TÌNH QUÊ CÒN ĐÓ
Dương Văn Chung
Cứ ngỡ ngày nay cái chân tình
của bà-con quê mình đã mất, nhưng tôi đã lầm, nó vẫn còn đó, vẫn đậm đà, chân
thật như xưa, mặc dầu sau bao năm sao dời vật đổi.
Ngày 08/04/2008, tôi về Việt
nam lo bốc mộ cho cha mẹ và vợ chồng em trai tôi để cải táng nơi khác. Chúng
tôi dừng chân, nghỉ qua đêm tại Sài gòn, ngày sau cháu tôi lên đón chúng tôi về
Thị trấn An Phú-An giang.
Đêm đó, 10/04/2008, gia đình
tôi cúng vái cửu huyền thất tổ và hương linh của cha mẹ và vợ chồng em tôi, đồng
thời đặt bàn hương án giữa trời để cáo tế với hoàng thiên hậu thổ, đất đai
giang trạch. Ba-con hàng xóm tự động đến rất đông, thắp hương cầu nguyện cho việc
bốc mộ được tốt đẹp, gia đình tôi được hanh thông. Ai cũng coi việc bốc mộ là hệ
trọng, động mồ động mả là điều tối kỵ, gia đình đang sum họp có thể tan rả,
đang hạnh phúc trở thành đổ vở, đang hên trở thành xui xẻo. Gia đình chúng tôi
cũng cực chẳng đã mới làm điều kiêng kỵ đó.
Bà con đến với gia đình chúng
tôi chỉ vì một tình thương, một sự tương thân tương trợ, hữu sự có nhau. Cúng
vái xong, chỉ thăm hỏi nhau một chút rồi ra về, vậy mà đã để lại trong lòng tôi
một ân tình nặng trĩu,
Bốc mộ xong, vợ chồng tôi quá
giang xe của chú Út tôi đi thăm người thím thứ tư ở ấp Chợ, xã Mỹ An, huyện Mang
Thít tỉnh Vĩnh Long. Đâu ngờ hôm sau là đám giỗ của chú Tư tôi, nên chúng tôi ở
lại cúng.
Từ sáng sớm quý bà, quý cô
bà-con hàng xóm đã đến rất đông để tiếp gọt xắt, nấu nướng, đồng thời mang đến
nhiều quà để cúng, người thì một mâm xôi, người thì một con cá lóc, người thì một
chục xoài cát Hòa lộc cây nhà lá vườn…v.v. Khoảng mười giờ, các đấng mày râu đến,
đem theo một hai chai “ba xi đế”. Mỗi người đều thắp một nén hương cho chú Tư
tôi, cúng xong, nhập tiệc, trao đổi “chuyện Đường chuyện Tống”. Thức ăn có bê
thui, cà ri gà, xôi, vịt luộc nước mắm gừng, cá lóc nướng trui…. Mấy ông xoay
vòng nóc từng ly nhỏ “nước mắt quê hương”, sách có câu “vô tửu bất thành lễ”,
không có rượu là không thành lễ nghi.
Tôi có dịp ngồi ăn chung với
một nhà nho, chú Hai Viên, bà-con họ với thím Tư tôi. Chú Hai biết rất nhiều
chuyện xưa tích cũ. Nhân dịp nhắc đến hát bội, tôi nhớ đến cầm chầu, nên hỏi
chú Hai Viên:
-Người ta nói: Ở đời có bốn cái ngu: làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu. Ba cái
ngu trước thì dễ hiểu. Làm mai cho một cặp, hạnh phúc thì họ không nhớ đến
mình, còn không vui vẻ với nhau thì kéo mai dong ra chửi. Người ta mượn nợ để
xài, trả nợ không nổi thì người bảo lãnh nai lưng ra trả. Gác cu phải kiên nhẫn
đợi chờ, kiến cắn không dám nhút nhít vì sợ động thì con chim cu bay đi. Còn tại
sao “cầm chầu” là ngu?
Chú Hai Viên đáp:
-Mấyngười nghệ sĩ hát bội ngán nhưng mà ghét mấy ông cầm chầu lắm. Đánh trống
đúng không nói gì, nếu đánh sai hoặc họ hát chưa hết câu mà người cầm chầu đã
đánh trống là “đánh vô họng nghệ sĩ ”, họ nói người cầm chầu úp mặt vô da trâu.
Da trâu ám chỉ là mặt cái trống, bịt bằng da trâu. Chú Hai cũng nói bài thơ:
THƠ CẦM CHẦU
Chẳng
hay số hệ lụy về đâu
Sanh
đẻ cháu con muốn đánh chầu
Nhảy cao đá rộng thùng hai tiếng
Ngọt giọng ton hơi ném một xâu
Nem chả một ai giai bất biết
Xây
lưng xấp mặt giữ da trâu
Rượu đã cạn thì đến trà. Chuyện
Đường chuyện Tống vẫn tiếp tục. Tráng miệng bằng xoài cát Hòa Lộc chín cây vàng
ánh, ngọt lịm.
Thím Tư tôi chuẩn bị tặng
bà-con mỗi người một ít quà đám giỗ, Bánh sáp đi, bánh quy lại.
Tình quê còn đó, có mất đâu !