Trang Chính    Hình Ảnh    Bút Ký    Truyện Ngắn    Truyện Thật Ngắn    TG & Tác Phẩm    Thơ    Di Tích Lịch Sử và Danh Nhân    Đời Sống: Phong Tục & Khoa Học    Sân Khấu/Nghệ Thuật    Hộp Thư    Nhắn Tin    Tin Tức Thân Hữu    Tin Vui    Phân Ưu    SK và Gia Đình    Lá Lành Đùm Lá Rách    Vui Cười    Ẩm Thực/Gia Chánh    Trang Xuân    Cùng Tác Giả   


Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

* Tạp bút Cao Thoại Châu

 

    "Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc", thật đáng tiếc và cũng đáng trách bởi vì chỉ tới khi từ thị xã này khăn gói đổi lên Kontum hồi gần nửa thế kỷ trước mới nghe câu này. Còn 3 năm ở đó không hiểu vì sao lại không hề nghe hay có nghe mà không để ý. Có những cái đáng tiếc nho nhỏ như vậy, khi một nơi nào đã ở lại sau lưng hay một người nào đó đã cắt cầu, chuyện nào đó đã thành gió thổi mây bay...thì lúc đó mới biết những chi tiết về nơi, chuyện, người ấy!

    Bây giờ thường ngày vẫn vào website của nhóm đồng hương Châu Đốc ở Mỹ và vẫn gặp câu này, lại băn khoăng biết "đèn Châu Đốc" nằm ở đâu mà lại cao hơn đèn nơi khác. Thị xã Châu Đốc là một vùng đồng bằng trũng nằm cạnh sông Hậu bắt đầu từ chỗ sông này từ Campuchia vào Nam bộ. Cách thị xã khoảng gần chục cây số là Thất Sơn mà gần nhất là núi Sam không cao lắm. Không biết "đèn Châu Đốc" đặt trên đỉnh núi này hay nằm ở bờ sông như một hải đăng cho tàu thuyền. Nếu nằm trên đỉnh núi thì đèn ấy soi cho ai, còn giả như đứng ở ven sông thì làm sao "đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc" được?. Người Nam bộ trong đó có người Châu Đốc , thường ít dùng hình tượng mà hay căn cứ vào hiện thực thấy sao nói vậy, để đặt tên. Cù lao ông Chưởng, cháo lòng Nhà Lớn, Út Thêm, Lan xi cà que...nằm trong suy nghĩ vừa nói. Vậy "đèn Châu Đốc" là đèn có trong thực tế, nhưng nó ở đâu tại thị xã này là điều lẽ ra tôi phải biết nó rành rẽ như... hủ tiếu bò kho núi Sam ( ngon có tiếng), nhãn Mỹ Đức ( ngọt có tiếng), lụa Tân Châu (đẹp nổi tiếng) ở thị xã đấy.

      Nhưng thôi, có thể biết quá dễ dàng nếu hỏi website Thất Sơn Châu Đốc nhưng cứ để vậy, chỉ tách ra một chữ "đèn" thôi.

     Trong những thứ gắn với cuộc sống thường nhật, đèn là một thiết bị gắn như bắt vis vào con người. "Sống dầu đèn, chất kèn trống", không cần ( và không nên) duy trì tiếng kèn đám ma trong quần cư đô thị chật hẹp hiện đại nhưng làm sao thiếu được ngọn đèn? Nó là ánh sáng, một yêu cầu của sự tồn tại của thị giác vào những lúc "bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm/ anh nhớ em anh nhớ lắm em ơi" ( Xuân Diệu). Nghĩ rằng khi nhớ ai mà nhớ trong bóng đêm thì hương vị, cường độ của nỗi nhớ không sắc sảo so với khi có ánh mặt trời hay ánh đèn soi vào.

    Một số ngày phải đi gọi là "lấp hố bom" tại một vùng nông thôn thưa  thớt và lầy lội Ấp Bắc sau 1975, thường phải ăn trong bóng đêm và thấy rõ những củ khoai nóng hổi ăn trong mò mẫm chỉ làm êm cái đói, còn cái ngon thì tản mác không tập trung làm giảm một ân sủng của trời đất là được ăn ngon!

     Nhớ nhung và ăn tức văn hóa yêu thương và văn hóa ẩm thực, cần ánh đèn đêm ( ông mặt trời thứ hai) để đạt được hương vị cường độ của nó, thì nghe  cũng cần không kém. Buổi tối, khi đường dây được kết nối, hai bên đều không còn mặt trời, có cảm tưởng những lời nghe được có bị giảm cảm xúc vì thính giác cần có thị giác kết hợp mới tạo ra hiệu ứng đồng bộ. Nghe được rằng Je t'aime ( giả sử có thêm infiniment, bien, beaucoup đi chăng nữa) thì vẫn chẳng bằng vừa nghe và được thấy tia nhìn phát ra từ đôi mắt đó! Đèn là bạn của tình yêu như thế đó!

     Nghĩ về ánh sáng, lại nhớ "Ngọn đèn chài dưới trời sao rơi vãi/ Đêm nay về có lưới được hồn tôi" (CTC), giữa sông nước mà tù mù ( hay đời tù mù) như thế làm sao lưới được chi ngoài những con tôm cá tưng tửng hoặc chán đời?

     Đến đây thì không thể quên bài thơ Đường "Phong Kiều dạ bạc"  quá nổi tiếng của Trương Kế.

 

Phong Kiều dạ bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

Bản dịch Tản Đà

Trăng tà tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

  

       

Bài thơ là nỗi buồn hòa quyện trong một âm thanh (tiếng quạ)  kêu thảng thốt, trong ánh sáng ( lửa chài) cùng với một tâm trạng chập chờn nửa tỉnh nửa mơ. Nỗi buồn vô cớ hay nỗi buồn về nhân tình thế thái nói chung của tác giả, cho đến ngày nay vẫn chỉ là sự suy diễn. Tuy nhiên , nếu không có ánh lửa chài mà tất cả chìm trong bóng đêm thì hiệu ứng cảm xúc của người đọc chắc đã không đạt được như bây giờ.

     Trở về câu hỏi đầu "Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc?", có thể trả lời: Đèn Trời! Cái đèn này chắc hẳn bỏ rơi đèn trên tháp Eiffel và những ngọn đèn thật cao khác, nhưng "đèn Trời" mấy khi soi tỏ những góc khuất, những oan khuất cho người?

     Làm sao đếm được những cuộc đời oan khuất vì công lý không ánh đèn hay đèn lu? Người cầm máy điện thoại đầu bên kia trong bóng đêm, người nghe bên này cũng không đèn đóm, mất đi một phần hiệu ứng cảm xúc thị giác nên cứ phải dồn cả sang cho thính giác, "đèn Trời" dường như không soi sáng được góc khuất này!