ĐọcTác Phẩm Mới của Ngô Thế Vinh:
“CỬU LONG CẠN DÒNG,
BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG”
Đỗ Hải Minh
Mùa Nước Lên & Mùa
nước giựt
tại vùng châu thổ sông
Cửu Long
Trong nhiều thập niên trước
đây, người dân vùng châu thổ sông Cửu Long, tức Mekong, đã quen sống với nạn ngập
lụt hàng năm như là một hiện tượng thiên nhiên đến đều đặn theo chu kỳ, nên nhà
cửa dọc hai bên sông rạch thường cất theo kiểu nhà sàn, và chiều cao của các
cây cột sàn thường được tính toán vừa cho không ngập lụt nền nhà. Chỉ trừ những năm Thìn thì hầu như đã thành
thông lệ, mực nước dâng cao hơn, nhà nhà đều sẵn sàng sống những ngày nước ngập
sàn, phải kê cao giường lên để ngủ, chờ đến ngày mực nước hạ xuống (người địa
phương gọi là “nước giựt”) gia đình con cái mới trở lại nền nếp sanh hoạt bình
thường. Do đó, tại vùng châu thổ sông
Mekong, giới bình dân thường quen và bình tĩnh sống và chịu đựng với cái gọi là
“mùa nước lên” thay vì “mùa lũ lụt” như ở miền Bắc hoặc miền Trung, như được phổ
biến sau này.
Dấu hiệu báo mùa nước lên tại vùng châu thổ
sông Mekong chủ yếu là vào khoảng tháng 8 âm lịch, từng giề lục bình hoặc rau
muống, đôi khi choán cả chiều rộng con sông, nguyên từ các cánh đồng trên đất
Cam Bốt bị nước ngập, tróc gốc, nối đuôi nhau trôi chật sông theo dòng nước xuống
đến phần đất Việt Nam. Mực nước từ từ
dâng cao rồi tràn qua các bờ sông rạch, làm ngập các cánh đồng, cho nên vùng
châu thổ có loại lúa sạ, tăng trưởng theo mực nước dâng cao có khi đến 7, 8 thước,
và khi nước giựt khô ráo, thân cây lúa nằm rạp mình trên đất chờ gặt.
Để tiết giảm áp lực nước đổ xuống, người ta
đã đào một hệ thống kinh chằng chịt tại vùng châu thổ sông Mekong đồng thời
khai thác tác dụng rửa phèn cho vùng đất mới để canh tác.
Đến mùa nước lên, người ta phải canh chừng
đo mực nước hằng giờ để báo động kịp thời khi mực nước vượt quá mức bình thường
các năm trước. Khi áp lực nước từ thượng nguồn bớt đi, thì mực nước liền đứng lại
và hạ xuống rất nhanh cho nên trong bình dân gọi là “nước giựt” Người ta nói nước
giựt, vì mực nước hạ xuống trông thấy rõ từng phút từng giờ.
Nước lên và nước giựt, tuy nhiên, không diễn
ra đồng đều cùng một lúc. Trên dòng nước
cuồn cuộn chảy ra các cửa biển, hễ ở vùng Châu đốc nước giựt xuống thì vùng Cần
thơ, Vĩnh Long, v.v. ở hạ lưu, nước lại bắt đầu dâng lên, ngập tràn bờ, tràn đồng,
rồi cũng lại hạ xuống, giống như hiện tượng xảy ra trong bình thông nhau.
Cùng với con nước đục ngầu mang theo phù
sa, các loại cá lội theo vào ruộng đồng đẻ trứng, cho đến thời kỳ nước giựt thì
loại nước cỏ vàng xậm từ trong đồng ruộng chảy ra, vô số cá con lúc nhúc từng
đàn, nhứt là loại cá linh, theo nhau ùa tràn trở ra các kinh rạch để ra sông lớn,
cho nên dọc theo các kinh rạch này, người ta đóng đáy bắt cá, có thời điểm cá rộ,
lưới không chịu nổi phải giở lên thả cho đi bớt; bằng không thì sẽ bị lủng lưới.
Với mùa nước lên và mùa nước giựt như vậy,
hệ sinh thái vùng châu thổ sông Mekong được cân bằng một cách tự nhiên, và hễ
năm nào mực nước dâng lên cao quá mức binh thường thì người dân thường đơn giản
nghĩ là do thiên tai ngoài tầm vói của con người.
Hiện tượng cân bằng sinh thái tự nhiên đó
không còn nữa, từ khi dân số vùng châu thổ sông Mekong tăng cao do việc thiết lập
các khu định cư tiếp đón dân các vùng khác đến sanh sống, nhiều nơi đắp bờ ngăn
giữ nước trồng lúa ngắn ngày gia tăng sản lượng. Ngày xưa, các thế hệ tiền nhân đến lập nghiệp
thường chọn các khu đất gò, tại châu thổ sông Mekong, gọi là “đất giồng”, nên đến
mùa nước lên, các cánh đồng bát ngát cò bay thẳng cánh biến thành biển nước mênh
mong, thì đất giồng này vẫn là các khu an toàn cho người dân và cả cho các loài
rắn. Ngược lại, trong vài thập niên qua,
các khu định cư mới thường chỉ nhằm vào các vùng đất có điều kiện cho đồng bào
canh tác, nên khi đến mùa nước dâng lên, có nơi phải ngập sâu xuống cả 2, 3 thước
nước, nên cái mà giới bình dân thường quen gọi là “thiên tai” hẳn nhiên phải nặng
nề và tác hại nhiều hơn. Ngoài ra, điều mà các nhà môi trường học đã lớn tiếng
kêu gào nhiều nhất trong những năm gần đây là nạn chặt cây rừng bừa bãi; những
rừng cây xanh um từ xưa mang chức năng giữ lại trong lòng đất một lượng nước
quan trọng ở các đầu nguồn thì nay không còn nữa hoặc đã biến thành quá lưa
thưa, nên nước mưa xuống thì cứ thẳng chảy ra, làm tăng khối lượng nước ngoài
dòng sông và hẳn nhiên mực nước sông phải dâng cao khi mưa nhiều ở thượng nguồn.
Cửu Long Cạn Dòng,
một nghịch lý?
Nhà văn Ngô Thế Vinh vừa
cho ra đời một tác phẩm mới nhan đề khá hấp dẫn: “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông
Dậy Sóng” do Nhà Xuất Bản Văn Nghệ ấn hành, đã được các giới thân hữu, nhứt là
Nhóm Bạn Sông Cửu Long tiếp đón với rất nhiều phấn khởi như là một đóng góp lớn
cho sanh hoạt bảo vệ môi trường.
Nhưng một câu hỏi có thể được nêu lên ngay
là liệu nhan đề tác phẩm như có tiềm ẩn một cái gì nghịch lý hay không? Bởi lẽ một đàng, mực nước ồ ạt dâng cao và
dòng nước sông Mekong chảy siết từ Cam Bốt xuống phần đất Việt Nam, trong cuối
tháng 9 và đầu tháng 10 năm 2000 vừa qua đã làm cuốn trôi nhiều nhà cửa kể cả
các nhà sàn dọc theo các kinh rạch, đã gây chết hơn 300 nhân mạng, các cộng đồng
người Việt hải ngoại, theo tinh thần tương thân tương trợ giữa đồng bào ruột thịt,
đang vất vả và tích cực tổ chức quyên góp cứu trợ tác phẩm của Ngô thế Vinh lại
nêu lên sự cạn dòng, có nghĩa là dòng Cửu Long không còn nước chảy nữa, thì nghĩa
là sao?
Sự thực, nạn ngập lụt khiến nước tràn bờ,
tràn đồng tại châu thổ sông Mekong do lượng nước dồn dập từ trên thượng nguồn đổ
xuống là một hiện tượng xảy ra hàng năm theo chu kỳ nhứt định, và kéo dài trong
một thời gian một hai tháng là cùng.
Trong trường kỳ, trái lại, không phải chỉ là vấn đề tràn ngập nước nữa,
mà là vấn đề mực nước dòng sông Mekong có khuynh hướng ngày càng hạ xuống, sẽ
đưa dẫn đến nguy cơ cạn kiệt, một nguy cơ tác hại quy mô khó lường, khó mà chận
đứng được, và giải pháp không còn có thể là tích cực quyên góp cứu trơ nhứt thời
nữa.
Khuynh hướng cạn kiệt nước, trước mắt, sau
những ngày nước tràn đồng theo chu kỳ hàng năm, đã được các nhà khoa học ghi nhận
ở hiện tượng vùng nước nhiễm mặn từ các cửa sông Mekong đang ngày càng lấn sâu
vào nội địa, và dấu hiệu là các loại cá chuyên sống vùng nước lợ đã bắt đầu được
phát hiện ở một số vùng trước chỉ có các loại cá nước ngọt sanh sống. Nạn nhiễm mặn không những chỉ diễn ra tại các
dòng sông mà còn thấm vào lòng đất khiến các giếng nước ngọt đào trong các vùng
sâu bên trọng cũng sẽ không còn sử dụng được.
Các vùng nước nhiễm mặn hẳn nhiên sẽ không còn chấp nhận các giống lúa
truyền thống nữa, và điều tai hại đang đe dọa trong tương lai là cho đến nay, chưa có một giống lúa nào được
gây ra và tìm được trong các phòng thí nghiệm để thích ứng với vùng đất nhiểm mặn
cả. Như vậy, liệu Việt Nam có thể còn giữ
được sản lượng gạo xuất cảng vào hàng nhì thế giới như hiện nay hay không? Và trong lâu dài, nếu tình hình xấu đi hơn nữa,
liệu người dân Việt trong nước sẽ còn đủ gạo để ăn hay không? Đó là những câu hỏi chủ yếu mà tác giả với một
thủ thuật văn pháp kỳ diệu đã lần đưa người đọc phải quan tâm tìm hiểu thêm.
Nguyên nhân hiện tượng cạn dòng của sông
Mekong có thể được tìm thấy trước mắt không phải trong thiên tai, mà trong
chính tác động của con người. Để tranh
thủ ngoi lên, mỗi nước nằm trên dòng chảy của sông Cửu Long - tất cả đều là những
nước đang phát triển - đều cùng muốn làm sao tự sản xuất nhiều năng lượng chừng
nào hay chừng nấy, để sử dụng vào công cuộc phát triển kinh tế trong đó, nền kỹû
nghệ được đặt ưu tiên hàng đầu. Giấc mơ
phát triển này đã và đang thúc đẩy các nước nằm trên dòng chảy của sông Mekong
đua nhau hình thành các dự án thiết lập và xây dựng các đập nước, lắp đặt các
nhà máy thủy điện, tạo ra nguồn năng lượng than trắng, nguồn năng lượng giá rẻ
nên tương đối hấp dẫn do không lệ thuộc vào việc nhập cảng dầu từ các nước
ngoài hao tốn ngoại tệ.
Theo công pháp quốc tế, giữa các nước có
lãnh thổ liền nhau đều có phân định biên giới quốc gia bắt buộc công dân và
hàng hóa từ nước này sang nước kia phải tuân theo một số điều kiện; riêng về nước
trên con sông thì cứ theo dòng mà chảy xuôi chớ không có gì hạn chế cả. Tuy nhiên, từ khi kỹ thuật thiết lập các đập
nước được thực hiện, đòi hỏi phải ngăn và chuyển dòng sông để đưa nước vào các
hồ chứa dự trữ khổng lồ, được tính toán đều đặn tháo ra theo lượng hoạch định,
dùng vận hành các turbin khổng lồ làm ra điện.
Hậu quả trước mắt của công cuộc chuyển dòng
để dự trữ lượng nước cho riêng quốc gia mình, hẳn nhiên, chẳng những làm biến đổi
dòng chảy thiên nhiên mà còn làm giảm khối lượng nước chảy xuôi dòng bình thường
từ thượng nguồn ra biển cả như từ bao thế kỷ nay. Về mặt này, ai cũng rõ, Trung quốc là nước có
lợi thế hơn cả do lãnh thổ nằm ở vị trí đầu nguồn của sông Mekong, và trên thực
tế, Trung Quốc, từ vài thập niên qua, đã triệt để khai thác vị trí tối thuận lợi
của mình để xây dựng một loạt các con đập, bất kể quyền lợi của các nước ở hạ
lưu. Kế tiếp, theo thứ tự, các nước Miến
điện, Lào, Thái Lan, rồi Cam bốt, và Việt Nam là nước nằm ở cuối nguồn hẳn
nhiên phải chịu thiệt hơn cả.
Theo những điều trình bày trên, sự ra đời của tác phẩm “Cửu Long Cạn Dòng, Biển
Đông Dậy Sóng” thoạt nhận thì thấy hình như là một nghịch lý, trước nạn lũ lụt
hoành hành tại vùng châu thổ sông Cửu Long, dấy lên những phong trào rầm rộ cứu
lụt trong các cộng đồng người Việt hải ngoại.
Nhưng khi đặt vấn đề dòng sông Mekong trong một bối cảnh quy mô toàn
vùng và trong lâu dài có nguy cơ cạn kiệt, thì tác phẩm, nói chung, phản ánh một
nổ lực thu hút mọi người quan tâm đến một ngày mai, xây dựng một viễn tượng
đúng đắn về địa lý chánh trị học (geopolitics) mở rộng tầm nhìn mang tính chiến
lược soi sáng tiềm năng khả dụng cùng những mặt hạn chế, nhứt là của các nước nằm
ở hạ lưu, trong việc khai thác nguồn nước sông Cửu Long phục vụ phát triển kinh
te,á trước chánh sách ngạo mạn nước lớn của Trung quốc ở trên thượng nguồn.
Cửu Long cạn Dòng,
Biển Đông dậy Sóng
Trong bối cảnh kể trên và
qua cách trình bày, người đọc có thể nhận ra ngay, tác phẩm “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng”, dày
646 trang, không phải là tác phẩm thuộc
dạng tiểu thuyết hay truyện như “Mây Bão”, “Bóng Đêm”, Gió Mùa”, “Vòng Đai
Xanh”, “Mặt Trận Ở Saigon” đã xuất bản trước đây, nguyên đã tạo nên một thế đứng
vững chắc được nể trọng cho Ngô Thế Vinh trong văn giới trong những năm qua.
Về cấu trúc, sách được phân chia thành 23
chương cọng thêm những trang “Lời Dẫn Nhập”, một phần Phụ lục về “Ký Họa Đoàn
Thám Hiểm Sông Mekong 1866-1873”, và đoạn “Thay Lời Kết” ở những trang cuối
cùng.
Ở cuối đoạn “Dẫn Nhập”, tác giả ghi “Cà mau
Năm Căn 11/99”, thoạt nhận, có thể làm người đọc không am tường, hiểu lầm, cho
là tác phẩm xuất xứ từ trong nước. Thực
sự, địa danh Cà Mau - Năm Căn chỉ phản ánh quá trình hình thành tác phẩm bao gồm
cả chuyến đi khảo sát thực địa tận trong nước
thể hiện qua những hình ảnh rất phong phú, sống động in ở sau mỗi chương
sách, bên cạnh những hình ảnh của những thời xa xưa nói lên những cuộc tra cứu
tư liệu rất công phu, đòi hỏi nhiều thời gian vật chất, ghi lại những nguồn
tham khảo vẫn tưởng đã bị dòng thời gian chôn sâu vào quên lãng.
Để tiện cho người đọc theo dõi và vị trí
hóa các sự kiện lịch sử về con sông Mekong, ngay ở phần đầu, tác giả đã cẩn thận
lập ra bảng kê các niên biểu trải rộng qua 7 quốc gia, từ thế kỷ thứ I mãi đến
năm 2000 là năm hoàn thành cây cầu bắc qua sông Mỹ Thuận, gợi lên một tầm nhìn
khoáng đạt, bao quát chớ không nhứt thiết giới hạn trong một khung địa lý thu hẹp
ở một địa phương.
Tác phẩm “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy
Sóng” được hình thành theo một thể tài khá lý thú và độc đáo. Theo giải bày của
Ngô Thế Vinh trong Lời Dẫn Nhập, thì “đây không thuần túy là một cuốn ‘tiểu
thuyết – fiction’ được hiểu như là một sản phẩm của tưởng tuợng, nhưng là dạng
‘dữ kiện tiểu thuyết – faction: facts & fiction” với một số nhân vật văn học và phần dự phóng
là hư cấu để cùng với người đọc đi tới những vùng đất, nơi có con sông Mekong
hùng vĩ chảy qua...”
Mô thức dữ kiện tiểu thuyết là một sáng tạo
độc đáo, duy nhứt, của nhà văn Ngô Thế Vinh, chắc chắn sẽ được đón nhận một số
tranh luận, mở ra những cuộc trao đổi chắc chắn là sẽ rất lý thú trong văn học
sau này.
Hình như
dụng ý của tác giả, chủ yếu nhằm khơi lên vấn đề từ chi tiết tạo nên một
khung lý luận, đưa người đọc vào một số tình huống phải suy nghĩ, phải quan tâm
đến một chủ đề bao quát lớn lao hơn bao trùm toàn bộ tác phẩm: dòng sông Mekong
dưới tác động tai hại của các công trình thủy điện, mỗi nước dựa vào chủ quyền
quốc gia cứ tùy tiện xây dựng, hầu hết chỉ tập chú vào sản lượng điện năng, xem
nhẹ hoặc xem như không có các tác hại lâu dài về môi sinh, những tệ trạng về mọi
mặt mà người dân trong vùng phải gánh chịu.
Ngô Thế Vinh không đóng khung vấn đề trong nội vi một nước, mà còn cảnh
giác về các tác hại của tiếp cận theo lối khép kín đóng cửa rút cầu này. Trong bối cảnh, ngoài ra, Ngô Thế Vinh còn làm hiện rõ mối đe dọa cố hữu
của nước lớn Trung Quốc ở đầu nguồn đang phớt tỉnh hành động khống chế các nước
ở hạ lưu, về mặt sử dụng lượng nước, về các chất thãi kỹ nghệ âm thầm chảy xuống
từ thượng nguồn...
Mỗi chương sách được đặt tên đôi khi nghe rất
thi vị nhẹ nhàng nhưng thực chấtï là khai triêûn một đề tài gợi lên cho người đọc
rất nhiều xúc cảm phê phán gay gắt. Chẳng
hạn như Chương XIV ghi là “Chuyến Tàu Lỡ Trên Sông Mekong Và Con Cá Đuối Tỉnh Đồng
Tháp”, thực sự nội dung là vạch trần một cách thấm thía thái độ thiển cận của
những viên chức chánh quyền có trách nhiệm đã không cấp phép cho nhà thám hiểm
biển sâu người Pháp, hầu như độc nhất vô nhị, nổi tiếng trên thế giới là
Jacques-Yves Cousteau, xin mang chiếc tàu ngầm thám hiểm tý hon Calypso đi ngược
dòng Mekong thu thập dữ kiện khoa học. Jacques-Yves Cousteau nay đã qua đời nên
Việt Nam đã mất đi cơ hội bằng vàng để bổ sung phần hiểu biết khoa học vốn đã
nghèo nàn về hệ sinh thái con sông Mekong!
Chương XXII mang tên “Tìm Về Phương Đông Địa
Đàng Đã Mất” khêu gợi óc tò mò của người
đọc, để lần theo các trang sách, từ từ phát hiện ra địa đàng chính là nền văn
hóa cổ thời Đông Nam Á, với những dữ kiện mới được khám phá gần đây, những khu rừng mưa trên Cam bốt, hệ thống thủy
lợi và giao thông trên vùng Ốc Eo châu thổ sông Mekong.
Từ chương này sang chương khác, tác giả đã
lần đưa người đọc đi qua các vùng đất con sông Cửu Long chảy qua, bắt đầu từ
vùng đầu nguồn ở Tây Tạng rồi sang Vân Nam và Nepal, qua Bangkok, Thái lan, di chuyển qua Khu Tam
Giác Vàng và lãnh thổ Lào với Cánh Đồng Chum.
Từ những ngày ở Singapore, tác giảõ đã đưa người đọc về đất Cam bốt với
Cánh Đồng Chết nổi danh thời Pol Pot, rồi mới quay về với vùng đất mẹ Việt Nam
khốn khổ, đến Bến tre, Cái Bè, đến vùng
Tràm Chim đầm lầy rồi, rồi trở qua đất Lào, Cam bốt, đi vào vùng Biển hồ Tonlê
Sap kỳ thú, rồi lại quay trở về Nam Việt Nam... Mỗi chương là một đề tài được
nêu lên và phân tích theo những góc cạnh tiếp cận vô cùng phong phú và đa dạng,
không chương nào giống chương nào cả.
Tuy khác nhau về tình tiết, nhưng giữa các chương, như tác giả đã trình
bày, được gắn liền bằng một dòng tư tưởng nhất quán, vẽ lên những bức tranh thường là đen tối đè nặng
lên dòng sông Mekong do thảm trạng các nước đua nhau thực hiện các công trình
xây dựng đập vận hành các nhà máy thủy điện, giữ và làm ô nhiễm luợng nước từ thượng nguồn.
Trong quá trình triễn khai nội dung từng
chương, tác giả thường tận dụng cơ hội cung ứng những dữ kiện và thông tin quý
báu, được minh họa bằng các hình ảnh sống động của nhiều thập niên trước về lịch
sử, về văn hóa hoặc văn minh cổ thời ở địa phương, như Phù Nam, Ốc Eo, Champa, Tây Tạng... Qua các trang sách và hầu như đã thành một
quán tính có thể nhận thấy rõ, không đề cập thì thôi, nhưng hễ đi vào một vấn đề
nào, Ngô Thế Vinh hầu như đi vào rất sâu, cung ứng rất nhiều dữ kiện, nhiều bằng
chứng lý thú, thúc đẩy người đọc càng đọc
càng thích thú, đến một đoạn nào đó, có thể như “quên đường về”. Tuy nhiên, trong lúc tiến tới say mê như vậy,
và có khi đã thấy vừa đủ liều lượng, Ngô Thế Vinh, ở nhiều đoạn sách,có thể đột ngột bẻ tay lái sang lane chớp nhoáng
chuyển sang một vấn đề khác không có chút bịn rịn nào cả. Trong một phút giây
nào đó, người đọc bất ngờ bị cảm thấy như hụt hẩn, chới với đi vào một vấn đề
khác. Và mỗi lần như vậy, người đọc không
thể làm gì khác hơn là từ từ lật ngược lại các trang đã qua, để hệ thống hóa lại
nội dung, trước khi thưởng thức tiếp các trang sách. Chừng đó, người đọc mới cảm thấy được bút
pháp điêu luyện của tác giả và xác định rõ, tác phẩm “Cửu Long Cạn Dòng, Biển
Đông Dậy Sóng” đúng như được ghi nhận là “đầy ắp tư liệu” có giá trị lịch sử và
cả giáo dục nữa, không thể đọc phơn phớt để thưởng thức như là một quyển tiểu
thuyết bình thường được.
Chính trong những điều kiện kể trên, mới
nổi bật lên và như in sâu vào tâm trí người đọc những sự kiện lịch sử của một
thời xa xưa mà người ta không thể quên được về con sông Mekong, chẳng hạn như
thông tin về chuyến đi thám hiểm của Francis Garnier, Doudard de Lagrée ngược
dòng sông Mekong để tìm thủy lộ giao thương từ Saigon sang Trung Hoa; về số phận
tiêu vong của loại cá hiếm Pla Beuk, Dolphin trên dòng sông Mekong... Thông tin lý thú nhứt có lẽ là mặc dầu con
sông Mekong được vẽ trên mọi bản đồ thế giới, nhưng chỉ mới đây thôi, chỉ vào năm 1994, người ta mới chánh thức xác định
được tọa độ chính xác điểm khởi nguồn của sông Mekong nơi một địa điểm hoang vắng
nhứt của cao nguyên Trung Á.
Như tên tác phẩm đã phân định, rõ ràng có
hai vế chủ yếu được đề ra ở đây. Vế “Cửu Long Cạn Dòng” là tiếng kêu cảnh giác về
nguy cơ xảy đến trong một tương lai gần kề cho dòng sông Mekong khi mỗi quốc gia nằm trên dòng sông chỉ nhằm nhu
cầu phát triển nguồn thủy điện cứ tiếp tục xây dựng đập, không cứu xét đúng mức
các hậu quả tai hạiû về môi sinh cho dân chúng trong vùng và cả dân chúng các
quốc gia ở vùng hạ lưu.
Ngô Thế Vinh đứng trên quan điểm môi sinh,
nên nêu vấn đề nặng về khía cạnh nhân bản, đòi hỏi những nguồn lợi kinh tế,
trên cấp bậc quốc gia, thu thập được do các con đập không thể hy sinh quá đáng
về những điều kiện sống bình thường của người dân trong vùng được.
Nhân dịp này, tác giả đã thẳng thắn vén
lên bức màn huyền thoại lâu đời của các định chế quốc tế chuyên trách tài trợ
các dự án phát triển, cụ thể là Ngân Hàng Thế Giới, thường thấy thuận lợi hơn
khi hợp tác với các chánh quyền độc tài địa phương, viện lẽ các chánh quyền này
có đủ điều kiện duy trì ổn định chánh trị cần thiết để tiếùn hành các dự án xây
đập, luôn luôn đòi hỏi phải tổ chức di chuyển dân chúng sống trong vùng bị chôn
sâu dưới khối nước dự trữ ơ các hồ chứa.
Trong vấn đề dòng sông Mekong, một nước
Trung Hoa to lớn đang ngự trị ở thượng nguồn, độc quyền nắm thế thượng phong, lặng
lẽ xây dựng hàng lọat đập thủy điện, biến các đoạn dòng sông Mekong thành ô nhiễm
quá mức do chất thãi của các nhà máy kỹ nghệ nằm dọc theo bờ sông, mà không có
một biện pháp xử lý nào cả; Việt Nam và
Cam Bốt là các nước nằm dưới vùng hạ lưu hẳn nhiên sẽ phải lãnh đủ các hậu quả
ô nhiễm này.
Để được tự do hành động cho quyền lợi
riêng mình, Trung Quốc luôn luôn né tránh, không bao giờ muốn thành hội viên Ủy
Hội Sông Mekong, và đây có thể là một phát hiện kỳ thú của tác phẩm, ít được dư
luận thế giới quan tâm: Trung Quốc đã cho phá vỡ các khối đá khổng lồ để tạo ra
một dòng sông chảy xuống đến đất Lào.
Khuynh hướng bá quyền của Trung Quốc đã được củng cố thêm do bởi chủ
trương bành trướng lãnh thổ ở vùng Biển Đông được tác giả phân tích tại chương
XV là chương mang tên được dùng làm tên tác phẩm: “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông
Dậy Sóng”, đặc biệt triễn khai vế thứ 2 của tên sách (Biển Đông Dậy Sóng) hàm ý
nhắc đến biến cố Trường Sa năm 1974 và Hoàng Sa năm 1988 – vết thương hằng sâu
khó lành của mọi người dân Việt - từ đó, ghi nhận những khía cạnh của chủ
trương bá quyền của Trung quốc trong vùng Đông nam Á. Trong bối cảnh đầy đe dọa về lãnh thổ ngoài
biển Đông, nhân vật Hộ (trang 476) chắc hẳn đã làm nhiều người đọc bàng hoàng
khi khẳng định: “Từ hơn một thập niên qua, việc đơn phương chuyên quyết tiến
hành xây chuổi 8 con đập khổng lồ Văn Nam, trên thực tế Trung Quốc đã phát động
một cuộc chiến tranh môi sinh không tuyên chiến với 5 nước nước hạ nguồn sông
Mekong.” Nhưng đối lại và gợi nhớ tinh
thần bất khuất của mọi người dân Việt Nam, Ngô Thế Vinh đã cho ghi ở đầu chương
các vần thơ cảnh cáo bất hủ của Lý Thường Kiệt: Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư...
Như tác giả xác định, các nhân vật trong
tác phẩm đều thuộc phần hư cấu, nhưng lối xây dựng hư cấu của Ngô Thế Vinh thực
sự đã tạo cảm giác như phảng phất đâu
đây hình ảnh, phong cách một số mẫu nhân vật có thật ngoài đời. Đó là ông Khắc, một nhà báo lão thành, cọng
tác với tờ báo Mỹ chuyên trách các đề tài về Đông Nam Á và Việt Nam; Cao thuộc
Nhóm Bạn Cửu Long thường xuất hiện nhiều trong các chương sách, phát biểu tầm
nhìn bao quát có giá trị chiến lược lâu dài về môi sinh; Duy là một thanh niên gốc Bắc, lớn lên trong
Nam, tốt nghiệp Đại học Mỹ, có nhiều công trình đăng ở tập san y khoa nổi tiếng,
bên cạnh có Bé Tư, một cô gái thông minh sâu sắc, nhưng rất chính chắn, được
Ngô Thế Vinh đệm thêm một vài nét phác họa tình cảm với Duy để gây chút thơ mộng
trong câu chuyện dòng sông Mekong...
Các nhân vật này tạo thành chất kết dính
các sự kiện, được gắn vào các vai trò dấn thân vì môi sinh, tham quan, tham dự
các hội nghị, trao đổi... được tác giả lồng vào những phát biểu sâu sắc, chứng
tỏ thẩm quyền trong lãnh vực chuyên môn có liên quan, khi thì mang tính nhận định hoặc quan điểm,
khi thì phê phán cần thiết ở trong các tình huống thích hợp liên quan đến dòng
sông Mekong. Những nhận định và phê
phán này thuờng nhẹ nhàng trong phong cách lịch sự trí thức, nhưng khi cần thi
cũng rất khe khắt, chẳng hạn như đối với cuộc thảm sát quy mô thời Pol Pot, chủ
trương cáp duồn thời Lon Nol ở Cam bốt,ø những mặt tiêu cực của chánh sách đổi
mới tại Việt Nam, hậu quả tiêu ma cho Tràm Chim vùng Tam Nông, một số loài vật
quý hiếm trên thế giới có nguy cơ bị diệt chủng... Ngô Thế Vinh cho thấy đã thận
trọng duy trì liều lượng vừa phải để những người nhất là những chức quyền có liên quan vẫn còn lắng tai nghe được và để
cho nội dung thẩm thấu một cách từ tốn theo trình độ hiểu biết của họ.
Có một điều gợi lên cho người đọc chút
xót xa cho đất nước Việt nam trong hoàn cảnh hiện tại là các nhân vật thuộc
hàng chuyên gia Ngô Thế Vinh xây dựng trong tác
phẩm thì hoặc thuộc thế hệ lão thành, hoặc thế hệ trẻ mới vươn lên,
nhưng hầu hết đều từ nước ngoài đi vào quê me.
Dù vậy, tác giả cũng đã không để
cho họ cảm thấy như là những người xa lạ trên quê hương mình, bất chấp các thủ
tục vụn vặt, chẳng hạn như phải khai báo với công an địa phương (chi tiết phiền
hà này không có ghi trong tác phẩm). Đến
khi sang nước khác tiếp xúc với chuyên viên như Cham Sak chẳng hạn là chuyên
viên đang sanh sống hành nghề tại chính nước Thái Lan chánh gốc của mình, họ
phát biểu một cách hồn nhiên trên cơ sở là chuyên gia Việt Nam với nhiệt huyết
phục vụ môi sinh, phục vụ đất mẹ Việt nam của họ.
Được trang bị vốn hiểu biết kỹ thuật
chuyên môn cùng kinh nghiệm thu thập ở nước ngoài, các nhân vật chuyên gia Việt
Nam này cũng mang theo về nước tầm nhìn bao quát có tính chiến lược lâu dài và
phương pháp xử lý bám sát tinh thần đối chiếu khoa học, hẳn nhiên phải khác và
đôi khi còn đối nghịch với cả cách nhìn không tự thấy là cục bộ của nhân vật Mười
Nhe mà Ngô Thế Vinh đã xây dựng phản ảnh một cách trung thực tài tình mẫu hình
cán bộ Cọng sản trung kiên có thể tìm thấy ở nhiều nơi tại vùng châu thổ sông
Mekong.
Ngay cái tên Mười Nhe cũng đã gợi lên chút
tính trào lộng, ai cũng tưởng rằng ông Mười Nhe này luôn luôn ...nhe rằng cười,
nhưng sự thực, Mười Nhe đã được Ngô Thế Vinh mô tả “vóc người ốm nhỏ, có nước
da sạm đen hơi tái của người thiếu máu kinh niên , khuôn mặt xương xẩu vẻ cằn cỗi
và khắc khổ..” là hình ảnh hiếm hoi của những người cộng sản chân chính còn sót
lại, trong chức vụ Huyện Ủy Tam Nông, đã tích cực thực thi chánh sách đổi mới bằngõ
“kế hoạch ngũ niên tự phát”, nâng dân số Huyện lên gấp đôi, mang lại cho đồng
bào một đời sống sung túc trong một thời gian kỷ lục. Ông Mười Nhe đã cho chặt
phát rừng tràm thả cửa, đánh cá không phải chỉ bằng lưới mà cả bằng chất nổ, bắt
tất cả cá tôm các cở, cở nhỏ không bán thì để nổi lều bều trên mặt nước, người
dân không mấy chốc đều khá giả. Nhưng hậu quả là, diện tích rừng tràm nổi tiếng
phong phú thì nay chỉ còn một phần ba, cả ngàn con hạc quý hiếm nay chỉ còn khoảng
500 con! Mười Nhe vui và hãnh diện với
thành tích vượt bực của mình trong công trình đưa Huyện nhà đi lên, (tác giả
không có ghi khẩu hiệu “tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội”) nhưng làm
sao để đưa vào đầu con người cán bộ già nua và thủ cựu này khái niệm vùng đầm lầy
và tràm chim là một kho tàng phong phú về sinh học, là cái nôi của chu kỳ sinh
sản và tăng trưởng cho nhiều giống cá và các loài sinh vật khác? Thiếu học và cuồng tín vẫn còn là “nguyên
nhân nỗi khổ không phải chỉ trên những con người mà còn với đám chim muông và
cây cỏ”, một khía cạnh của thảm trạng của dòng sông Cửu Long mà Ngô Thế Vinh đã
nêu lên một cách vô cùng thắm thía cho những ai còn có chút suy tư.
Người ta phát hiện ông Mười Nhe có một đứa
con trai tên Thuận theo học trên tỉnh được Mười Nhe kín đáo tự hào, nhưng bị
cho là “chỉ biết có sách vở, cùng bày đặt nói tới nói lui chuyện tào lao môi
sinh môi tử.” Qua sự bảo trợ của Bé Tư,
Thuận được Hội Hạc Quốc tế cấp học bổng du học.
Theo thời trang, Thuận đã chọn đi
Mỹ và đang cố gắng hết sức mình để đạt mức bắt buộc 550 điễm môn Anh văn, cho
nên người ta chỉ trông chờ một lớp người
trẻ như Thuận thay thế những người như Mười Nhe đến tuổi phải nằm xuống dưới
đáy mồ, trong tương lai thế hệ tre trong và ngoài nướcû mới cùng chân thành
truyền đạt cho nhau trên cùng một băng tầng, cùng kết hợp nhau xử lý các vấn đề
môi sinh dòng sông Cửu Long mà thôi.
Nhưng không, thời gian chờ đợi ấy sẽ có
thể rất xa, và nhân vật Bé Tư dù sao cũng chỉ là một hư cấu mang tính lý tưởng; ngoại trừ là trong dòng tộc, còn thì rất khó
mà thiết lập quan hệ gắn bó với Thuận như thế trên thực tế được.
Ngô Thế Vinh đã có cách xử lý thiết thực
và vô cùng tuyệt diệu để thay đổi cách làm ngay của Mười Nhe: cho một đồng chí từ cấp trung ương Đảng khêu
gợi lại cho Mười Nhe lòng căm thù, nêu lý do mất cảnh giác về an ninh quốc
phòng – “phá hoại hết rừng tràm là phá hoại chiến khu...” (trang 200).
*
* *
Qua 645 trang sách, tranh
của Nghiêu Đề, mẫu bìa của Khánh Trường, Cao Xuân Huy trình bày nội dung, được
minh hoạ bằng hàng loạt hình sinh động, một số có giá trị lịch sử, tác phẩm Cửu
Long Căn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng” của Ngô Thế Vinh, õ đưa người đọc đi từ thượng
nguồn ở Tây Tạng, vượt qua các ghềnh thác và sóng gió của lịch sử từng quốc gia
mới xuống đến vùng châu thổ có các cửa sông tỏa nước ra biển.
Dưới thể tài theo mô thức “dữ kiện tiểu
thuyết” độc đáo, duy nhứt, của bản thân Ngô Thế Vinh, tác phẩm quả thật đã thể
hiện một công trình nghiên cứu công phu theo chiều sâu cặn kẽ của từng vấn đề
nêu lên, đánh dấu một đỉnh cao trong văn nghiệp Ngô Thế Vinh. Giá trị căn bản của tác phẩm là đã thành
công, xuyên qua các dữ kiện, cung ứng những thông tin giá trị vô song về quá khứ
sóng gió của từng khu vực dòng sông Mekong chảy qua, để từ đó đưa dẫn người đọc
làm quen rồi tiếp cận với các vấn đề môi sinh được đặt cho toàn vùng, và xây dựng
một tầm nhìn chiến lược bao quát, thoát khỏi những vứơng bận cục bộ địa phương
chỉ biết có riêng mình.
Do thái độ ngạo mạn đàn anh của Trung Quốc
một mặt răn đe xâm lược ở mặt biển Đông, một mặt nắm quyền quản lý khép kín,
thao túng ở đầu nguồn, dòng sông Mekong đang thực sự đối diện với một tương lai
đầy bất trắc do nạn xây đập không có bàn thảo phối hợp, chia xẻ quyền lợi hợp
lý, cân bằng sinh tháiù với các nước khu vực hạ lưu.
Tác phẩm đã làm nổi bật một số chủ điểm,
đơn giản hóa một số hiểu biết chuyên sâu về ngang tầm với người đọc trung bình,
để xây dưng ý thức chung về các tai họa
có khả năng xảy đến, cụ thể là nguy cơ dòng sông Mekong cạn kiệt, nạn nhiễm mặn
đang lan dần vào nội địa quốc gia ở hạ lưu – lại chính là Việt Nam.
Tác phẩm “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy
Sóng” của Ngô Thế Vinh gióng lên tiếng chuông báo động về các nguy cơ kể
trên. Mong tiếng chuông báo động này sẽ
vang xa, tập hợp một lực lượng nhân sự ngày một đông đảo, huy động trí tuệ cùng
góp sức giải quyết các vấn đề môi sinh chủ yếu đã được nêu lên cho dòng sông
Mekong nói chung và cho phần hạ lưu, châu thổ sông Cửu Long nói riêng tại Việt
Nam.
Đỗ Hải Minh
10.17.2000