Trang Chính    Hình Ảnh    Bút Ký    Truyện Ngắn    Truyện Thật Ngắn    TG & Tác Phẩm    Thơ    Di Tích Lịch Sử và Danh Nhân    Đời Sống: Phong Tục & Khoa Học    Sân Khấu/Nghệ Thuật    Hộp Thư    Nhắn Tin    Tin Tức Thân Hữu    Tin Vui    Phân Ưu    SK và Gia Đình    Lá Lành Đùm Lá Rách    Vui Cười    Ẩm Thực/Gia Chánh    Trang Xuân    Cùng Tác Giả   


CĂN NHÀ “LIÊN HIỆP QUỐC”.

CA GIAO.

 

1. An cư

Tôi đạt được mơ ước cả đời, có một ngôi nhà ở thành phố để đưa vợ con vào, chấm dứt cảnh độc thân tại chỗ, làm quản gia cơ quan, chạy đi chạy về một kiểng hai quê.

Vậy mà cũng phải mất một thời gian tôi buồn nẫu người, cho rằng mình vận rủi. Số là buổi trưa tôi và Tâm bạn cùng phòng ngồi nhâm nhi cà phê, động lòng trắc ẩn vì bà già bán vé số, nên rủ nhau vét tiền chia hai lốc vé số 60 tấm của bà. Kết quả ba mươi tấm vé trúng độc đắc nằm trong tay Tâm hết 29 tấm. Tôi chỉ được một tấm, do lộn.

Tâm tậu nhà mới mặt tiền, căn nhà cũ đang ở trong ngõ cụt, thừa ra. Anh hào phóng sang lại cho tôi chỉ nửa giá, lại cho trả chậm.

 Vợ tôi mừng hơn ai hết, an ủi tôi rằng: “Trong cái rủi lại có cái may”. Còn ba tôi thì nói : “Âu cũng là cái số !”. Nhà yên tĩnh, không cần sửa sang gia cố gì, năm người gia đình chúng tôi chính thức là cư dân thành phố, số nhà đội hai cái “xuyệc”, ở xóm “Liên hiệp quốc”, tên thường dùng của xóm.Tôi thôi buồn, ngộ ra rằng mình vậy là cũng tốt số, và vì có được người bạn tử tế.

 

2.  Cư dân “liên hiệp quốc”

Bây giờ qua hơn một năm làm cư dân Liên hiệp quốc tôi đã khám phá được nhiều điều thú vị ở nơi ở của mình (vì sẽ nhắc tới nhiều lần, tôi xin được viết tắt LHQ và không đóng mở nháy nháy). Gần trăm căn nhà ở khu phố 5 này sống khá gắn bó, hầu hết là dân lao động và công nhân; nhà to nhà nhỏ, phần lớn là nhỏ; nhiều lớp xoay theo khối chữ nhật mà trung tâm là ngôi biệt thự đồ sộ chắn ở cuối ngõ cụt. Chỉ cần nhìn qui mô kiểu cách có thể biết vai vế chủ nhân và toàn khu vực là cơ ngơi của một quan phủ thời Pháp, chừng mươi năm nhà vắng chủ và có lẽ vị trí khá biệt lập nằm ở khu ngọai ô nên chính quyền bỏ sót một thời gian khá dài thì chung quanh đã thành cả khu dân cư người ta cứ mặc tình che lều che chòi, rồi thành nhà thành phố theo ý thích và khả năng tài chính của họ.

Còn dân nhập cư không có nhà cửa thì tấn công tới hành lang, đại sảnh và bên trong biệt thự.  Tên LHQ có do nguồn gốc của số cư dân này Họ có cái chung là tứ cố vô thân, thất cơ lỡ vận., họ ở trong khu biệt thự có cả Khmer, Ấn Độ, Tây, Tàu, lai nhiều dân tộc phân biệt bằng màu da màu tóc, có cả người thiểu số… già có, trẻ có; cả trai tứ chiếng, cả gái giang hồ, trẻ lang thang, học trò nghèo, tật nguyền, có cả người trí thức… Chủ nhà ở nước ngoài ủy quyền lại cho thân nhân là ông Tư quản lý và sử dụng giấy tờ bằng khoán hợp pháp hẳn hoi, tôi có được xem từ chỗ ông Tư. Cứ làm một bài toán đơn giản : Khu đất, ngôi nhà tính giá không dưới hàng mấy nghìn cây vàng. Nhưng ông Tư không có ý đòi lại, ông đã có ý kiến với chủ nhà về sự an cư lạc nghiệp của hăng trăm gia đình hiện nay trên đất sở hữu là cách tích phước cụ thể nhất. Nhưng phải bảo vệ ngôi biệt thự như một di sản kiến trúc gần trăm năm tuổi, tài sản bên trong nội thất dĩ nhiên là không thể bảo quản với bao biến cố, nhưng có điều mà ông Tư rất vui và tôi thì mừng vì hầu như kiến trúc hoa văn rất đẹp của biệt thự vẫn còn nguyên vẹn từ trong nội thất và bên ngoài, kể cả mái ngói còn đỏ roi rói.

Hàng xóm kể lại, cái hồi ông Tư chưa về, cứ đêm tới là giặc chòm nổi lên ở đó, phường xã cũng nhức mình mà không dẹp được, cứ xua thì tan, mà vắng thì họ lại về. Bây giờ nhà LHQ sổ thường trú một người, mà sổ tạm trú hơn ba mươi, lại thường được tuyên dương trong những lần sinh hoạt tổ dân phố. Ông Tư từ chối báo cáo điển hình ở thành phố. Tôi thực sự khâm phục sự tự giác, tính tổ chức của nhà LHQ. Mỗi người tuỳ thu nhập tự nguyện công khai đóng góp; thằng Thắng học trò làm thư ký, ông bà Hai bán vé số làm thủ quỹ, góp tiền hàng ngày. Tiền để chi điện, nước, sửa chữa nhà, làm phúc lợi chung trong nhà, giúp người đau yếu. Có lúc không đủ, ông Tư đi vận động hộ giàu hoặc ra Mật trận phường xin hỗ trợ. Rồi ông động viên “nỗ lực hơn, xin là nhục, phải vươn lên tự sống, phải tích luỹ để còn ra riêng…”.

Mỗi người ở nhà LHQ đều không muốn kéo dài sự bất hạnh nên họ đã tự lực được, và như vậy họ đã vượt lên nỗi bất hạnh riêng của mỗi người, khi dủ sức  Tôi đang muốn tìm hiểu về những ngốc ngách tâm tình của cập “Thị Nở – Chí Phèo”- biệt danh của anh Đô, chàng vác mướn và cô Ni lượm bọc. Về hoàn cảnh éo le của anh chàng lai An Độ đang chạy xe ôm cộ Lụa lỡ làng đang nuôi con mọn…Tôi càng thấm thía tình người và cảm phục ông Tư với biệt danh “ông U - Than”.

 

3. Tình già

Nổi bật và đang chú ý nhất trong cư dân LHQ là ông bà Hai bán vé số. Phong thái của ông bà không lẫn vào đâu được trong nhà ấy. Mực thước, điềm đạm, mô phạm ở ông; hiền hòa phúc hậu ở bà. Màu trắng họ thường mặc, kính trắng họ mang… tại sao họ lại rơi vào làm cư dân LHQ?

Tôi lân la tham gia vào bàn trà của ông Tư với tình láng giềng. Rất nhanh, tôi biết ông Hai đúng là nhà giáo, là hiệu trưởng hưu trí. Nhưng tuyệt nhiên không biết vì sao ông ở đây. Chính ông yêu cầu tôi không nên tò mò, khi nào cần ông sẽ kể cho nghe. Tôi đành chờ thôi. Tôi năng lui tới vì thực sự muốn nghe sự uyên bác và lý sự đời của hai ông già mà tôi ngưỡng mộ. Chính ông Tư đã đưa hai ông bà về. Nhìn họ đối xử với nhau mà tôi thèm, nhiều lần tôi suy bì vợ tôi về sự chăm sóc, thấy bà hai mà chẳng noi gương. Vợ tôi cũng công nhận : “gừng càng già càng cay”.

Rồi một hôm ông Hai ngã bệnh phải nhập viện. Tôi cùng ông Tư đi thăm theo lời nhắn ông muốn gặp tôi.

Tôi đến, ông mừng và tỉnh táo; sau hồi thăm hỏi ông ra hiệu cho tôi lại gần. Ông đưa cho tôi quyển sổ tiết kiệm nói là ông mang theo để lo hậu sự; giờ ông đi trước, ông nhờ tôi giữ phần còn lại để lo cho bà. Đề nghị tôi nếu được, nên rước bà về ở nhà tôi, bà không cần đi bán vé số nữa. Ông nói thấy vợ tôi hiền hậu, các con tôi ngoan và tôi ông tin được. Tôi cảm động muốn khóc, hứa sẽ làm theo lời ông. Ông có vẻ xúc động và mệt. Ở tuổi bảy mươi lăm, sống khắc khổ và tâm không yên, khi có sự cố, sức khoẻ xuống rất nhanh. Ông nói với tôi chắc lần này ông không qua khỏi. Rồi ông lại đưa cho tôi một quyển số bìa đen, ông nói đây là điều tôi muốn biết, ông cho phép tôi sử dụng để viết truyện, nên viết để cảnh tỉnh sự bất công của người đời về những định kiến hẹp hòi ích kỷ.

Tôi bối rối từ chối “Cháu vì tò mò, nhưng sẽ không dám mạo phạm”.

Ông muốn tôi hứa viết truyện của ông phải lý giải: người già cũng có tình yêu và có quyền yêu. Tại sao cứ phải bắt người già hy sinh cho uy tín, danh dự của gia đình con cái, nhất là con cái thành đạt.

- Đây là nhật ký của tôi, viết kể từ khi bị lũ con từ bỏ, bị gọi là “lảo hâm”.

Ông Tư nãy giờ mới lên tiếng :

- Chú cứ nhận và cố làm theo ý ảnh đi, tụi tôi cũng đã bàn với nhau cả rồi, đừng ngại.

- Vâng, cháu xin cảm ơn chú.

            Bà Hai nãy giờ ngồi bóp chân cho ông, bà đang khóc.

- Tất cả cũng tại tôi, làm cho ông ấy vạ lây.

Bà Hai lên tiếng, giọng nức nở.

- Mình cũng lại tự trách nữa rồi, tôi đã nói hết nếp, tẻ rồi, đừng vậy nữa tôi buồn.

Bà vội chậm nước mắt, đưa nước cho ông uống. Ông lấy tay lau nước mắt còn đọng trên má bà “Cười đi nào”… ông chọc bà…Ôi tình yêu thời tóc trắng… Trông ông bà thật hạnh phúc. Tôi lặng lẽ rút lui.

Đêm đó tôi đọc say sưa quyển nhật ký để biết rằng : Ông Hai, nhà giáo ưu tú, phải từ bỏ gia đình quê hương, chỉ vì có bốn đứa con chức phận lớn, dâu rể danh giá, không chấp nhận chuyện ông già bảy mươi tuổi tục huyền vối người đàn bà năm mươi tuổi, vốn là nhân viên phục vụ. Mặc dù đã qua hai lần tai biến, ông được bà chăm sóc đỡ nâng, thậm chí bà chấp nhận vai trò người làm công, để được gần gũi, chăm sóc cho ông.

Nhưng ông không chịu được sự mắng mỏ, tội tình của lũ con ông với bà. Thế là hai người ra đi, lận đận một năm thì gặp ông Tư đưa về gắn bó với nhà Liên Hiệp Quốc.

Rồi ông Hai mất, tôi phân vân về việc có nên cho các con của ông biết không? Ông đã dặn là không. Nhưng lòng tôi cứ không yên, tôi bàn với ông Tư tìm cách xem thái độ của họ rồi tính. Thế là tôi đóng vai cháu họ xa ở nước ngoài về, điện thọai hỏi thăm ong qua người con cả đang là viện phó một viện nghiên cứu ở Thủ Đô, sau một hồi căn vặn về mối quan hệ của tôi, ơng con cả phán một câu : “Ông ấy đi chơi xa rồi, lâu lắm mới về”. Tôi thả thêm dây thăm dò :

- À chắc là ở thành phố. Được rồi, tôi có địa chỉ…

- Thế thì cứ tới đó mà thăm. Vớ vẩn!

Ông ta cúp máy. Tôi biết ông Hai đúng, ông xem như mình chẳng có đứa con nào, thật vậy. Tự dưng tôi buồn rũ, thương ông một đời ở vậy nuôi dạy gầy dựng cho lũ con, hai mươi năm đằng đẵng…

Nhưng tôi cũng mừng vì ông thực sự hạnh phúc lúc cuối đời, với tình yêu của mình.

Tôi thích câu thoại trong tuồng cải lương “Tấm lòng của biển” cậu Tấn hỏi chị mình: “Con cái đã lớn, cha mẹ đã già, ai phải hy sinh cho ai?”. Tôi lẩm bẩm.

 

4. Ông  “U - Than”

Cứ nhìn cung cách ông Tư quản lý cư dân LHQ, biết ngay ông là bộ đội. Thực vậy, ông có cấp hàm Đại tá, ông từng là Chính ủy. Quắc thước, đẹp lão, xởi lởi yêu đời… ông đã có một thời trai trẻ sôi nổi oanh liệt lắm. Tôi đoán như vậy.

Quả tình, kho tàng sống về chiến tranh mà tôi khai thác ở ông như không vơi. Nhưng mà chuyện gia đình vợ con không nghe nhắc tới. Tôi thì dù rất muốn nhưng không dám gợi. Một lần vợ tôi thật thà hỏi : “Sao không nghe nhắc đến thiếm bao giờ ?”. Ông chỉ nói nhỏ : “Chết lâu rồi”. Biết vậy. Tôi khám phá ông hay ngồi uống trà ngắm trăng một mình những khi trăng mọc muộn, rất khuya. Tôi lại có cớ khó ngủ, trời oi bức nên đi dạo mát, tình cờ thấy ông còn thức… tôi cũng tập uống trà, cũng tập ngắm trăng, mà trăng muộn đẹp thật !Vài lần, nhiều lần, kẻ có lòng người không phụ. Cũng vào một đêm trăng, tôi lên tiếng :

- Màu vàng úa của trăng muộn buồn quá hả, chú Tư ?

            - Ừ, nhưng mà đẹp.

            - Coi bộ chú thích trăng muộn.

- Ừ, nó ý nghĩa lắm, với tao nó là kỷ niệm không quên.

-         Chắc là kỷ niệm tình yêu.

-         Ừ, tình buồn mang theo suốt đời.

Tôi thấy ông như yếu đuối, lãng mạn khi ông ngã người nhìn sững lên trời, trăng sáng vằng vặc, vài  chùm mây trắng mỏng lãng đãng bay bay.

- Cô ấy đang nấp trong mây và đang nhìn xuống, có cả thằng bé nó đẹp như thiên thần … ông chỉ lên trời nói như chìm trong hồi tưởng và kể:

Cô ấy là bác sĩ từ Hà Nội tăng cường về  là nữ lại trẻ đẹp nên nàng thành báu vật của đơn vị, ai cũng muốn chăm sóc, nhưng nàng rất rõ ràng trong thái độ để mọi người thấy tình cảm nàng dành cho tao. Tao lúc đó là chính trị viên tiểu đoàn. Như là định mệnh, tao có cuộc họp ở tổng bộ, chuyến về tổ chức kết hợp phân công và giao cho tao nhận người mới và đưa cô ấy về đơn vị ban đầu tao còn che dấu tình cảm của mình, tao đã đấu tranh tư tưởng để giữ khoảng cách, kể cho nàng nghe rằng mình đã có vợ ở miền Nam, rằng khoảng cách tuổi tác, nhưng nàng nói: không cần biết gì ngoài chuyện cả hai đang cần có nhau, những chăm sóc của ông không phải là của thủ trưởng chăm sóc nhân viên,.   ( Tôi mừng vì khi ông xưng tao là ông bộc bạch tâm sự).

Suốt hành trình rơi vào lúc trăng dần  tròn và dần khuyết, chưa bao giờ với tao ánh trăng có ý nghĩa như thế nào, những ngày về gần đến đơn vị vào một đêm sắp sáng, trăng muộn rãi ánh vàng đầy núi, dưới trăng cô ấy như tiên nữ, tụi tao sống sót sau một trận bom càn, tao đã đè trên người cô ấy để che chở, cô ấy không e dè bày tỏ tình  yêu, cả hai như là của nhau không thể kiềm chế, tao nắm tay nàng ban đầu là để nàng đở sợ, ôm nàng để nàng đở lạnh, cõng nàng để nàng đở mõi và trãi 15 ngày đường, khi về đến cứ thì đã là người yêu nhau, Hà cũng vậy, nàng thú nhận : Ngay ánh mắt đầu tiên, nàng biết tao là người đàn ông nàng tìm. Mặc trở ngại, mặc dư luận, mặc án kỷ luật trên đầu, kể từ sau khi tao hay vợ tao ở miền Nam đã đi lấy chồng khác, tao tr thành người đá đối với phụ nữ nên lính trong đơn vị gọi tao là thầy tu, vậy mà khi có Hà, tao trở thành người khác; nhưng trên thực tế đối với tổ chức lúc đó tao vẫn là đàn ông có vợ, mà quan hệ bất chính thì bị kỷ luật là cái chắc. Khi tao báo cáo mối quan hệ để nhìn nhận là cha đứa con trong bụng của Hà, nhưng vì Hà không phải là mục tiêu theo đuổi của riêng tao, so với nhiều chàng trong đơn vị tao thuộc lọai già, cho nên khi biểu quyết kỷ luật với lý do Hà quá trẻ nên mọi tội lỗi đều trút lên đầu tao: dùng quyền lực ép uống, dụ dỗ… Mặc dù chính Hà khẳng định trước chi bộ là Hà yêu tao, rồi đơn vị xử lý kỷ luật, trả Hà về hậu phương, tao bị cảnh cáo.

Đêm chia tay cô ấy rất vui, nói rằng : sẽ đem con về Hà Nội an tòan tiện bề sinh nở chăm sóc. Hứa sẽ chờ tao trọn đời. Bắt tao thề phải sống để về nhận con nhận vợ. “Em và con là của anh”. Nàng ôm tao, nói mãi câu ấy cho tới gần sáng. Cũng dưới ánh trăng muộn nhưng qua nước mắt của cuộc chia ly nó trở nên vàng vọt áo não như để  đưa nàng rời xa tao.

 Một cuộc chia xa mãi mãi vì chưa được một ngày đường, đoàn của nàng rơi vào rún của đợt oanh tạc B52. Không tìm được một chút dấu tích nào cái cơ thể bé nhỏ của mẹ con nàng, điều tao làm được cho nàng sau ngày hòa bình là mang nấm đất nơi hố bom nàng hy sinh cùng di vật về Hà Nội cho gia đình nàng với danh nghĩa đồng đội. Chuyện ở chiến trường để lại chiến trường.

Ông lặng đi, tôi rót tách trà nóng đưa tận tay ông, uống một ngụm rồi ngồi thẳng lên:

- Tim tao là nấm mộ, tao  chôn nàng, chôn con tao vào đây đã mấy chục năm rồi, như vậy mẹ con nàng là của tao vĩnh viễn.

Ông đưa tay đấm vào phía ngực trái. Tôi như cảm thấy con tim rướm máu của ông.

Bây giờ thì tôi hiểu, vì sao ông đơn độc, vì sao ông yêu trăng muộn và vì sao ông được gọi là ông U – Than, trở thành chỗ dựa trong căn nhà Liên hợp quốc là chốn nương thân của bao mảnh đời bất hạnh.

 

CA GIAO.