Những Ngày Hoa Mộng
Đinh Vũ Kỳ
Năm Đệ Tam thường là năm ăn
chơi nghỉ ngơi dưỡng sức thì tôi lại phải học bù để thi lại bằng Trung Học Đệ
Nhất Cấp. Năm nay lại học chung với 1 số bạn học cũ từ năm đệ lục như Ngô Tấn
Hùng, Trần văn Hưởng, Nguyễn văn Kỉnh. Hùng Hưởng là hiện tượng dễ nhớ vì chằng
những ở trọ chung, học chung lớp mà đi đâu cũng có cặp. Ngô Tấn Hùng thì được
anh em mến chuộng vì ngoài văn chương chữ nghĩa, Hùng lại có lối ăn nói lôi cuốn.
Tôi còn nhớ câu nói đớt thường ngày của Hùng "Làm cái này ăn
chơiiiiiii....... Làm cái này cho bạn xem chơiiiiiii.......". Hưởng thì
cũng có làm thơ nhưng chỉ là năm khi mười họa mới có một bài.
Tôi còn nhớ anh Nguyễn văn Hớn,
trông bề ngoài có vẻ già dặn nhất lớp, có lối nói dễ nhớ, chưa mở miệng ra anh
em đã đoán được cách nói: " ... Xuyên qua câu nói của thầy thì.......
Xuyên qua câu nói của bạn thì...." Mỗi lần Hớn đứng lên, chưa kịp mở miệng
là đã có 1 anh em ngồi cạnh bên lên giọng nói trước: " ... Xuyên
qua....." rồi thì Hớn lập lại y chang đoạn đầu tiên của câu nói này. Hớn
luôn nói lại câu này với vẻ nghiêm trọng thành ra mỗi lần anh Hớn đứng lên là
anh em có dịp ôm bụng cười bò ra, mà vẻ mặt bất mãn của anh Hớn thì lúc nào
cũng tỏ vẻ không hiểu tại sao mọi người lại không thể nghiêm trang nghe hết ý
kiến của Hớn !!
Có 1 biến cố mà bất cứ ai trong
lớp đệ ngũ B của tôi cũng đều không quên được. Tôi định bỏ qua không đề cập đến
nhưng chị Ngô Muội, Trưởng lớp Ngũ B, lại khuyến khích tôi qua điện thoại từ
Sydney. Số là hôm đó lớp tôi có giờ nhạc của ông Hoàng Bích đến trễ. Chờ độ 15
phút mà không thấy giáo sư vào lớp, cả lớp bắt đầu ồn ào rồi có tiếng hô hào
đóng cửa. Chị Hảo ngồi bàn đầu ngay cửa, chạy ra đóng cửa, tiện tay khóa lại. Cửa
sau cũng được đóng. Khoảng 10 phút sau có tiếng giật cửa, cả lớp im lặng nín thở,
rồi sự giật cửa chấm dứt. Có lẽ ông Hoàng Bích bỏ đi, tiếng ồn dậy lên như là sự
đắc thắng của đám học trò quỉ sứ. Khoảng 5 phút sau có tiếng dộng cửa đùng
đùng, rồi cánh cửa bật mở vì sức kéo bên ngoài. Ông Tám Thời, Tổng Giám Thị, bước
vào. Cả lớp đứng dậy. Ông Thời vừa đi dọc xuống cuối lớp, miệng la thét, tay
tát lia lịa vào mặt học sinh cả trai lẫn gái (nữ sinh 1 tát, nam sinh 2 tát). Cả
lớp trố mắt nhìn ông Tám Thời tung hoành như cọp giữa đàn dê. Tô Bửu Lưỡng ngối
bàn đầu nên bị đánh đầu tiên, 2 má đỏ bừng dấu bàn tay. Được 1 lát, có lẽ mỏi
tay, ông bỏ đi lên văn phòng. Chị Hảo ngồi ngay cửa lớp, sau đó phải trình diện
văn phòng chịu tội cho cả lớp !! 6 tháng sau chúng tôi có ông Tổng Giám Thị mới,
Ông Giỏi thay thế cho ông Tám Thời, chấm dứt thời quân sự hóa học đường của ông
Tổng Giám Thị Tám Thời. Có lẽ sự việc đã tới tai ông hiệu trưởng Trịnh văn Mười
Hai. Chị Hảo nhà ở Mỹ Đức, sau này thất lạc không nghe tin tức gì.
Tất niên năm đệ tam (1964-1965)
Lần đầu tiên trường Thủ Khoa Nghĩa tổ chức văn nghệ trong sân trường cùng với
phong trào Bích Báo được phát động cho toàn Trường Thủ Khoa Nghĩa & Nguyễn
Hữu Cảnh . Trước đây các buổi trình diễn văn nghệ và phát thưởng đều tổ chức tại
rạp Tân Việt nên số người tham dự cũng hạn chế vì chỉ có 1 số biết tin tức. Sân
trường lúc này ồn ào náo nhiệt vì các buổi tập dợt văn nghệ và công việc xây cất
khán đài Nhạc sĩ Hoàng Bích và ban vũ, ban nhạc Les solitaires chui vào phòng
thí nghiệm để tập dợt. Ban nhạc mang tên là Solitaires nhưng hình như anh nào
cùng có ít nhất 1 cô bồ, có anh không có bồ chính thức là để có cơ hội tiếp cận
nhiều người đẹp hơn vì ban Solitaires là độc quyền nên được rất nhiều người ái
mộ. Vì mọi việc xẩy ra trong sân trường trước mắt học sinh nên đêm văn nghệ
đông như ngày hội lớn. Nhạc sĩ Văn Cao chạy tới chạy lui, vẻ mặt quan trọng. Lần
này có cuộc thi ca sĩ mà Lập mập (Trần văn Lập) được giải nhất. Vở kịch thơ do
Thái Kim Chuyên phụ trách. Nghe đồn anh chị nhờ có liên hệ tình cảm nên diễn kịch
mà như thật. Vở kịch thơ đã thành công xuất sắc
Tờ Bích Báo lớp tôi được Ngô Tấn
Hùng bao dàn đến 80%, Hưởng cũng có đóng góp 1 bài thơ. Tôi làm trưởng ban báo
chí mà Hùng thì đứng mũi chịu sào !! Công việc của tôi chỉ là tổ chức và điều hợp.
Ngô Tấn Hùng là chủ bút của tờ báo. Đến ngày phát hành, chúng tôi dẫn nhau đi
xem các tờ Bích Báo của các lớp sáng cũng như chiều. Rất nhiều tờ Bích Báo có
hình thức trình bày rất xuất sắc, ngoài chữ viết kiểu cọ đủ màu, có tờ Bích Báo
còn dùng bàn chải đành răng gẩy những chấm màu li ti dể trang điểm cho nền tờ
giấy. Đây cũng là lần thứ 2 tôi được đọc nhiều thơ như vậy. Trước đây tôi đã có
dịp đọc 1 số thơ ghi lại trong các quyển sách "Lưu Bút Ngày Xanh".
Nhưng lần này thì thơ tràn ngập như hiện tượng " Người người làm thơ, Lớp
lớp làm thơ" Thơ tình chiếm hơn 1/2, có lẽ các ban biên tập cũng loại bỏ
khá nhiều loại này. Bài viết cũng khai thác khía cạnh tình cảm qua văn chưong,
nhận thức, kỷ niệm... Có 1 vài bài sưu tầm về kiến thức và tuyệt nhiên không có
bài nào về lý luận hay tư tưởng.
Nếu các bạn còn nhớ năm 1965 là
thời kỳ cực thịnh của văn chương và tư tưởng của miền nam. Các tư tưởng của
Nietzsche, Krisna Murti, Kant, Thiền học đã thâm nhập qua tờ Sáng Tạo, Bách
Khoa, Văn... Tịnh Xá Ngọc Châu được mở cửa từ năm 1962 đến nay đã có 1 số đệ tử
theo Phật học, đang thực tập thiền. Nay sách dịch về Thiền của Nhật tràn ngập,
giới thiệu những công án Thiền mới từ Nhật.
Các bạn tôi có nhiều người làm
dáng bằng cách đi đâu cũng kẹp nách tờ Văn, hay sách lý luận của Nietch, Krisna
Murti hay Kant. Bấy giò tôi cũng ngạc nhiên là rất ít sách nói về Francoise
Sagan hay Sartre, nếu có đề cập đến thì cũng chỉ sơ lược mà thôi. Sau này lên Đại
Học mới biết là có sự tranh dành ảnh hưởng của Mỹ và Pháp trên tư tưởng và giáo
dục tại Việt Nam.
Tôi còn nhớ hình ảnh của Lý Phước
Nhương, nách kẹp tạp chí Văn (hay Bách Khoa), bưóc vào rạp Tân Việt ngày Chúa
Nhật. Bấy giờ lúc nào gặp Quách Bửu Thọ, Phạm văn Tấn hay Nguyễn Vĩnh Thụy đều
thấy có 1 quyển sách kẹp nách. Ngô Tấn Hùng cũng luôn có 1 quyển sách luôn theo
mình. Vì tò mò tôi cũng đã tìm đọc 1 số sách này. Càng đọc thì càng lúng túng.
Về tư tưởng và lý luận mỗi thứ mang 1 vẻ độc đáo khác nhau, mà căn bản của tôi
chỉ giúp tôi nhận định đúng sai như trắng và đen nhưng chưa cho tôi có cái khẩu
vị đủ sành để nếm những thức ăn quí hiếm khác nhau này. Phải đến những năm sau
này ở Đại Học Saigòn tôi mới hiểu được cái dụng ý làm dáng của các bạn tôi khi
kẹp quyển sách vào nách mà đi khắp mọi nơi (tôi lúc nào cũng ngờ nghệch so với
bạn cùng lứa). Mở quyển sách ra, nếu kiên nhẫn đọc đủ 10 trang, xếp sách lại
xong kiểm điểm lại cơ thể xem có rơi rụng phần nào không. Những quyển sách này
quyển nào đọc xong cũng muốn bể đầu bởi vì nó rút gọn, cô đọng lại những suy
nghĩ của 1 dòng tư tưởng mà đáng lẽ nó phải dàn trải rộng ra để có thể thành dễ
hiểu đối với những kẻ mới nhập môn như tôi. Sau này vào cải tạo tôi có thời
gian suy nghiệm về nhưng điều đã được đọc qua trước đây tôi cũng tìm ra 1 số điều
hay ho đủ làm dịu đi nhưng cơn đói vật vã trong trại cải tạo.
Thời gian này bạn thân của tôi
là Trịnh Phùng Bửu, học ban Anh Văn. Chiều nào bọn tôi cũng chở nhau trên xe đạp
kiểu đàn bà. Tôi thường ngồi lom khom phía trước, gác 2 chân lên con ốc cánh
chuồn để xiết bánh xe trước. Trước khi các loại xe gắn máy như Honda, suzuki
thông dụng, đây là cách chở nhau thông dụng và thời trang, chứ chở bạn mà ngồi
phía sau bình thường thì đâu có gì hay ho thích thú. Bọn tôi cứ thế chở nhau đi
vòng vòng sau buổi cơm chiều, vừa đạp xe, vừa tranh luận với đủ mọi thứ đề tài
trên đời. Nhà Bửu ở đối diện Bến Bắc, gần nhà thờ, kể ra cũng xa nhà tôi, nếu
không có xe chắc cũng ít có cơ hội gặp nhau. Mỗi buổi tối, lộ trình là các vòng
lớn, vòng nhỏ. vòng nhỏ từ chợ vòng qua đường xe lửa, qua cầu lò heo trong, rồi
cầu lò heo ngoài, trở về ngang nhà thuơng, công viên, bưu điện, bến đò Châu
Giang. Vòng lớn thì đi luôn qua chợ, bến đò Cồn Tiên, cầu ngoài Kinh Ông Cò,
qua thành BC, vòng qua tiệm rượu Vĩnh Phong Long, đi dọc theo Kinh Vĩnh Tế, rồi
trở ngược ngang qua Đất Thánh Tây, dọc theo con đường Thủ Khoa Nghĩa, qua hông
trường Nguyễn Hữu Cảnh, rồi cầu trong Kinh Ông Cò qua tới Bồ Đề Đạo Tràng. Cuối
tuần thì đạp xe đi Kinh Đào, Mỹ Đức hay Đầu Bờ, Núi Sam. Trịnh Phùng Bửu có người
bà con ở Đầu Bờ nhà có nuôi ngựa, thế là bọn tôi hay vào Núi Sam để tập cỡi ngựa
không yên cương dọc theo bờ đất ruộng. Bọn tôi tập dùng 2 chân để điều khiển:
thúc nhẹ chân cho ngựa chạy tới, lòn 2 bàn chân vào trước ức ngựa kéo ngược 2 bắp
đùi trước của ngựa để cho ngựa dừng lại. Chỉ cần 1 buổi là bọn tôi rành 6 câu.
Tôi học được 1 bài học: cưỡi ngựa không yên thì cần phãi mặc quần dài. Nếu để mồ
hôi ngựa dính vào da 1 thời gian là sẽ bị ngứa tới lở da.
Về giải trí, Châu Đốc có 2 rạp
ciné: rạp Lạc Thanh cũ kỹ chuyên chiếu phim Ấn Độ. Rạp Tân Việt mới cất, cao
ráo sạch sẽ, chiếu nhũng phim mới tây phưong. Cách đây vài năm rạp Tân Việt lại
cho vé đồng hạng học sinh 5 $ vào sáng chúa nhựt. Từ đó sáng chúa nhựt trong rạp
Tân Việt trở thành nơi gặp gỡ thường xuyên của học sinh Thủ khoa Nghĩa và Nguyễn
Hữu Cảnh. Bọn tôi gặp nhau trong rạp hát, tụ năm túm ba hỏi thăm tin tức, nói
chuyện tầm phào trước giờ chiếu phim. Có 1 số nhỏ còn rủ nhau đi uống cà phê tại
Bar Nam Hiệp sau khi xem phim, nhưng con số này rất it chỉ dành cho học sinh
"quý tộc". Đối với học sinh bọn tôi, kiếm đủ tiền mua vé vào rạp đã
là sự khó khăn. Khi vào quán, thức uống của bọn tôi thường là cà phê đá, cà phê
sữa đá hay đá chanh, chanh muối hay tươi. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bạn trai
nào uống nước dừa. Hình như thức uống này dân Châu Đốc chỉ dành cho đàn bà con
gái. Đã vào quán uống cà phê thì phải có thuốc lá. Cái mục này tôi cũng tập
tành rất sớm: Rubi 3 đồng 4 điếu, tập nhả khói chữ O, khói phun mù trời, mặt
mày trầm ngâm nhăn nhó như đang lo chuyện đại sự !! Thực ra miệng thì đắng
nghét vì mới tập hút thuốc mà không dám nói ra sợ bạn bè nó cười cho.
Lúc này Châu Đốc có 3 trung tâm
đánh ping pong: Trước trường Thủ Khoa Nghĩa và Nguyễn Hữu Cảnh, Nhà của Trần Ngọc
Mỹ và Huỳnh trường Thông, cuối cùng là ở đường xe lửa. Bạn Tô văn Ngoan là cây
vợt nổi tiếng với nhũng cú đánh ép phê độc đáo.
Thời gian này bên hông Ty Thông
Tin Châu Đốc, đối diện với Bồ Đề Đạo Tràng, có 1 phòng Thể Dục Thẩm Mỹ. Tôi
cũng có 1 dạo ghi tên vào đây kéo tạ được vài tháng !
Trong số khoảng mười mấy anh em
hàng ngày đều đặn đến kéo tạ có anh Lộc cao hơn 1.8m, da trắng đẹp trai. Anh Lộc
có thân mình đầy bắp thịt như Arnold schwarzenergger. Hàng ngày mỗi buổi chiều
anh đến kéo tạ cho các bắp thịt nổi lên cuồn cuộn, xong dùng dầu ăn xoa lên khắp
người bóng loáng (thời đó chắc chưa có các loại body oil như bây giờ). Bọn tôi
luôn bao quanh anh để ngắm nghía các loại bắp thịt nổi lên cuồn cuộn nhưng anh
Lộc không thích thú gì với bọn tôi ốm nhom, đen thui và đầy thẹo. Cứ sau mỗi đợt
kéo tạ là anh ra trước cửa vặn vẹo thân mình để biểu diễn cho các chị nữ sinh
tan học đi ngang qua. Bọn tôi cũng được giảng về thực phẩm phải ăn hàng ngày:
nào là thịt bò chiên bơ, uống 2 lít sữa tươi 1 ngày thì bắp thịt mới lên. Hèn
chi tôi càng tập càng ốm nhom, bắp thịt cứ như trái chanh 2 đồng 1 chục !!
Phong trào Thể Dục Thẩm Mỹ này có lúc lôi cuốn đến vài chục người mỗi buổi chiều.
Rồi nó cũng xẹp đi như phong trào Hướng Đạo. Anh Lộc nghe nói cũng bị bề hội đồng
vì ganh tị.
Xuất thân Xóm Hàng Xáo nên từ
nhỏ tôi đã được các đàn anh trong xóm dậy cho vài miếng võ mèo quào để hù thiên
hạ để tưởng thưởng công lao tuân phục, nào là tứ trụ với những món chặt gân, bẻ
tay, nào là xà quyền với món móc mắt, móc tim. Cái vụ này lúc tôi 9-10 tuổi thì
rất hấp dẫn, nhưng đến 15 tuổi thì tôi ý thức được những gì tôi biết chỉ là vô
dụng, tôi nghĩ đến việc tầm sư học đạo. Tôi và Bửu được người bà con tại Đầu Bờ
giới thiệu cho 1 Ông Thầy Tu phái Bửu Sơn Kỳ Hương có am phía trên Bạch Vân 1
chặng. Thầy tên Năm Chất, khi còn trẻ là ăn cướp dọc ngang biên giới với đường
roi khét tiếng từ Châu Đốc qua tới Hồng Ngự. Khi gặp chúng tôi, Thầy đã già,
râu dài cả gang tay nhưng tuớng ngưòi còn mạnh mẽ quắc thước. Thầy về tu ở Núi
Sam đã mấy chục năm rồi. Thầy có cái am nhỏ trên núi, xung quanh trồng khoai
mì, khoai lang, có dàn mướp, bầu bí cạnh am. Lưỡi Thầy bị cắt nên khi nói rất
khó nghe. Thầy có 1 đứa con gái hàng tháng tới thăm và cung cấp gạo muối. Thầy
không có ý định thu đệ tử nên đã từ chối ngay từ ban đầu. Tôi và Bửu tới thăm
Thầy hàng tuần. Phải hơn 3 tháng quen và biết tánh ý từng đứa Thầy mới nhận lời.
Theo sự chỉ dẫn của Thầy, bọn tôi chuẩn bị nhang đèn trái cây và nồi cháo cá nấu
đậu xanh để làm lễ cúng tổ. Sau đó chép Thiệu về học thuộc lòng. Phát âm của Thầy
khó nghe, mà Thiệu lại toàn là những câu chữ nho có vần có điệu. Thiệt là khó
khăn cho bọn tôi để kiểm chứng những gì mình viết lại là đúng hay sai, mà Thầy
đọc được rất ít chữ quốc ngữ để mà kiểm soát lại những gì tôi và Bửu chép lại.
Hai đứa tôi tuần nào cũng đạp xe vào núi Sam chăm chỉ tập luyện, đuợc hơn 1 năm
thì đành bỏ vì phải học thi Tú Tài. Theo Thầy cả năm mà hai đứa tôi chậm lụt
quá nên sau đó của Thầy cũng trả lại Thầy, chỉ còn kỷ niệm những đêm không
trăng, thầy trò giũa vườn khoai mì nhẩy múa dưới ánh sao mờ mờ, những buổi đạp
xe vào núi Sam giữa 2 hàng me nước, gần đến cầu số Hai là thấy bên tay trái cái
miếu thờ của Bar Thanh Đạm, qua khỏi cầu số Hai là cầu số 4 rồi đến Đầu Bờ. Thầy
Năm Chất mất khi tôi đi Saigon học được 1 năm. Những dòng chữ này để tưởng nhớ
đến công lao của Thầy.
Dĩ nhiên lúc này Châu Đốc cũng
có những thầy võ nổi tiếng ở xóm nhà thờ, xóm tiệm rượu. Bọn tôi hay lê la đến
để xem có học lóm gì được miếng nào không !!
Trịnh Phùng Bửu sau này lên
Saigon tập luyện Te Kwon Do trở thành cao thủ võ lâm. Có xem những trận thử sức
giữa Bửu và Thu (bưu điện) mới thấy thích thú mà ra công rèn luyện.
Năm Đệ Tam vừa học vừa chơi, mỗi
buổi chiều thì vào sân trường Thủ Khoa Nghĩa để tập nhẩy cao, nhẩy dài, leo
dây. Chỗ tập là ngay trước phòng thí nghiệm, có 1 bãi cát để tập nhẩy, có 1 cái
dàn treo lủng lẳng 3-4 sợi dây. Đây là chỗ tôi quen biết với anh Đỗ Kim Bảng
thường tới tập chạy và nhẩy hàng ngày, lúc đó tôi nghĩ anh Bảng chăm tập để lấy
điểm thể thao của kỷ thi Tú Tài 1 chứ đâu có biết anh là con gà cưng của trường
Thủ khoa Nghĩa. Đến cuối năm đó tôi cũng giải quyết xong cái bằng Trung Học Đệ
Nhất Cấp còn thiếu nợ.
Phong trào Du Ca cũng bắt đầu
vào thời gian này ở Trường Thủ Khoa Nghĩa với những bài hát: Mẹ Việt Nam, Dậy
Mà đi, Ta như nước dâng....Ban Du Ca gồm toàn những học sinh từ đệ tứ trở xuống
như là Nguyễn Ngọc Liên, Trần Ngọc Hùng, Huỳnh Trường Thông, Ba già ..... Tôi
và Quách Bửu Thọ cũng có mặt cho vui nhưng không sinh hoạt đều đặn. Phong trào
Du Ca Trường Thủ Khoa Nghĩa đã lên tột đỉnh nhờ Phong Trào Sinh Hoạt Thanh Niên
Học Đường (PTSHTNHĐ) mà Tây là đại diện. Tây da ngâm đen, to con, học sau tôi 1
năm, nhà ở dãy cư xá cảnh sát, ngang Bồ Đề Đạo Tràng. PTSHTNHĐ cấp tiền ăn cho
những hoạt động của học sinh như đi sơn, sửa trường học. Học sinh chỉ cần ghi
tên là có thể đi công tác, ăn ngủ tại trường trong 1 vài ngày, có khi 1 vài tuần.
Đi như vậy đêm nào cũng có lửa trại và ca hát tập thể. Hè năm 66, tôi cùng nhóm
anh em khoảng vài chục người đi sơn lại Trường tiểu học Tân Châu 1 tuần, có xe
đưa đón và ăn ở.