HIỆN ĐẠI
Dương Văn Chung
An Phú, ngày 15 tháng 06 năm 2010
Kính gởi anh chị Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,
Anh em mình, anh chị, anh chị Bảy Tân Châu, Cô Dượng Út
Châu Phong và vợ chồng tôi đều xuất thân từ miền quê vùng tây Nam bộ, xa Sài Gòn
kinh đô ánh sáng, hòn ngọc Viễn đông xưa kia và đều sanh ra trong “thời kỳ đất
sét”, lúc còn nhỏ mình chỉ dọc đất sét để nắn đồ chơi. Cho nên khi được dịp qua
thăm các cháu bên Úc, một nước văn minh lưng chừng so với nước Mỹ, sao mà nghe
thấy cái gì cũng lạ tai, lạ mắt.
Thoạt đầu tôi thấy có vài người mang bên hông một cái
máy lớn bằng cườm tay, thỉnh thoảng lấy máy ra nhấn nút mấy cái rồi nói chuyện
hoang hoang, giữa đường, giữa chợ, giống như hồi ở trong lính mình sử dụng máy
truyền tin cầm tay ANPRC6 và ANPRC10. Hỏi ra mới biết đó là điện thoại di động.
Tôi ghét những người đó vô cùng, tôi nói họ khoe khoang, phách lối. Bây giờ loại
điện thoại này đã được cải tiến, nhỏ dẹp gọn hơn, không có cây ăn-ten lú ra như
trước, có chỗ gắn ống nghe, tiện dùng để điện thoại, chụp hình, quay phim, nghe
nhạc, xem truyền hình, gởi điện thư, hai bên đối thoại có thể nhìn thấy mặt
nhau…v.v., rất ư là tiện dụng.
Giá mà ngày xưa có được cái máy điện thoại di động tối
tân như bây giờ thì chàng chăn trâu Ngưu Lang và cô gái con trời dệt vải Chức
Nữ vẫn có thể trò chuyện với nhau, nhìn thấy nhau, đâu phải đợi tới tháng bảy mỗi
năm đàn quạ bắc cầu mới được gặp nhau một lần, lệnh cấm đoán của Ngọc Hoàng trở
nên vô hiệu. Cũng vậy, nếu có được chiếc điện thoại di động thì Lý Sanh và Lương
Ý Nương đời nhà Châu bên Tàu yêu thương nhau, vì hoàn cảnh mỗi người ở mỗi đầu
sông Tương, vẫn có thể thấy mặt nhau qua điện thoại để tâm tình và như vậy thì
thế gian đâu có được bài thơ bất hủ:
TƯƠNG
TƯ
Nhân
đạo Tương giang thâm,
Vị
để tương tư bán
Giang thâm chung hữu để
Tương tư vô biên hạn.
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy.
Bản
dịch:
Tương
giang người bảo sâu
Chưa
bằng nửa thương nhớ
Sông
sâu còn có đáy
Tương
tư không bến bờ.
Chàng
ở đầu sông Tương
Thiếp
ở cuối sông Tương
Nhớ
nhau mà chẳng thấy
Cùng
uống nước sông Tương.
Khoa
học càng tiến bộ, điện thoại càng cải tiến, mình thấy càng có nhiều người giống
như khùng đi ngoài đường. Có người vừa đi tay không vừa nói lảm nhảm, có người
la hét, có người vừa đi vừa nhún nhảy như mắc kinh phong. Trời ơi ! Nhìn kỹ mới
thấy mình quê một cục, anh chị Hai à. Những người mà tôi tưởng là khùng đó đang
dùng điện thoại di động để tâm tình, để gây gổ hay để nghe nhạc giựt gân. Họ có
đeo một ống nghe nhét lổ tai có dây rất mảnh nối với cái điện thoại di động dấu
trong túi áo hoặc để trong cái bao da đeo bên hông. Nhà tôi bảo mấy đứa nhỏ mua
cho tôi một cái máy điện thoại di động. Đi đâu tôi cũng mang theo cái “tổng đài
” để khi mình đang đi chợ, bà xã có ra lệnh mua thêm món gì hoặc tìm coi lão nhà
quê có đi lạc hay không. Biết đâu chừng tới một lúc nào đó hòa nhập hoàn toàn vào
cuộc sống “văn minh điện thoại di động”, tôi cũng nói lảm nhảm, la lối hay nhún
nhảy ngoài đường!
Tiến bộ của ngành điện tử không thể nào kể xiết. Chỉ
loanh quanh cái máy vi tính sắp nhỏ chỉ tôi xài để gởi thư cho bè bạn sao mà tiện
lợi nhưng cũng phức tạp vô cùng.
Ngày xưa người ta dùng chim bồ câu, chim nhạn để chuyển
thư hoặc viết thư trên những chiếc lá rồi thả trôi theo dòng nước, người ở dưới
dòng nước đón nhận để đọc. Ngày nay gởi thư bằng đường tàu hay bằng máy bay đã
xem là thuận tiện, nhưng gởi bằng máy vi tính, gọi là gởi “I-meo” còn nhanh chóng
hơn nữa, chỉ cần viết rồi nhấn nút là người nhận sẽ đọc được ngay.
Nghe Cô Út Châu Phong nói nhỏ rằng anh chị Hai ngồi
thiền để trị bệnh, tôi “i-meo” bài thuốc tỏi nấu với đậu trắng để anh chị dùng
thử, không thấy hồi âm, tôi ngại là anh mãi lo tọa thiền, dứt hết các duyên,
chuyện đời gác bỏ ngoài tai. Tôi tự hỏi sao anh lại nỡ dứt đường chim xanh? Hay
là lá thắm đã cạn dòng? Chắc là từ đây không còn đọc được những Lá Thư Từ Kinh
Xáng Bốn Tổng của Cụ Hai Trầu. Buồn quá, tôi làm bài thơ con cóc:
TIN
NHẠN
Tin
đi ngóng tin lại
Nhạn
hồng chẳng vãng lai
Tim mình thấy trống vắng…
Hơi ấm
văn phong ai.
Trông tin tới đỏ con mắt, nên chim xanh thành chim đỏ,
nhạn trắng thành nhạn hồng và văn phong của những lá thư từ Kinh Xáng có cái gì
chất phác, chân tình, hâm nóng tình bạn, tình đồng hương.
Khổ một nỗi là hiện đại thành ra “hại điện” đó anh chị
Hai. Tôi dùng máy vi tính đánh máy có dấu chữ Việt để đánh địa chỉ “i-meo” của
anh Hai mà vô ý, tôi đánh số 7 tiếp liền theo chữ U, máy không hiện ra chữ U7 mà
lại thành ra chữ Ư, đánh 2 chữ O dính liền không thành OO mà thành Ơ, vì vậy
Yahoo (Da-hu) thành Yahơ (Da-hơ).
Chắc lá thư tôi gởi anh chị đã một đi không bao giờ trở
lại, nó đang nằm trong văn khố của Hãng Internet Da-hơ trên trời.
Thân chúc anh chị vui thú điền viên với hoa sen, hoa súng
đầy màu sắc đẹp tươi, tọa thiền viên mãn.
Thân kính,
Chung An Phú