xuống sàn cao hơn 4 mét, vậy mà chị em tôi chạy cứ như
không, có lẽ do đã được rèn luyện kỹ năng từ hồi còn chập chửng. Rồi bến ghe bị
đuổi vì ở ngay dạ cầu, không an ninh, mẹ tôi chuyển nghề bán bún, bánh xèo bánh
khọt, cơm tấm ở một góc hè phố An Biên suốt mấy mươi năm thành danh bà Sáu
cơm tấm An Biên.
Khi tôi 5 tuổi có thêm cậu em út, em tôi được 3 tuổi thì ba tôi mất khi ấy mẹ
chưa tròn 40 tuổi. Vậy đó mẹ góa con côi gắn bó với xóm Cầu Sắt được sự đùm bọc
của tình thân xóm giềng. Dòng kinh Ông Cò hồi đó nước còn trong mát, hàng ngày chị
em tôi ngụp lặn theo những cơn nước lớn nước ròng và trưởng thành cùng những
mùa nước nổi hàng năm.
Với chị em tôi cái mang cá cầu ( là dãy lan can bằng xi măng dài chừng hơn
chục mét rộng hơn 5 tấc ở bốn cạnh để bảo vệ cầu ) rất nhiều kỷ niệm, nó rất chắc
chắn và đủ rộng để làm sân chơi, vừa như bờ tường bảo vệ mái ấm của mẹ con tôi,
hồi là cô bé 5 - 6 tuổi cái khái niệm về cái chung cái riêng, nó như một ranh
giới phân biệt bên ngoài bên trong. Tôi thích mỗi chiều tối được mẹ cho lên ngồi
trên mang cá nhìn ngắm sinh hoạt phố chợ lên đèn người xe xuôi ngược, chị em
tôi cũng rất khéo léo bày trò chơi hay bán hàng quanh quẫn trên bờ tường làm nhẵn
nhụi trơn láng một đoạn trước nhà, đến nỗi mấy chú lục lộ mỗi khi lễ tết đi
quét nước vôi trắng nói: khúc nầy hết ăn vôi rồi. Những âm thanh từ là
khó chịu đến thành quen thuộc của ván cầu và các thanh sắt bị long đinh chuyển
mình ầm ầm ken két dưới sức nặng của nhưng chiếc xe nhà binh GMC chạy như chạy
giặc, làm nhà tôi cũng rung rinh theo. Chiếc cầu là nơi đi về của bao nhiêu thế
hệ học sinh trường nam tiểu học, trung học Thủ Khoa Nghĩa và Nguyễn Hữa Cảnh,cũng
là nơi nuôi dưỡng nhiều mộng mơ khi mỗi sáng mỗi chiều chị em tôi vừa làm công
chuyện ở sàn nước vừa ngắm những tà áo dài thướt tha của học trò, quen thuộc bóng
dáng thầy cô giáo đi ngang cầu, hồi đó hầu hết là đi bộ, cứ thấy cái đầu cao hơn
cả thành cầu thì biết là thầy Bùi Bửu Châu, cứ nhìn cái lưng áo dài thắt eo như
số tám nho nhỏ tóc dài thì biết là cô Trương Thị Cúc, tóc ngắn nhanh nhẹn thì là
cô Võ Hồng Phi, thướt tha uyển chuyển là cô Đặng Thị Tùng, che dù đi như múa thì
đó là cô Nhan Thị Giáo, thầy Thuận pháp văn, thầy Tấn, thầy Trứ, thầy Ba, thầy
Khương, thầy Đấu, cô Hạ Tùng, cô Trâm, cô Quang, thầy Hà…và nhiều nữa, nhưng tôi
thường mong ngóng là cô Nguyễn Thị Giên, cô thường mặc bộ đồ dài trắng hoặc màu
nhạt rất nhả, tóc bới, che dù xách cặp táp, mang kính râm là hình ảnh thần tượng
của riêng tôi, dù không được học với cô nhưng chính cái dáng mực thước trang
nghiêm mà dịu dàng của cô đã hình thành trong tâm tưởng đứa con gái nhỏ là tôi
lúc bấy giờ một ao ước âm thầm và đó cũng là động cơ để tôi chọn nghề sư phạm đi
làm cô giáo.
Rồi theo thời gian cái tên Cầu sắt trong hay là cầu kinh Ông Cò dần
được thay bằng tên cầu sắt An Biên khi ở một góc ngả tư nơi vốn là khu vườn và
ngôi nhà mái ngói của ông Bảy Tịnh hình thành một tòa lầu ba tầng đồ sộ tầng trệt
là cửa hàng kinh doanh, tầng lầu được mang tên là khách sạn An Biên nổi tiếng
sang trọng của cả vùng, thời đó khi mấy gánh cải lương đại ban về Châu Đốc hát ở
rạp Tân Việt thì hầu hết đào kép nổi danh như Thanh Nga, Út Bạch Lan, Thành Được,
Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Bạch Tuyết, Thanh Sang…, ca sĩ như Phương Dung,
Thanh Tuyền, Hùng Cường, Duy Khánh…diễn viên như Kim Cương, La Thoại Tân, Tùng
Lâm, Phi Thoàn …đều tới ở khách sạn An Biên, đặc biệt phòng hạng nhất là phòng
số 5 ở ngay góc đối diện nhìn xuống nhà tôi, nhờ như vậy mà tôi dù còn nhỏ xíu
nhưng có lẽ dễ thương nên hay được nựng nịu tiếp xúc với rất nhiều danh tài
trong giới nghệ sĩ, mẹ tôi kể có lần vợ chồng Thành Được- Út Bạch Lan còn ngỏ ý
xin tôi làm con nuôi.
Hàng xóm hay nhắc chuyện mẹ giỏi giang cứu mấy chị em tôi thoát chết trong gang
tấc, về sự cố cái hồi xóm bị hỏa hoạn lúc tờ mờ sáng lúc ấy mẹ đang đi chợ lấy
bún về bán. Do nhà bác sáu Hiệp cách nhà tôi có 2 cái là nhà của chị Năm Hạnh và
ông ba Thanh, bác làm nghề sửa xe hơi, cầm đèn dầu bị phựt xăng xe nhà binh, lửa
bùng lên rất mạnh, nên chỉ mấy phút thì ngọn lửa tràn tới cháy sụp cây cầu ván
và thiêu rụi căn nhà lá ngay lúc mẹ con tôi vừa qua khỏi mang cá cầu, lửa nóng
rát mặt mà chị em tôi còn chưa tỉnh ngủ, khi nhớ lại mẹ cũng không giải thích được
sức mạnh thần kỳ nào giúp mẹ chạy được từ ở chợ về trong vòng mấy phút bồng chống
3 đứa con nhỏ còn say ngủ thẩy ra ngoài mang cá cầu, khi ấy mẹ đang mang thai đứa
em trai út, lớn lên biết phân tích, tôi nhớ về sự kiện ấy như một một phép mầu
linh thiêng. Sau trận cháy tòa có xử Bác Sáu phải bồi thường nhưng bác nghèo quá
lại bị phỏng nên hàng xóm không nở, Bác bán nền nhà rồi chuyển đi luôn, còn bác
Hai Thông phía trước bán nền cho mẹ đi về quê, mẹ tôi cất nhà mới lớn hơn thay
cột tràm bằng nống đúc, vách lá bằng vách ván, mái lá bằng tôn, cầu ván được
thay bằng một khoảng sân rộng, dãy mang cá cầu thành hàng rào, nhưng vẫn phải
leo qua mang cá cầu để ra đường. Cũng không nhớ đích xác cái mang cá cầu bị phá
mất năm nào, hình như là hồi Tết Mậu Thân, xóm cầu sắt An Biên nhà tôi lại cháy;
lần nầy mẹ tôi cất lại nhà đúc bê tông và cái mang cá cầu không còn cản trở nên
nhà tôi có mặt tiền ngay ngả tư rất đẹp. Xóm An Biên sau trận cháy tết Mậu Thân
lại đổi rất nhiều chủ mới giàu có, mua nền cất nhà lầu cao tầng. Mẹ tôi kể nếu
tính cả hồi ở chỗ cũ, mẹ đã 4 lần bị cháy nhà, đáng phục là lần nào mẹ cũng cấp
bách nhưng mẹ mang theo được của để dành nên dù nhà và tài sản cháy rụi mẹ vẫn
có lưng vốn để làm lại, có lẽ mẹ đã trãi qua nhiều tai biến chiến tranh nên khả
năng ứng phó cũng được rèn luyện.
Rồi sau 30 tháng 4 năm 1975 trong xóm lại có đợt thay đổi chủ. Nhà tôi dù không
hề muốn nhưng tình thế đẩy đưa, năm 1977 Pôn Pôt liên tục pháo kích, cả xóm nằm
trong tầm pháo, cái âm thanh rầm rập trên cầu sắt lúc nửa đêm và tiếng kêu khóc
của những đoàn người chạy vì sợ cáp duồn khiến bệnh tim mẹ tôi khi ấy trở
nặng nên phải sơ tán mẹ về quê. Rồi nhà tôi bị trúng pháo, may mà hôm đó tôi đi
dự Đại hội MTTQ tỉnh ở Long Xuyên, trái đạn cối 81ly tuy không nổ nhưng cũng đủ
sức xuyên thủng cả ba tấm bê tông từ nóc sân thượng xuống lầu và sàn nhà tôi,
đường đi của đạn xuyên ngang qua bàn viết của tôi làm cháy xém một góc chiếc
bàn gỗ và sách vở trên bàn, giờ ấy hàng ngày tôi hay ngồi soạn bài cho các tiết
dạy chiều, đường đạn ghé ngang qua bẻ cong thành hình chữ V chiếc giường sắt cháy
xém và tung tóe gòn chiếc gối mà em tôi vừa nằm nghỉ trưa, may mà đã được cảnh
giác nó nghe tiếng pháo đề ba nên phản ứng nhanh kịp xuống sàn cũng vừa
lúc cát đá ào ào đổ xuống cùng với khối lửa của đầu đạn pháo xẹt xuống đám bùn
trước mặt. Chị em tôi lại thoát chết, thế là không thể ở nhà, tôi vào trường Việt
Hoa ở tập thể, em trai tham gia vào đội cứu thương của thị đoàn. Nhà khóa cửa,
rồi cho thuê, sau đó tôi về ở nhà chồng, em tôi học đại học thành phố, mẹ tôi và
chị về an dưỡng ở quê, nhà bỏ không xuống cấp nên đành phải bán. Điểm lại xóm cầu
sắt An biên bây giờ người ở cố cựu chỉ còn con cháu của bác hai Đại Kiết và cô
Hai Thoại Hoa và sự tồn tại của khu phố An Biên để định hình cảnh cũ..
Rồi kinh Ông Cò xuồng ghe không đi được, dòng nước bị nghẻn trở nên cạn kiệt, nó
chỉ còn chức năng của một cống thoát và chứa chất thải, bị ô nhiễm nặng nề, thế
là chiếc cầu sắt rồi đến con kinh Ông Cò đã bị xóa sổ. Khách sạn An Biên sau giải
phóng được chú Năm Thạnh là chủ nhân vốn là cán bộ cách mạng hiến tặng để làm
nhà ở tập thể cho giáo viên. Bây giờ cái tên xóm cầu kinh Ông Cò, rồi cầu
sắt An Biên cũng theo đó mà dần bị quên đi. Mới đây tôi nghe tin tên đường
Thượng Đăng Lễ mà gọi cho đúng phải là Thượng Đẳng Lễ được thay tên khác. Tôi
thấy treo bảng tên đường Sương Nguyệt Anh; cũng ngộ, tên mới nầy cũng đã bị nhạy
đi giữa Anh hay Ánh là bút danh của nữ sĩ Nguyễn Ngọc Khuê con gái của cụ Nguyễn
Đình Chiểu, ngộ hơn là người ở tại chỗ còn chưa hay tên đường đã đổi, chưa hiểu
tại sao phải đổi(!). Thế là con đường xưa em đi giờ đã đổi tên rồi…
Hơn 50 năm, một nửa thế kỷ rồi, tôi hay về ngồi ở quán mì Thanh Danh nhìn lại xóm
cũ không còn một chút dấu vết xưa, chỉ là trong tâm thức như vang lên tiếng ầm ầm
của cái nhà máy đèn mà đến lúc dời đi để xây văn phòng điện lực như bây
giờ, phải một thời gian cả xóm mới quen giấc ngủ vì cái sự im ắng thiếu tiếng chạy
máy đèn. Còn phía đối diện là cột đèn sắt cao to chắn ở ngả tư có những
bóng đèn điện chiếu sáng cả bốn phía, hồi đó chị em tôi rất thích học bài làm bài
ở mang cá cầu bằng ánh sáng đèn nầy hắt sang từ bóng đèn tròn rồi đến đèn nê ông,
vừa sáng vừa mát có lẽ vì nhờ vậy mà đứa nào học cũng giỏi, hồi đó hầu hết nhà
dân còn xài đèn dầu. Rồi tôi định vị trong trí hình ảnh cái cầu sắt và dãy
mang cá cầu; cái góc phố An Biên mà mẹ con tôi bán cơm tấm trãi bao
gió mưa, ngập lụt. Nhớ niềm vui trẻ thơ thích ngụp lặn vào các mùa nước nổi ở khu
Bảo trợ nhi đồng và chung quanh Bồ đề đạo tràng là vùng ngập sâu nhất
nên xuồng và xe lôi cùng xuôi ngược, vừa là bãi tắm cho dân chúng rất đông vui.
Nhưng nhớ nhất vẫn là ngôi nhà số 192 đường Thượng Đăng Lễ của mẹ con tôi với
biết bao kỷ niệm thuở ấu thơ và một thời thiếu nữ, hiện đang là cửa hàng điện
thoại của Viettel bề thế.
Con kinh, cầu sắt không còn thay vào là đường nhựa rộng thoáng nhà phố to đẹp hơn,
Thương hải biến vi tang điền mà, thay đổi để tiến bộ là tất yếu của cuộc
sống, xóm cũ của tôi tất cả đã đổi thay, nên xóm xưa chỉ còn là hoài niệm đẹp của
riêng mình tôi, thế thôi./.
CA GIAO