NGHIÊM ĐƯỜNG
Dương Văn Chung
Nghiêm
là có uy thế làm cho kẻ khác sợ, đường là nhà, là cung thất. Xưa kia từ “nghiêm
đường” dùng để chỉ người cha. Cha còn được gọi là nghiêm phụ. Nói đến cha, người
ta thường liên tưởng đến uy quyền của một bậc gia trưởng đối với con cái, trong
khi mẹ đầy lòng từ ái, đùm bọc chở che các con.
Trong
mùa Vu Lan nhiều người nhắc đến mẹ, còn cha thường bị bỏ quên. Lễ cài hoa hồng
căn cứ vào người mẹ còn hay mất, mẹ còn thì gắn hoa hồng đỏ, mẹ mất thì gắn hoa
hồng trắng. Có màu hoa hồng nào hay có loại hoa đặc biệt nào dành cho cha? Phải
chi trên thế gian nầy có loại “hoa nghiêm đường” tôi đề nghị dùng làm biểu tượng
cho người cha, hoa chỉ có một màu dù cha còn hay mất.
Mùa
Vu Lan sắp tới, tôi chạnh nhớ đến cha tôi. Người thật là thương con, nhưng lại
rất nghiêm. Cha mẹ tôi một cột một kèo, nhà nghèo, con đông. Xin lỗi, tôi lại
“khoe” cái nghèo. Nhưng nghĩ lại nghèo thì nói nghèo có gì đáng xấu hổ, phải không
quý bạn? Cha tôi thường dạy Nghèo cho sạch, rách cho thơm, có gì đâu phải
giấu giếm?
Người
ta thường nói:
Nhà
nghèo mới hay con thảo,…
Con nhà nghèo ăn một món ngon, nó nhớ đến cha mẹ không
có tiền mua món đó để ăn, nó sẽ nhín lại để phần ăn ngon cho cha mẹ. Trái lại,
cha mẹ nghèo bao giờ cũng hy sinh tất cả cho con mình. Còn những kẻ dư ăn dư để
có chắc gì nghĩ đến nhau, người nầy nghĩ rằng người kia đã có quá dư thừa vật
chất, thiếu thốn gì mà phải lo. Một câu chuyện nhỏ mà người cha nghèo đã lo cho
anh chị em chúng tôi. Dưới sông trước nhà tôi dạo đó có trải đáy bắt cá. Cha tôi
dặn mấy người bạn ghe đáy khi nào bắt được một con cá chạch lấu lớn thì để cho
cha mua. Lúc giữa khuya, cha mua được con cá chạch, đem nướng trui, làm nước mắm
me chín, đánh thức các con dậy ăn, cá còn nóng ăn mới ngon. Cha biết các con thèm
cá chạch lắm, nướng cá tươi cho con ăn cho đã thèm.
Tuy
lo miếng ăn cho con cái, nhưng cha tôi dạy con cái về cách ăn uống rất kỹ, dĩ
nhiên là dạy theo cách riêng của ông. Mỗi bữa ăn, các chị tôi dọn thức ăn chung
quanh một cái mâm tròn bằng nhôm hay bằng thau, chính giữa mâm là một chén nước
mắm đồng. Cha dạy ăn coi nồi, ngồi coi hướng. Muốn bới cơm thêm, nên liếc
nhìn cái nồi coi còn cơm hay không. Nếu cơm còn ít thì đừng bới nữa hoặc bới ít
thôi để nhường phần cơm cho người khác. Khi vẽ cá thì không được vẽ cái lườn cá,
vì lườn cá là chỗ béo, ăn trước người lớn là ăn hỗn, phải đợi người lớn vẽ cho.
Gắp thức ăn chỗ gần mình nhứt, khi nào chỗ gần hết mới được gắp chỗ xa. Không được
vẽ cá bằng “đũa nằm”, nghĩa là không để nghiên đôi đũa sát xuống con cá mà vẽ,
vẽ như vậy hết phân nữa con cá rồi.
Khi
có khách dùng cơm với gia đình, trẻ con phải ăn theo cách của người lớn, và một
miếng cơm, gắp một miếng thịt hoặc cá rồi để đũa xuống, vừa nhai không hả miệng
vừa nghe khách và người lớn nói chuyện. Đến khi khách bắt đầu và cơm và gắp thức
ăn nữa thì mình mới làm theo. Không được nói chen vào câu chuyện của khách và
người lớn, vì nói như vậy là nói “ăn cơm hớt”. “Ăn theo nghi lễ” thật là phiền
phức và mất thời giờ, nên mỗi khi có khách dùng cơm, tôi thường trốn trong bếp để
ăn cho thoải mái.
Cha
cũng căn dặn trong mâm cơm, chỉ nói chuyện gì vui, tránh tranh cải làm mất hòa
khí, ăn mất ngon.
Cha
tôi ít đánh đòn con cái. Khi cần đánh đòn, ông lựa cái roi mỏng, có bề bản lớn để
đánh vào đít trẻ con nghe rát thôi chớ không gây thương tật. Ông nói trời sanh
ra cái đít con nít để dành đánh đòn, không nên đánh vào chỗ khác có thể gây
nguy hiểm.
Khi
con cái phạm lỗi lầm, ông bắt cúi xuống để nghe ông hài tội. Đặc biệt là ông
cho con giải bày và tự biện hộ. Khi nào con cái đuối lý, ông mới kết tội lần cuối
rồi cảnh cáo hay đánh một roi thôi để nhớ đời.
Thuở
nhỏ tôi có tánh hay lập công. Mỗi khi hai chị tôi gây gổ với nhau hay phạm lỗi
lầm gì, tôi thèo lẻo, méc cha tôi. Thấy hai chị tôi bị rầy, tôi khoái chí lắm.
Một làn nọ, cha tôi bảo hai chị tôi cúi xuống và kêu tôi đi kiếm roi.Tôi xông xáo
đi tìm và trong phút chốc đem cây roi đến dâng cho cha tôi. Cha tôi không khen
tôi tiếng nào mà còn lớn tiếng ra lệnh cho tôi:
-Còn
mầy nữa, cúi xuống!
Tôi
ngơ ngác nhìn cha tôi. Ông giục:
-Cúi
xuống!
Tôi
lẹ làng cúi xuống bên cạnh hai chị tôi.
Xử
hai chị tôi xong, cha tôi hỏi tôi:
-Mày
có biết tội gì chưa?
Tôi
trả lời:
-Dạ
chưa.
Ông
nói:
-Cái
tội xăng xái lập công mà không thương tưởng tình chị em, không biết đến nỗi đau
đớn của hai chị.
Tôi
nhận một roi sau khi nghe giảng bài học luân lý khá dài.
Các
mẫu chuyện trên đây tuy nhỏ, nhưng đối với tôi là những bài học làm người có giá
trị rất lớn lao, đó là hành trang mà cha tôi đã chuẩn bị cho con cái mang vào đời.
Con
xin cúi đầu mặc niệm đấng nghiêm đường đã một đời làm lụng vất vả để nuôi con,
một mực yêu thương và chăm lo giáo dục con cái.
Dương Văn Chung