ĐÔI DÒNG CHIA SẺ VỚI NHÀ VĂN VŨ THẤT
Khiêm Cung
Khoảng đầu năm 2005, anh Lưu Nhơn Nghĩa báo cho tôi biết
có trang mạng Thất Sơn Châu Đốc do vợ chồng hai bạn Đoàn Đông, Lộc Tưởng, cựu học
sinh Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, chủ biên. Ảnh cũng khuyến khích
tôi viết bài gởi đăng. Tôi rất ngại viết, vì lúc còn đi học tôi chọn ban toán,
tôi không tin vào khả năng “viết lách” của mình. Ngại thì ngại, nhưng tôi cũng
chập chững viết, viết để bạn bè đọc, tôi nghĩ hay dở cũng không sao. Tôi vừa viết
vừa đọc bài của người khác viết để bắt chước. Trong số những bài tôi đọc để “ăn
cắp kiểu” có hai bài của nhà văn Vũ Thất: Chiều Trên Kinh Vĩnh Tế, truyện ngắn
đăng ngày 15/04/2005 và Đường Đến Hoàng Sa, bút ký đăng ngày 07/06/2005.
Tôi rất thích bài Chiều
Trên Kinh Vĩnh Tế, vì tác giả đã tả rất sống động cảnh từng thấy ngoài đời, chàng
thủy thủ trẻ tên Quốc thấy nữ sắc thì chồm hôm, bỡn cợt, quên mất bài học đề
phòng mỹ nhân kế, rồi để lấy le với người đẹp, anh biểu diễn tài nghệ lái giang
đỉnh với một siêu tốc, nguy hiểm đến độ thuyền trưởng Hoạt, sau mấy lần cảnh
cáo, đã tống cho anh ta mấy quả đấm thôi sơn, làm cho anh ta nhào đầu xuống sông.
Anh bị trừng phạt theo quân kỷ không oan uổng chút nào, mặc dầu chúng ta thông
cảm, một số nhà tu còn động tâm trước nữ sắc, huống hồ gì chàng trai trẻ nầy
Đường Đến Hoàng Sa cho thấy
rõ hơn về cuộc đời của tác giả, qua vai trò của Thiếu Úy Ban, là một sĩ quan hải
quân mới tốt nghiệp được sáu tháng, đang thực tập trong những cuộc hải hành.
Rồi mới đây, qua cuộc tâm
tình giữa ông Hai Trầu và nhà văn Vũ Thất (đăng trên tạp chí Da Màu
và Thất Sơn Châu Đốc), tôi được biết nhiều hơn về binh nghiệp hải quân
và khả năng sáng tác của nhà văn Vũ Thất. Về binh nghiệp, ông đã từng giữ chức
vụ hạm trưởng, còn về văn nghiệp, ông đã cho ra đời ba tác phẩm Đời
Thủy Thủ (1969), Trong Cơn Bão Biển (1970), Một
Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh (1975) và đến hôm nay ông vẫn còn tiếp tục viết
về trận chiến Hoàng Sa năm 1974 thay cho quyển Đời Hạm Trưởng ông
dự định viết trước đây theo yêu cầu của Nhà Xuất bản Thiên Tứ (Sài Gòn).
Nói đến hải quân tôi liền
nhớ đến bản nhạc Thủy Thủ và Biển Cả của Y Vũ:
“Với biển cả anh
là thủy thủ…, với lòng nàng anh là hoàng tử…Nhớ chuyện ngàn đêm xứ Ba Tư. Và
chuyện thần tiên bao thế hệ. Cho anh bao giây phút say sưa, cho anh thêu muôn
giấc mơ hoa, cho anh luôn yêu đời hải hồ.”
Lúc còn trẻ tôi cũng dệt mộng
hải hồ, thấy bộ lễ phục của hải quân vừa đẹp đẽ vừa oai hùng, tôi rất mến mộ
binh chủng nầy, nhưng vì ngại biển e sông và vì không hội đủ tiêu chuẩn tuyển
quân của binh chủng, mộng không thành, tôi đành phải đi bộ (bộ binh), không đi
tàu (hải quân). Tôi tự an ủi dù là đi binh chủng nào, tất cả đều cùng đứng dưới
một lá cờ duy nhứt để phụng sự tổ quốc.
Phàm làm việc gì cũng có
lúc sướng, lúc khổ, hãy đọc lại Đường Đến Hoàng Sa mới thấy “hoàng tử của
lòng em”, thiếu úy Ban nhà ta đã lắm phen ói cả mật vàng, mật xanh khi con
tàu lắc lư trên biển cả. “Ai bảo chăn trâu là khổ? Chăn trâu sướng lắm chớ!...”
Trời ơi! Dãi nắng dầm mưa, sướng ở chỗ nào?. Có tin nhạc sĩ thì tin một nữa
thôi nghe. Hoàng tử sống trong lâu đài, có kẻ hầu người hạ, vợ đẹp cận kề, còn hoàng
tử ở trên chiến hạm, “ trước đại dương xanh muôn trùng” xa vợ con, xa
người yêu, xa bến bờ buồn vô hạn, “càng đi xa anh càng nhớ em”(Y Vũ-Thủy Thủ
và Biển Cả), chỉ có thủy thủ mới thương nhớ bến bờ, ngửi được “mùi đất
liền” (Đường đến Hoàng Sa). Gian khổ và nhớ nhung như vậy mà người
thủy thủ vẫn kiên tâm ở lại với con tàu, tiếp tục nghĩa vụ cao cả của người quân
nhân phụng sự tổ quốc, thật là đáng khâm phục.
Đáng khâm phục hơn nữa là
ngoài nghiệp võ, nhà văn Vũ Thất còn thành công về nghiệp văn, ông là
một trong những nhà văn mà tôi học hỏi, bắt chước. Nhưng hình như yếu tố thành
công về văn chương là thiên phú, bắt chước cách viết văn của Vũ Thất thì được,
làm sao bắt chước cái khả năng trời ban cho Vũ Thất? Tôi không bắt chước nổi những
bài viết cao siêu của nhà văn Hoài Ziang Duy, một bạn đồng môn, học trung học
sau tôi, nhưng là bậc tiền bối của tôi về lãnh vực văn chương. Có nhiều lần tôi
bắt chước cách viết bình dân của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa hay lối văn miệt vườn
dễ thương của ông già nhà quê Hai Trầu, nhưng tôi không thành công, viết rồi đọc
lại thấy vô duyên quá nên xóa đi.
Càng đọc, càng đi sâu vào
trong lãnh vực văn chương, tôi thấy khu vườn văn học nghệ thuật rộng mênh mông
và có quá đông người viết, mỗi người ở một góc vườn, có cái góc nhìn khác nhau,
có ý tưởng khác nhau khi trước tác, mỗi bài viết, mỗi tác phẩm đều đáng trân
quý.
Còn quên, tôi có nghe người ta nói thủy thủ đa tình, “bao
nhiêu bến là bấy nhiêu tình”, không rõ Hạm Trưởng có bến nào nữa ngoài bến
chánh hay không? Và Hoa Biển rất thiết tha có làm ướt át Nhà văn Hạm Trưởng hay
không?
Tôi có tật hay nói đùa,
xin Nhà văn Hạm Trưởng Vũ Thất bỏ qua cho.
Văn chương thời nào cũng quá rộng, người viết văn lúc nào cũng quá đông; nhưng sao trong lòng tôi
vẫn luôn luôn ngưỡng mộ nhà văn Vũ Thất, cả về văn nghiệp lẫn võ công của ông vậy!.
Sydney, ngày 25-12-2010