NAM VANG KÝ SỰ
Hà Kỳ Lam
Tôi
vừa theo chân gia đình bên vợ trong chuyến viếng thăm thủ đô Nam Vang trong hai
ngày. Với tôi, đó là lần đầu tiên đặt chân lên đất nước xứ Chùa Tháp. Với vợ
tôi và những người thân thuộc, chuyến đi là cuộc hành hương về đất tổ đầy xúc
động của những người Việt sinh ra và lớn lên trên đất nước lân bang đó. Và như
vậy cuộc viễn du của chúng tôi tổng hợp cả cảm nhận của một du khách mới, và
những kiểm chứng của người trở về...
Từ
Sài Gòn, chúng tôi mua vé xe buýt du lịch khứ hồi đi Nam Vang. Hành trình theo
quốc lộ 22 qua Củ Chi, Trảng Bàng, rẽ vào Gò Dầu, đến biên giới mất khoảng hơn
một giờ. Từ biên giới, sau các thủ tục xuất cảnh Việt Nam, nhập cảnh Campuchia, chúng tôi phải sang xe khác (với tài xế và bảng số Campuchia) để tiếp tục
hành trình đến thủ đô Nam Vang. Đại khái là như vậy, nhưng thủ tục tại biên
giới khá phiền phức – về phía quan chức Việt Nam cũng như quan chức Campuchia,
lượt đi cũng như lượt về – và người viết thấy không thích hợp để dài dòng ở đây
về điều này. Tưởng cũng nên nói thêm là mới đây (sau chuyến đi của chúng tôi ít
hôm) Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam và Thủ Tướng Hun Sen của Campuchia
đã gặp nhau tại cửa ngõ biên giới Gò Dầu (Mộc Bài) trong một nghi thức được coi
như để khẳng định sự thông thương dễ dàng giữa hai nước, và hy vọng từ nay dân
hai bên sẽ được giảm bớt nhiều phiền toái trong việc đi lại. Tuy nhiên để tiện
cho những du khách Việt mang thẻ thông hành ngoại quốc, chỉ xin “mách” một
điều: chiếu khán nhập cảnh do các tòa đại sứ Việt Nam cấp có giá trị cho một
lần nhập cảnh và xuất cảnh; điều đó có nghĩa là một Việt kiều về thăm Việt Nam,
rồi đi du lịch ngoài nước thì sẽ không nhập cảnh trở lại Việt Nam được, nếu
không xin một chiếu khán nhập cảnh mới. Để giải quyết vấn nạn này, tại các văn
phòng đại lý du lịch và hàng không bán vé đi ngoài nước có dịch vụ xin cấp
chiếu khán nhập cảnh trở lại Việt Nam với giá tám mươi đô la cho mỗi người. Du
khách cũng có thể mua dịch vụ này tại một văn phòng du lịch ở Nam Vang với giá
năm mươi đô la (rẽ hơn bên Việt Nam).
Quốc
lộ 22 của Việt Nam dừng ở cửa Mộc Bài, và con đường tiếp nối dẫn vào đất Miên
là quốc lộ 1 của Campuchia, con đường đi về Tây, dẫn vào thủ đô Nam Vang, rồi
vòng lên phía Bắc đến Battambang.
|

Cửa ngỏ vào đất Miên từ Gò Dầu Hạ,
Tây Ninh (22-9-2006)
|
Bây giờ là
mùa nước lên ở Cao Miên, và chuyến đi của chúng tôi rơi đúng vào dịp Lễ Nước
P’chum của đất nước này (ba ngày từ 22-9-2006 đến 24-9-2006). Cả nước nghỉ
ngơi, vui chơi. Mùa mưa vùng Tây Nam của Việt Nam trùng với mùa mưa Cao Miên. Vào
tháng này những cánh đồng của hai đất nước thật giống nhau, nước lênh láng ngập
bờ. Điều dị biệt giữa đồng ruộng miền Nam Việt Nam và Campuchia là nhà sàn và
trâu bò; một bên có nhiều nhà sàn và nhiều bò, và một bên không có nhà sàn mà
lại nhiều trâu. Nhưng chuyện trâu bò là chuyện ngày xưa: nông thôn Việt Nam bây giờ được cơ giới hóa hầu hết, và hình ảnh con trâu với cái cày đã hầu như biến mất
trên đồng ruộng. Campuchia vẫn còn cảnh tượng con bò với cái cày khắp nơi, một
điều cho thấy nông nghiệp xứ này chưa được cơ giới hóa gì ráo.
Vượt
hằng trăm cây số của đất nước Campuchia trên một chiếc xe chở khách trọng tãi
lớn, du khách có một cái nhìn bao quát phong cảnh nông thôn trãi dài hai bên
đường. Với cái nhìn “cưỡi ngựa xem hoa” đó tôi thấy nông thôn Campuchia có vẻ
nghèo hơn nông thôn Việt Nam. Điều cảm nhận của tôi dựa trên sự kiện là ít
thấy những ngôi nhà gạch khang trang ở đây, điều tương phản với cảnh trí dọc
đường Việt Nam.
Đi
bằng đường bộ từ Sài Gòn đến Nam Vang du khách cũng có dịp thấy các trục lộ
giao thông của xứ Chùa Tháp chưa được mở mang bao nhiêu. Ngoại trừ một đoạn gần
vùng Neak Loeung mới tu bổ, còn lại suốt đường dài đến thủ đô Nam Vang đường sá
tồi tệ và chật hẹp, giống hệt quốc lộ 1 của Việt Nam thời chưa tu sữa (đều là
những đứa con đẻ của Pháp mà lị!). Lối chuyên chở của các xe đò ở Campuchia thì
rất “tùy tiện” – cả người lẫn hành lý được chất lên tận mui xe. Lưu lượng xe trên
đường rất thưa thớt. Có điều lạ là từ hướng Việt Nam mới có xe cộ nhiều, còn
hướng từ Nam Vang đổ về biên giới Việt-Miên dường như ít xe cộ hơn. Không biết
có phải vì đúng vào dịp lễ P’chum nên dân Miên đi chơi xa đổ về tấp nập, hay vì
nhu cầu xê dịch chỉ mạnh từ phía Việt Nam. Dù sao thì mức độ lưu thông cũng nói
lên phần nào nhịp độ phát triễn của đất nước này còn khá chậm. Gần đến Nam Vang
lưu lượng xe có tăng lên đôi chút.
|

Đồng ruộng tỉnh Svayrieng mùa nước
nổi (22-9-2006)
|
Xe
chúng tôi qua cầu Monivong, và lăn bánh trên đại lộ mang cùng tên. Thủ đô của
xứ Chùa Tháp đây rồi. Theo đại lộ Monivong một đoạn ngắn, rồi xe rẽ trái sang
đại lộ Sihanouk, và cuối cùng rẽ vào một con đường đất và dừng tại một khách
sạn rẽ tiền, nơi chúng tôi sẽ trọ hai đêm trong chuyến du hành này. Mỗi phòng
hai giường giá mười đô la một ngày. Vì phòng trọ giá “bình dân” như vậy nên
chúng tôi chẳng chờ đợi một tiện nghi tối thiểu nào. Chẳng hạn, máy điều hòa
không khí xịch lụi khi chạy, khi không, chẳng có thùng đựng rác trong phòng, và
chúng tôi phải tự tìm một túi ny lông để chứa rác; cửa nẽo thì “ồn ào” khi đóng
lại.
Nam
Vang nhỏ hơn Sài Gòn. Dưới mắt vợ tôi, một cư dân của Nam Vang cũ trở về sau
bốn mươi năm đi xa, thành phố không thay đổi bao nhiêu. Đêm đầu tiên, sau bữa
ăn tối, chúng tôi dạo phố. Những cửa tiệm, nhà ở của dân chúng thì đèn điện
sáng sũa, nhưng đèn đường thì âm u, vàng vọt. Chỉ những đại lộ mới có đèn
đường, những con phố còn lại chìm trong bóng tối, được soi sáng mờ mờ và từng
đoạn bởi ánh đèn nhà hai bên phố hắc ra. Hôm sau chúng tôi đi thăm nhiều nơi
trong thành phố, tìm lại được nơi từng tọa lạc căn nhà của bố mẹ vợ tôi – nay
đã mọc lên một tòa nhà mới làm công sở của chính phủ – và thăm lại trường nữ
trung học Norodom, nơi vợ tôi đã từng theo học. Cứ nghĩ tất cả sự vật những nơi
chốn này, từ những tường vôi đến cát sõi vô tri trên vĩa hè, lòng đường, đã là
những chứng nhân thầm lặng của những tháng năm hãi hùng dưới một chế độ mà thế
giới từng mệnh danh diệt chủng, ai không khỏi bùi ngùi. Chúng tôi nhận ra vị
trí nhà của những láng giềng xưa, nhưng cảnh cũ còn đó, và người xưa thì tản
mát khắp nơi, ở Pháp, ở Úc, và Việt Nam. Điều thất vọng đối với gia đình vợ tôi
trong chuyến đi này là không tìm đâu ra ngôi chùa giữ tro cốt của người cha, vì
dưới thời Pon Pot cai trị tất cả chùa chiền đã bị phá hủy. Đường phố Nam Vang
dơ bẩn hơn xưa. Theo vợ tôi và những ai đã từng biết thành phố này trước kia,
một đặc điểm của Nam Vang ngày xưa, dưới thời ông hoàng Sihanouk, là đường phố
sạch sẽ hơn Sài Gòn nhiều – Sài Gòn ngày xưa và Sài Gòn bây giờ. Nam Vang vẫn
còn những đường phố bằng đất, tồn tại từ trước, chứng tỏ không có một chút phát
triễn nào của đô thị này trong mấy mươi năm qua.
Xe
cộ ở Nam Vang cũng rất thưa thớt; xe hơi thì lèo tèo, xe gắn máy tương đối
nhiều hơn. Nhìn cảnh đường phố ít xe của đô thị này tôi lại liên tưởng đến cảnh
xe cộ hỗn loạn của Sài Gòn: hai thái cực. Tôi không quên Nam Vang và cả đất
nước xứ Chùa Tháp này đã từng hứng chịu sự hủy hoại, giết chóc dưới sự cai trị
của Pon Pot - Iêng Sari trong bốn năm trời (1975-1979).
|

Gian hàng thịt heo tại chợ Orussey
ở Nam Vang (23-9-2006)

40 năm sau, một cựu học sinh trường
Nữ Trung
Học Norodom về thăm lại trường xưa
(23-9-2006)

Đại lộ Norodom (23-9-2006)
|
Tôi nghĩ
Campuchia chưa hồi sinh hẳn, dù đã thoát khỏi quốc nạn đó hơn hai mươi năm rồi,
nói chi đến phát triễn. Nhờ nói lưu loát tiếng Miên, vợ tôi đã có được thiện
cảm của người chủ khách sạn mà chúng tôi đang trọ. Từ đây trong bài viết sẽ có nhiều
trích dẫn nội dung lời kể của nhân vật này, mà người viết chỉ định bằng ông bạn
mới hoặc ông ta cho tiện. Vậy thì, ông ta đã tâm sự về nhiều chuyện, trong đó
có ký ức về những tháng năm đầu tiên thời hậu Pon Pot ở Nam Vang. Cả thủ đô là
một thành phố chết, hoang vắng đến rợn người! Những cư dân cũ của Nam Vang, một
phần bị giết hại, một phần đào thoát, số còn lại bị lùa khỏi thành phố về nông
thôn trong những nông trường khổ sai dưới thời Pon Pot – Iêng Sari. Dù tập đoàn
diệt chủng đó đã bỏ chạy, và một chính phủ lâm thời đã kiểm soát thủ đô, người
dân Campuchia vẫn chưa hoàn hồn sau chuỗi ngày ác mộng đã qua; chưa ai dám về
lại thành phố. Chính phủ mới, trong nổ lực khuyến khích sự di dân về Nam Vang,
đã dành mọi dễ dàng trong việc hợp thức hóa nhà cửa cho mọi người chiếm ngụ
những căn nhà vô chủ ở thủ đô. Trong tình trạng nhiễu nhương buổi giao thời đó,
nhiều kẻ từ tay không bỗng trở thành chủ nhân của ba bốn ngôi nhà.
Nhưng chỉ
một thời gian, sau khi ổn định được tình hình, chính phủ mới của Campuchia đã
thu hồi những căn nhà “bất hợp pháp”, và mỗi người chỉ được chiếm một nhà thôi.
Kế đến là tình trạng “không tiền tệ”. Chế độ của Pon Pot – Iêng Sari đã hủy bỏ
tiền tệ, hủy bỏ chế độ lương bổng. Thời gian đầu, sau khi dành được chính quyền
ở Nam Vang, chính phủ của Hen Somring chưa kịp in lại tiền tệ cho đất nước
Campuchia. Cả nước lúc bấy giờ là một xã hội với “nền văn minh đổi chác”. Ông
bạn mới của chúng tôi cho biết, gia đình ông muốn đi ăn hủ tiếu phải mang theo vàng,
cắt một mảnh nhỏ để “trả tiền”. Có vài hình thức khác để trao đổi, chẳng hạn
giá một tô hủ tiếu là ba lon gạo. Nhưng vàng vẫn là hàng hóa đổi chác đắc dụng
nhất. Những món nữ trang bằng vàng với mọi kiểu cách đẹp đẽ trước kia đã trở
thành “lỗi thời”, phải được biến đổi, dát mỏng để giản lược thành một hình thù
đơn giản thích hợp cho việc mua bán đổi chác: những miếng vàng mỏng. Thế là,
với vai trò mới – vật thay thế tiền tệ, chứ không phải vật hứng cho tiền tệ nữa
– cả một loại quí kim vô tri vô giác cũng không thể đứng bên lề một giai đoạn
lịch sử của đất nước nhỏ bé này, mà đã hứng chịu một cuộc đổi đời rộng lớn.
Cùng với sự đổi thay kia là sự ra đời của một đội ngũ thợ kim hoàn “bất đắc
dĩ”. Chẳng cần những bàn tay chuyên nghiệp khéo léo, xảo thuật cao, một tay mơ
chỉ cần biết cách cho vàng chảy, với những dụng cụ thô sơ cũng biến những sản
phẩm quí giá cũ thành những “đồng tiền vàng” đắc dụng trong giai đoạn hiện tại.
Dĩ nhiên giới dân nghèo đã trãi qua một giai đoạn thật khó khăn trong buổi
chuyển tiếp ấy. Chưa hết, không tiền tệ đã đành, lại cũng không có đo lường. Vẫn
theo lời ông bạn mới, muốn mua một kí thịt, hoặc nửa kí đường, v.v., người ta
chỉ dùng tay nâng món hàng lên ước đoán trọng lượng.
Chúng tôi
đi xem những khu chợ - Nam Vang có hai mươi sáu ngôi chợ, nhưng nổi tiếng nhất
là Chợ Lớn Mới, chợ Olympic, chợ Orrussey, chợ Tum Tum Pung, v.v. – ghé vào ăn
ở các hàng quán tấp nập bên hè phố. Một điều dễ thấy là nhiều người buôn bán
nói được cả hai ngôn ngữ Miên, Việt. Ông bạn mới cũng cho chúng tôi biết ở Nam
Vang có rất nhiều thương nhân người Việt, có điều họ không nói tiếng Việt nên
khó nhận ra họ. Theo các tài liệu cũ, người Việt hiện diện ở Campuchia khá lâu
đời, từ thế kỷ thứ 17, và tập trung đông nhất ở thủ đô Nam Vang. Con số người
Việt sinh sống trên đất nước Chùa Tháp từ xưa tương đối ổn định. Chỉ đến năm
1957, khi chính phủ Campuchia ban hành sắc lệnh cấm ngoại kiều làm hai mươi bốn
nghề, một số người Việt hồi hương về Việt Nam, làm dân số Việt kiều trên đất Miên
giảm xuống. Tiếp đến, đợt biến động chính trị năm 1970 đưa Lon Nol lên cầm
quyền đã xãy ra vụ tàn sát người Việt ở xóm biển Chrui Changwar, dãi cù lao bên
kia bờ Mê Kông, đối diện thành phố Nam Vang, một biến cố đã khiến người Việt ùn
ùn hồi hương. Dân số Việt kiều tại Campuchia càng giảm xuống nhiều. Rồi sự xuất
hiện của chế độ Pon Pot – Iêng Sari lại gây thêm một vố tổn thất cho Việt kiều,
và thêm một loạt người Việt đào thoát hồi hương về Việt Nam trong giai đoạn này. Sau vụ gây hấn của các sư đoàn quân Pon Pot ở cửa ngỏ biên giới Bền Sõi,
Tây Ninh tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã trả đũa, và xua quân vượt biên giới,
lật đổ tập đoàn Pon Pot – Iêng Sari, loại bớt một kẻ thù ở biên giới phía Nam,
giúp khai sinh một chính phủ thân Việt Nam. Biến cố này là dịp may để Campuchia
thoát khỏi chế độ diệt chủng tệ hại chưa từng thấy trong lịch sử đất nước này.
Và từ năm 1979 những Việt kiều chạy về Việt Nam lánh nạn Pon Pot đã lần lượt
trở lại Nam Vang và các tỉnh của Campuchia. Con số người Việt trên đất Miên đã
tăng lên đáng kể, và điều đáng nói về sự gia tăng dân số này là ngoài số Việt
kiều cũ trở lại còn có dân nhập cư mới gồm những quân nhân đào ngũ và giải ngũ
thuộc lực lượng chiếm đóng của Việt Nam[1]. Nhân đề cập đến sự quấy phá của
quân Pon Pot dọc biên giới Việt-Miên, người viết nhớ lại hai mẫu chuyện “bên
lề” do chính một người đã từng theo chân một đơn vị viễn chinh Việt Nam trên
đất nước Chùa Tháp kể lại. Anh ta là một Việt kiều Miên, làm thông dịch viên
cho các cấp chỉ huy Việt Nam trong chiến dịch đánh Pon Pot năm 1978. Mẫu chuyện
thứ nhất kể rằng lúc quân Pon Pot vượt biên giới sang tàn sát dân Việt ở vùng
Ba Chúc, Ba Xoài, tỉnh Châu Đốc, lực lượng quân sự của Việt Nam đóng gần đấy
vẫn áng binh bất động, mặc cho cảnh máu đổ thịt rơi của dân lành đang diễn ra!
Lúc lực lượng Miên rút đi, các nhân viên Hồng Thập Tự Quốc Tế đã vào tận nơi để
quan sát, giúp đỡ thì vẫn chưa thấy sự có mặt của quân đội Việt Nam. Cả người
kể và người nghe đều căm tức, và thấy khó hiểu với sự tình kia. Nếu sự thật là
như vậy, biết đâu đã có một mật lệnh cho các đơn vị ở biên giới phải “ngậm
miệng ăn tiền”. Vụ Trân Châu Cảng ngày nay thỉnh thoảng được báo chí Mỹ hâm
nóng với tiền đề là Mỹ biết trước nhưng muốn để nó xãy ra, để có danh chính ngôn
thuận cho hành động của mình. Hai trường hợp tuy có khác nhau chút đỉnh nhưng
đều giống nhau ở chỗ cùng “ngậm miệng ăn tiền”. Sang mẫu chuyện thứ hai, đương
sự kể rằng trên đường tiến quân, các cấp chỉ huy thường tập trung dân chúng
Miên lại nuôi ăn tập thể và nói chuyện để họ hiểu lý do tiến quân của Việt Nam
là để “giải phóng” họ. Dân chúng rất vui mừng khi quân Việt Nam đến. Nhưng có điều mỉa mai là khi anh chàng thông dịch viên la cà chuyện trò làm quen với dân
bản xứ thì mới nghe họ tâm tình rằng họ thích lính Sài Gòn hơn. “Lính Sài
Gòn”, theo người kể chuyện, ám chỉ lính Việt Nam Cộng Hòa. Người viết nhớ lại
năm 1970, trong đợt biến động chính trị của xứ Chùa Tháp, Việt Nam Cộng Hòa
từng gửi một lực lượng quân sự sang Campuchia giúp hồi hương Việt kiều, và
người dân Miên đã có dịp “làm quen” với người lính miền Nam từ dạo ấy. Đề cập
đến người Việt tại Campuchia, người ta có thể ghi nhận một điều là so với các
vùng khác trên thế giới có người Việt sinh sống hiện nay, thì đất nước này được
xem là bất an nhất đối với người Việt. Chung qui cũng do người ta muốn khơi lại
những đố kỵ dân tộc bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử xa xưa của hai nước cho các
mục tiêu chính trị. Giáo sư Nguyễn Quốc Lộc, một tác giả trong nước, trong cuốn
sách tựa đề “Người Việt Ở Thái Lan-Campuchia-Lào” đã cho biết trong các dịp
tranh cử, nhiều đảng phái và tổ chức chính trị ở Campuchia đã dùng đề tài Việt
kiều cho chiến dịch vận động tranh cử của họ.
|

Chùa Tháp,
ngôi chùa lớn nhất thủ đô Nam Vang, và cũng do ngôi
chùa này
mà Kampuchia còn được gọi Xứ Chùa Tháp (23-9-2006)
|

Khu nhà bè
của người Việt ở Chrui Changwar, nơi đã từng xãy ra vụ
tàn sát
Việt kiều năm 1970 khi Lon Nol lên cầm quyền (23-9-2006)
|
Trong lúc
vui chuyện, ông bạn mới cũng bộc bạch với chúng tôi những buồn vui của xã hội
Campuchia ngày nay. Người giàu thì có mọi thứ, được đãi ngộ, vì đồng tiền mua
được tất cả, kể cả luật pháp. Người nghèo thì không có tiếng nói, chỉ câm nín
mà chịu đựng! Ông ta cho biết, chính vì xã hội như vậy nên nhóm tàn quân của
Pon Pot trong rừng hiện nay vẫn còn tuyên bố rằng họ mới là chính phủ của nhân
dân Campuchia (của người nghèo). Theo ông, bầu không khí Campuchia vẫn còn lẩn
quất nỗi lo sợ sự trở lại của cái chính thể khủng khiếp kia. Ông ta cũng đề cập
đến y tế của Campuchia. Ngày nay nhiều người Miên thuộc tầng lớp khá giả có
khuynh hướng sang chữa bệnh ở các bệnh viện Sài Gòn; chính ông cũng đã làm một
chuyến đi như thế. Còn đời sống tinh thần của thủ đô Nam Vang, theo ông bạn
mới, nghèo nàn hơn xưa. Dân Nam Vang bây giờ không có nhiều thú tiêu khiển.
Dưới thời
ông hoàng Sihanouk, vào những dịp lễ hội và cuối tuần nhiều địa điểm vui chơi,
giải trí tự do ngoài trời được tổ chức cho dân chúng. Ngày nay, mỗi cuối tuần
giới giàu có ở Nam Vang thường đem bồ bịch, hoặc cả gia đình đến bãi cỏ trước
hoàng cung thưởng thức những món ăn khoái khẩu được bày bán lộ thiên ở đây. Và
đó là chỗ duy nhất ở thủ đô thu hút đông người. Dưới thời quốc trưởng Sihanouk
làm gì có tình trạng buôn bán bừa bãi ngay trước hoàng thành như thế. Người
hướng dẫn du lịch cho chúng tôi biết hoàng cung bây giờ hư hại nhiều, mà chính
phủ chưa có đủ ngân khoản để tu bổ. Vua và hoàng hậu Miên hiện chỉ ở một ngôi
nhà nhỏ trong thành. Nam Vang cũng không còn quyến rũ du khách như trước kia.
Ngành du lịch chỉ phát triễn ở khu di tích Đế Thiên Đế Thích cách Nam Vang về
phía bắc khoảng tám giờ xe.
|

Một xe đò ở Campuchia (24-9-2006)
|

Quán “võng” ở Nam Vang – không dùng
ghế (23-9-2006)
|

Quang cảnh buổi sáng ngoại ô Nam Vang
(24-9-2006)
Quay sang
chuyện chính trị của đất nước Chùa Tháp, người viết thấy trên đường phố Nam
Vang những khẩu hiệu lớn, “Long Life the Kingdom of Cambodia”, rồi tên những
chính đảng “The CAMBODIAN PEOPLE’S PARTY”, “FUNCINPEC PARTY”, và “SAM RAINSY
PARTY”. Được biết Cambodian People’s Party (đảng Nhân Dân Campuchia) là đảng
của đương kim thủ tướng Hun Sen, đảng FUNCINPEC (đảng Bảo Hoàng) là đảng do
hoàng thân Norodom Ranariddh sáng lập và làm chủ tịch. Nhưng mới đây, vào ngày 18-10-2006,
ông vừa bị truất phế, có lẽ do tranh chấp nội bộ, và người kế vị là hoàng thân
Kev Put-Reaksmei. Còn Sam Rainsy Party (đảng Quốc Gia Khmer) mang tên người chủ
tịch là Sam Rainsy. Đảng của thủ tướng Hun Sen được xem là thân Việt Nam, đảng
FUNCINPEC (Bảo Hoàng) thì ôn hòa, trung dung, và đảng Sam Rainsy đối lập với
chính quyền hiện tại. Campuchia theo thể chế quân chủ lập hiến, và vị quốc
trưởng hiện nay là hoàng thân Norodom Sihamoni, con trai cựu hoàng Sihanouk.
28-10-2006
Hà
Kỳ Lam
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Người
Việt ở Thái Lan-Campuchia-Lào (trang 147)
Của Giáo
Sư Nguyễn Quốc Lộc
Nhà Xuất
Bản Văn Nghệ
TP Hồ Chí
Minh 2006