Trang Chính    Hình Ảnh    Bút Ký    Truyện Ngắn    Truyện Thật Ngắn    TG & Tác Phẩm    Thơ    Di Tích Lịch Sử và Danh Nhân    Đời Sống: Phong Tục & Khoa Học    Sân Khấu/Nghệ Thuật    Hộp Thư    Nhắn Tin    Tin Tức Thân Hữu    Tin Vui    Phân Ưu    SK và Gia Đình    Lá Lành Đùm Lá Rách    Vui Cười    Ẩm Thực/Gia Chánh    Trang Xuân    Cùng Tác Giả   


Lá Thư Từ Kinh Xáng

Kinh xáng Bốn Tổng ngày 29 tháng 5 năm 2011


Thưa anh Hai An Phú,

Mấy hôm nay nhận được thơ anh Hai, tui rất mừng mà cũng rất buồn. Mừng là tuổi già của mình nay còn có người tri âm tri kỷ như anh Hai để trang trải những nỗi niềm, nhưng buồn là những sinh vật trong trời đất vùng mình một thời nay hổng còn nữa, mà nhứt là đọc đoạn này, tui lại nghe như ruột gan rã rời, rũ liệt: “Sông Cửu Long bị đắp đặp ở thượng nguồn làm ô nhiễm môi trường và nhiều lý do khác nữa, cá tôm tiêu hao dần, không sanh sản. Những gì anh em mình viết về nguồn thủy sản ở nơi quê quán, miền Tây Nam phần đều chỉ là những hoài niệm. Còn đâu nữa những con tôm càng trồi lên gần mặt nước để cắn miếng mồi dừa cho chúng ta vớt, còn đâu nữa bầy cá ròng ròng lội có luồng, lòn lách trong cỏ dưới nước trong, còn đâu nữa những con cá thia thia xanh biếc, kỳ, vi và đuôi màu đỏ chói ta bắt  nuôi để xem cho mãn nhãn hoặc cho đá lộn, còn cá đâu nữa để nhắp, để câu, để chài, để lưới, để chất chà, để đặt lờ, đặt lọp, để kéo bò…v.v. Còn đâu nữa những con quạ nó đứng đầu cầu, nó kêu bớ má têm trầu khách ăn. Không còn tôm cá thì chim cò cũng vắng bóng, còn gì đâu để chúng bu lại ăn?”


Qua đoạn thơ rất ngắn mà như một lời than thở ấy anh đã gợi lại trong tui cả một trời thương nhớ về những cảnh chim cá trên sông, trên đồng sáu bảy mươi năm qua. Thơ anh bày tỏ tấm lòng nhớ tiếc của người già nhìn lại cảnh cũ một thời tha thiết biết bao! Những chữ “còn đâu nữa”, “còn đâu nữa” mà anh lập đi lập lại nhiều lần như một điệp khúc ấy là cả tấm lòng hoài niệm của người già trào dâng như nước ngập tràn bờ mà không thể lấy gì kềm giữ nổi; chẳng những anh muốn nói về cá, về tôm, về cua, về ốc, về chim mà còn nhằm nói chung những cảnh bể dâu dời đổi của trời đất mùa màng, trong đó có một thời tuổi trẻ thanh xuân của anh và của tui nữa mà nay đã qua đi hơn bảy chục năm trời nhanh như “thời giờ thấm thoát thoi đưa, nó đi đi mất, có chờ, chờ ai”, thưa anh Hai!


Cảm ơn anh hai nhiều lắm về một tấm chơn tình với bằng hữu, với sông nước quê mình. Hy vọng có dịp sẽ nhờ anh Hai kể cho nghe thêm về làng Bắc Nam của anh vùng An Phú cũ hồi thới còn Tây vào những năm 1947, 1948 nhe anh Hai.


Kính chúc anh chị Hai luôn dồi dào sức khoẻ, vạn sự như ý.


Kính thư,

Hai Trầu