Lá Thư Từ Kinh Xáng
Kinh
xáng Bốn Tổng ngày 10 tháng 7 năm 2009
Thăm
anh Hai An Phú,
Hổng
biết trên sông Bắc Nam anh dạo nầy mưa có nhiều hông anh Hai; riêng miệt kinh
xáng tui dưới này trời cứ vần vũ và mưa hoài hổng dứt anh Hai à. Mà ở cái xứ
quê mùa trong kinh rạch này hễ mưa là nó buồn thúi ruột nhe anh Hai, bởi mưa buồn
thì người cũng buồn theo vậy. Thế là tui mới ngồi ngẫm nghĩ về sự sinh tồn của
các loài cỏ và rồi chong đèn leo lét mà viết lá thơ này cho anh đây, gọi là tâm
sự về những loài thảo dã từ chốn ruộng bùn lầy lội này vậy mà …
Thưa
anh Hai,
Xưa
nay, mỗi khi nhắc tới cỏ người ta phân chia ba loại anh Hai à. Loại cỏ ăn được
thì người đời gọi là rau; loại dùng làm thuốc trị bịnh cho bá tánh nhơn sanh
thì gọi là dược thảo; còn loại không dùng được gì thì gọi là cỏ rác. Tuy cách
phân loại như vậy, theo tui có gì đó chưa đủ anh Hai à. Vì có nhiều loại cỏ
mình không ăn được nhưng bò trâu ăn được như cỏ mồm, cỏ ống thì sao gọi là rác
cho được phải hông anh Hai. Thành ra, nghĩ cho công bằng, ở đời nói thì gộp
chung như vậy, nhưng cũng còn tùy theo thời, tùy theo thuở, tùy theo chốn, tùy
theo mùa mà cỏ nào có chỗ hữu dụng riêng của cỏ nấy ráo trọi chứ khó lòng mà
tom góp lại một rổ, một bó, một xuồng giống hệt nhau. Phải thế hông anh Hai ?
Tới
đây, tui xin được phép bàn với anh về mấy cái ý bên trên thêm một chút cho tỏ
tường thêm. Chẳng hạn, sở dĩ tôi viết cỏ ăn được người nhà quê mình gọi là rau.
Về điểm này các bậc bác học đều công nhận như vậy anh Hai à. Ví dụ như rau má
(Centella asiatica) trong vườn thì giáo sư Phạm Hoàng Hộ (1) gọi là cỏ thơm;
rau má lá nhỏ (Hydrocotyle sibthorpioides) cũng là một loại cỏ có chồi bò và có
rễ ở mắt; rau má núi (hydrocotyle nepalensis) là cỏ bò. Hoặc như ngò tây
(eryngium foetidum) là một loại cỏ đa niên sống nhờ rễ phù to… Rồi tới rau đắng
đất (Glinus oppositifolius) lại là một loài cỏ đa niên khác mọc và bò trên mặt
đất mà vào tháng chạp, tháng giêng nơi bờ mương, bờ vườn ở nhà quê mình thường
hái vô ăn sống với cá lóc nướng trui hoặc nấu canh ăn hơi nhân nhẫn đắng. Vậy
mà rồi bắt ghiền, bắt nhớ khi chưa tới mùa rau đắng mọc bờ vườn. Rau đắng lông
cũng là một loại cỏ nằm, thân có lông, bông tím. Riêng rau đắng đất ông Nguyễn
Kim ở Gò Công kể trên TSCD hồi mấy tháng trước. Ngoài ra, còn có rau đắng biển
nữa nhe anh Hai.

eryngium foetidum (ngò tây, ngò gai) và Rau má
Còn
nhiều lắm anh Hai. Trong vườn, ngoài ruộng, dưới nước, trên bờ đâu đâu người
nhà quê mình cũng thường trực gặp cỏ, gặp rau, gặp rong rêu cùng sống hoà điệu
với con người. Thông thường, hễ làm ruộng là trừ cỏ, nhưng anh Hai ơi, làm sao
mà con người sống không có cỏ gần gũi với mình cho được. Chính vì vậy mà với thời
kỳ khai khẩn đất lâm làm ruộng, việc cực nhất là việc ruồng cỏ, phát cỏ rồi
gom lại thành đống mà đốt cho chúng chết ráo trụi để sẵn sang cho mùa cấy lúa
tháng mưa được thuận mùa. Nhưng rồi những nơi văn minh như bên Úc, bên Mỹ và
nhiều nước khác kể cả Việt Nam mình nơi vườn bách thảo, trong công viên, đâu
đâu người ta cũng trồng những sân cỏ xanh rì và có lần anh Hai tâm sự “Cỏ sân
nhà mình vẫn xanh”(2) đó mà. Thế mới biết cỏ cần cho con người, nhứt là con người
biết rành giá trị của cỏ, thì cỏ lại càng được nâng niu dữ lắm.

Cỏ mọc trên
đá
Cây mọc trên
đá
Tui
lấy ví dụ như khi anh Hai mỏi mệt, có lúc cần một ao cá với cái hòn non bộ phía
trước hoặc phía sau nhà, nếu anh Hai không trồng rong, không trồng bông súng
trong ao và trên non bộ mà anh Hai không trồng cỏ dù là cỏ chỉ, rau má hay bất
cứ loại cỏ nào anh Hai thấy thích thì cái ao cá với hòn non bộ của anh Hai nó
không còn là ao cá và núi giả sơn của người già thích an nhàn, ẩn dật nữa rồi.
Phải thế hông anh Hai? Bởi lẽ cái non bộ và cái ao bông súng của mình vốn
không phải là núi non chớn chở, đồng rộng bao la trong thiên nhiên trời đất đã
đành mà nay nó lại thiếu những gì gọi là nền tảng của thiên nhiên nữa thì làm
sao ngọn non bộ và hồ bông súng có đủ thần hồn cho được!

Hòn non bộ sau nhà
anh Hai Trầu
Thưa
anh Hai,
Nhơn
nhắc tới cỏ, có lần cách nay hơn năm mươi năm, vào mùa nước lên tui theo mấy
người chèo ghe vô cầu số Năm, Tri Tôn cắt cỏ mồm về cho bò ăn. Lần đó tôi mới
biết cỏ mồm vậy mà cũng có hai ba loại cỏ mồm anh Hai à. Bò thì thích cỏ mồm mỡ,
nhưng thường thường dân cắt cỏ bò mướn vào mùa họ ưa cắt cỏ mồm lông vì cỏ mồm
mỡ thì khó kiếm, nhưng cỏ mồm lông thì mọc đầy đồng. Đôi khi túng cùng quá, dân
cắt cỏ mướn ra ngoài vườn tre cắt cỏ lá tre cho gần nhà nhưng cỏ lá tre thì đâu
có nhiều, nên họ cắt luôn cỏ tây, cỏ sướt cũng được, miễn sao có cỏ cho bò ăn
là được rồi.
Trong
trời đất, từ khi tui biết tới giờ, chưa có nghề nào cực bằng nghề cắt cỏ mướn
cho bò ăn. Hồi đời trước nhà nghèo, có người tới mùa cắt cỏ bò họ lãnh mối hai
ba chủ ruộng có bò với vài chục con bò lớn nhỏ, nhưng sức người có hạn mà bò trâu
thì ăn cỏ vô chừng, nên nhiều người đã lỡ lãnh tiền mùa rồi họ đành phải dang nắng
dầm mưa mà lặn hụp cùng mấy cánh đồng cỏ trên những vùng đất lâm thiệt là xa
mút tầm mắt…
Vậy
mà rồi, tới bây giờ, khi mình già rồi, tui mới thấy mình chưa biết rành về cái
giống cỏ mồm này anh Hai à; bởi không chỉ có hai loại như tui kể mà nó có tới bảy
loại cỏ mồm khác nhau lận nhe anh Hai. Thế mới biết, chỉ nội cái vụ nhìn mặt cỏ
để biết cỏ khác nhau thôi mà có khi cả đời mình cần phải học hoài chưa thấu hết
cái tên, cái giống của nó, nói gì cái tánh dược, cái ích lợi trong từng loại cỏ
ấy.
Bây
giờ, tui mới xin hỏi thiệt anh Hai là có khi nào anh Hai ghét cỏ hông? Chắc là
có chứ anh Hai. Những khi anh hai trồng rau thơm, rau ngò các loại anh hai ghét
nhứt là cỏ mọc chen với rau. Rồi anh Hai trồng lúa, trồng bắp, làm sao anh Hai
có thể dung dưỡng cho cỏ hoành hành ba cái lúa, cái bắp. Thế rồi anh Hai phải
thò tay nhổ mấy bụi cỏ dại ấy; nhưng rồi chúng vẫn mọc và sống chen với rau
thơm, rau ngò, với lúa, với bắp trong thầm lặng. Rồi anh Hai lại thò tay nhổ nó
nữa, nhưng có một ngày nào đó anh Hai đau bụng anh Hai ra đám rau, đám bắp anh
Hai tìm một nhúm cỏ cú, thì ôi thôi, lúc đó tiết tháng ba trời hạn nên cỏ cú
chưa mọc kịp và anh Hai tự trách mình sao hồi đó mình nhổ cỏ lại nhổ tận gốc,
không chừa vài ba bụi khi cần. Âu, đây cũng chỉ giả dụ chơi chứ làm gì mà không
tìm được cỏ cú làm thuốc trị chứng đau bụng, phải hông anh Hai ?
Thưa
anh Hai,
Nói
gì cỏ cú có mùi thơm thơm như thuốc bắc, mà ngay như cỏ không có mùi như cỏ chỉ,
cỏ song chằng chẳng hạn là kẻ tử thù của người làm ruộng nhưng khi lỡ có ai vô
tình bị rắn chạm, họ lập tức quơ tay chung quanh miệng hang rắn bứt một nạm cỏ,
bất kể là cỏ gì, rồi bỏ vô miệng nhai cho nát và nhả ra đấp vào chỗ vết răng rắn
chạm, là cách cầm cự hay nhất trong khi chờ đợi chở người bị rắn chạm tới ông
thầy thuốc rắn. Người nhà quê rút kinh nghiệm là rắn ở đâu chúng phun nọc ở
vùng cỏ đó; nên mình nhai cỏ nơi miệng rắn để đấp vào chỗ rắn chạm là cách giải
độc hiệu nghiệm cấp thời vậy !
Bây
giờ, tui xin chuyển qua câu chuyện khác nhơn sáng nay chị Lộc Tưởng có cho biết
ông Tràm Cà Mau tìm mua sách của anh Lưu Nhơn Nghĩa nhơn ông có đọc qua cuốn
“Con Đường Cũ”(3) và ông khen anh Lưu Nhơn Nghĩa viết về vùng Xà Tón hay quá.
Nhắc chuyện này tôi mới nhớ cái hình bìa cuốn Con Đường Cũ là hình chụp cây Lâm
Vồ anh chị Đoàn Đông & Lộc Tưởng chụp được trong một bận anh chị ấy đi thăm
Xà Tón hồi năm kia. Rôi anh chị ấy có lần hỏi tui cây Lâm Vồ và cây Bồ Đề có
khác gì nhau hông? Nhớ lần đó anh chị hỏi mà tui cũng quên trả lời cho tường tận,
nhân dịp này xin giải bày cùng anh chị Đoàn Đông & Lộc Tưởng rõ luôn thể.
Theo
Việt Nam Tự Điển của hai tác giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ , thì tác giả cắt
nghĩa :”Cây lâm vồ : Bồ đề, loại cây lá hình tim chót dài, thường được trồng
trước chùa”(4). Đọc thấy vậy, tui mới lò mò tìm thêm chữ “bồ đề” và sách
trên chỉ thêm: “Bồ đề là loại cây to, có lá hình tam giác hoặc hình tim,
chót lá rất dài; mủ cây trị được kiết tả và thiên thời; hột da nhăn khẳn khiu,
được xỏ xâu 108 hột kết thành tràng để lần niệm Phật, lấy tích cách nay hơn
2.000 năm, đức Thích Ca đã ngồi thiền định suốt 49 ngày dưới gốc cây loại này để
thành Phật (Ficus Religiosa) (5).
Tìm
trong tự điển như vậy, tui chưa hiểu lắm về cây lâm vồ, thành ra, tui lò mò kiếm
thêm tài liệu coi cây lâm vồ khác cây bồ đề hay cùng một loại. Thì ra, cây bồ đề
đúng như trong tự điển ghi là Ficus Religiosa, đây là “loại cây đại mộc. Lá
có cuống dài tới 12cm, phiến lá hình tim, bìa lá có dung, mũ lá rất dài, lá bẹ
dài sung từng cặp, không lông, đỏ đậm lúc chin. Không phụ sinh lúc nhỏ.”(6).
Trong khi đó cây lâm vồ theo tài liệu này thì dây là “loại cây đại mộc có
tên Ficus Rumphii, nhánh có vỏ mốc trắng, lá có cuống dài từ 4cm tới 6cm, phiến
lá hình tam giác dày và chiều dài tới 15cm. Thường gặp, phụ sinh lúc nhỏ.”(7)
Thì
ra, giữa bồ đề và lâm vồ nó khác nhau qua hai tên gọi cùng tính chất của mỗi giống
là vậy. Một đàng “không phụ sinh” và một đàng “phụ sinh”. Âu cũng là cái khác
nhau vậy! Nhưng thực tế vùng Thất Sơn Châu Đốc mình, theo dân gian, bồ đề gốc
gác bên Ấn Độ, còn lâm vồ thì có nhiều những nơi có người Miên sinh sống. Hổng
biết anh Hai ở trên An Phú có thường gặp cây Lâm Vồ hông anh Hai ?
Cái
thơ viết cho anh Hai khá dài mà chuyện cỏ cây lại là chuyện nói hoài hổng hết
chuyện, nên tui xin tạm ngừng ở đây với cái trí ngu của tui mà nhận ra con người
sống trên mặt đất này hổng thể nào tách rời khỏi đời sống của cỏ cây rau rác
quanh mình anh Hai à. Người xưa thường dạy: “đói ăn rau, đau uống thuốc” mà !
Biết cái hữu ích của những loài rau cỏ ấy cũng có nghĩa mình biết sống với cái
tâm chơn chất quê mùa một cách thiết thực vậy. Phải vậy cùng không, anh Hai ?
Nay
thư,
Hai
Trầu
Phụ chú:
1/ Cây Cỏ Miền
Nam của giáo sư Phạm Hoàng Hô; do Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục tái bản lần
thứ nhì, năm 1970.
2/ Nội
Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung, nhà xuất bản Quán Âm Sơn, Tân
Tây Lan, năm 2009, trang 39
3/ Con Đường
Cũ của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, sách do Thất Sơn Châu Đốc in và lưu niệm
trong vòng thân hữu TSCD, không bán.
4/ Việt Nam Tự
Điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, quyển Thượng, nhà Khai Trí ấn hành, năm
1970.
5/ Việt Nam Tự
Điển (sđd)
6/ Cây Cỏ Miền
Nam (sđd)
7/ Cây Cỏ Miền
Nam (sđd)