Lá Thư Từ Kinh Xáng
Kinh xáng Bốn Tổng ngày 27 tháng 01 năm 2008
Thưa anh chi Hai Chung An Phú,
Liên tiếp mấy ngày nay, vợ chồng tui nhận của anh Hai hai
cái thơ tay do mấy cháu nó mang xuống kinh xáng Bốn Tổng này, nhưng vì tui bận
đi thăm mấy đứa cháu nội, rồi lại bơi xuồng dìa thăm mấy đứa cháu ngoại , ôi
thôi, mỏi giò anh Hai à . Nay hơi rảnh rảnh, mới đốt đèn ngồi viết cho anh mấy
hàng này, gọi là đáp lễ “thủ túc” cùng anh chi vậy!
Thưa anh chị Hai,
Hôm trước được thơ anh mới biết anh đi theo các Thầy rồi sẵn
dịp thăm luôn mấy tiệm bán trầu cau bên Đài Loan, đường xá xa xôi quá mạng phải
hông anh Hai ? Nhưng đi một bước đàng thì học một sang khôn mà, còn hơn là ngồi
nhà như tui tư niên bốn mùa làm sao mà mở mang gì nổi anh hai. Tối ngày cứ xà
quần xà quần với đám cháu vá ba cái lúa riết rồi chuyện gì cũng mù tịt ráo trọi
anh hai à! Nhưng ngày nay ở chỗ kinh cùng này nhờ có điện, rồi có ti-vi, nên mấy
ngày nay tui cũng coi được mấy trận banh “ten-nit” bên Úc châu, qua màn
hình tui thấy hai tay vợt sô 1 thế giới bị rớt ra ngoài, hổng vô chung kết được,
rồi tui mới nghiệm ra bài học ở đời là số 1 rồi có lúc cũng phải thua, tài giỏi
mấy rồi cũng có người tài giỏi hơn mình anh Hai à. Do vậy mà, tui thấy trong
cái việc làm ruộng thôi, có lúc miếng ruộng nhà mình trúng, có lúc lúa mình bị
tiêm, thất mùa vì cua kẹp hoặc bị chuột bọ hoành hành, hoặc do cái cách
làm ruộng của mình còn dở, không hợp với thời trời là phải có lúc chịu
thua như vậy anh Hai! Cho nên cụ Nguyễn Du có dạy: “Có tài đừng cậy chi tài, Chữ
tài liền với chữ tai một vần…” mà !
Viết thơ cho anh rồi chợt nhớ ba cái vụ “trầu và tiêu” hôm
trước anh có nhắc, tui thấy “trầu” hay “tiêu” gì là do phần số ráo trọi anh hai
à! Được làm “trầu” thì là lễ, là nghĩa; còn làm “tiêu” rồi là coi như là kép
hát, là xướng ca vô loại ráo trọi . Nghĩ mà thương cho “tiêu” quá mạng. Cây gì
cũng là cây, lá gì cũng là lá mà! Sao người đời bất công mà gán chi cho “tiêu”
cái nghiệp cầm ca? Mà khổ một nỗi, kiếp cầm ca bị coi rẻ như vậy nhưng hể có
gánh hát dìa đình là người ta cứ chen nhau vô cửa coi hát cọp mệt nghỉ. Còn
“tiêu” không vàng như “trầu”, không được “lễ nghĩa” như “trầu” nhưng “tiêu” làm
cho mẻ cá kho khô của người đời thơm hơn, miếng ăn miếng uống đậm đà hơn. Không
có “tiêu” làm gì có miếng ngon trong miệng, mà nhứt là các bà, các cô nằm lửa,
mẻ cá kho khô không tiêu làm gì còn ý nghĩa của những ngày nằm lửa chịu trận
nuôi con vừa mới chào đời. Nhớ hồi nhỏ tui mê ăn cá kho tiêu của má tui khi má
tui đẻ thằng Út và tới ngày già này tui nhớ món cá lóc kho tiêu của má tui dữ lắm
và tui chắc trong đời trời đất này hồng có ai kho nấu gì ngon bằng má mình kho
nấu cho mình ăn ráo trọi anh hai à! Anh thử nghĩ lại mà coi tui nói có trúng
hông anh hai?
Thưa anh Hai,
Trước hết, tui xin thưa lại với anh hai ba cái vụ “tiêu”
này. Trong sách vở thì kêu “tiêu” là “hồ tiêu” và vùng Châu Đốc của anh cũng
như miệt Lấp Vò, Kinh Xáng của tui có nhiều người trồng, nhưng nhiều nhứt là Hà
Tiên, Phú Quốc, Bà Rịa. Loại này coi vậy mà cũng khó trồng dữ lắm. Trong rập trồng
được nhưng chỗ nào mà rập quá thì tiêu chỉ được nước tốt lá nhưng ít trái; còn
chỗ nào mà nắng quá thì tiêu lại cũng hổng chịu nắng nhiều. Do vậy mà tiêu
thích màu xanh. Trái lại “trầu” thích chỗ có ánh nắng và trầu mê màu vàng. Âu,
mỗi vật mỗi tính anh hai à! Nhưng cả hai loài này đều có thói quen giống nhau
là thích leo trèo. Do vậy mà người ta mới nói “trồng trầu, trồng lộn với tiêu”
là vậy!!! Tiêu ngoài cái việc làm cho món ăn thơm ngon, theo sách thuốc của
thầy Đỗ Tất Lợi,(1) tiêu còn có nhiều vị thuốc như trị được bịnh ói mửa, đi đồng,
làm thuốc bổ, trị đau bụng, làm giảm đau, làm dễ tiêu, trị sình bụng …
Còn “trầu” ngoài việc dùng vào các việc lễ nghĩa như tự
cổ chí kim, “trầu” có khi được dùng làm thuốc nhưng hổng bằng “tiêu”. Theo thầy
Đỗ Tất Lợi thì trầu chỉ dùng trị bịnh ngoài da, ít dùng bên trong, như thoa chỗ
lở loét, hoặc đắp lên ngực để trị bịnh ho, đắp lên vú cho sữa đừng chảy ra nữa
. Trong dân gian thường lấy đuôi lá tràu dán lên trán trị được chứng chảy máu
cam.
Thưa anh Hai,
Nhơn nói về “trầu và tiêu”, tui mới sực nhớ Phạm Thành Đại,
nhà Tống, nói : “Phương Nam hỏa thịnh, hơi lủa bốc lên, cho nên vật gì
cũng có vị cay, mà hương thơm”(2) Rồi Thẩm Tác Triết cũng nói :
“Nam phương hỏa thịnh, thực nó sinh thổ; thổ vị ngọt mà thơm, cây cỏ ở phương
Nam được vượng khí của hỏa bối dưỡng cho, anh hoa phát tiết ra ngoài, cho nên
có hương thơm.”(3). Tui mới nghĩ mà mừng anh Hai à. Dù “trầu”
hay “tiêu” gì đi nữa, cả hai giống cây này cùng được mọc ở đất phương Nam này
nên nhờ “vương khí” mà “trầu” thơm, rồi “tiêu” cũng thơm. Bà con Thất Sơn Châu
Đốc và anh em mình may phước được sanh ra và sống nơi vùng đất phương Nam
này, tui nghĩ mình sướng biết bao nhiêu. Phải vậy hông anh Hai ?!?!
Chúc anh chị và mấy cháu mạnh giỏi .
Nay kính thư,
Hai Trầu
Cước chú:
(1) Theo “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi,
nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, năm 2005, trang 118, v à 370 .
(2) v à (3) Trích sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Qúy
Đôn, nhà xuất bản VHTT (Hà Nội), năm 2006, trang 407-408)