Lá Thư Từ Kinh Xáng
Kinh xáng Bốn tổng ngày 10
tháng 3 năm 2008
Kính chào anh Huỳnh Ái Tông,
Qua Thất Sơn Châu Đốc tui có
đọc các bài viết của anh. Bài đầu tiên, anh có giải thích con đường “Liên tỉnh
Long Xuyên - Châu Đốc” được gọi là đường “Liên tỉnh số 10” vì người ta lấy theo
thứ tự hai tỉnh trong bảng xếp thứ tự 20 tỉnh hồi ấy cọng lại: Châu Đốc là số 2
và Long Xuyên là số 8 .
Nhưng tui cọng thử đường Liên
Tỉnh số 8 giữa hai tỉnh Sa Đéc và Vĩnh Long, theo cách anh giải thích thì :Sa
Đéc số 6 và Vĩnh Long số 18, thì đường liên tỉnh số 8 này thành ra là đường số
24, chứ hổng phải là số 8 như đã ghi trên các trụ cây số dọc đường. Tui
cũng làm con toán cọng như anh, tui lấy thử con đường Liên tỉnh lộ số 9
giữa Cần Thơ và Long Xuyên thì Cần Thơ số thứ tự là 19, Long Xuyên số thứ tự là
8. Vậy hai số 19 và 8 mà cọng lại là số 27, chứ hổng phải là số 9 anh à.
Sở dĩ, tôi làm vài con toán cọng
như vậy, tui thấy Đường liên Tỉnh số 10 giữa Long Xuyên và Châu Đốc, chắc hổng
phải lấy thứ tự hai tỉnh trong bảng xếp thứ tự hồi xưa cọng lại mà là thứ tự do
các sở Trường Tiền hồi xưa họ làm đường rồi đặt ra thôi và may sao lại trùng khớp
hai con số Châu Đốc là 2 rồi cọng với Long Xuyên là 8 rồi thành ra 10, theo tui
đây là trường hợp trùng hợp ngẫu nhiên thôi anh à !
Kế đến, mới đây, anh có viết
về anh của anh năm 1953, vì sợ động viên đi trận Điện Biên Phủ nên đã chạy sang
Pháp được và gởi thơ dìa. Thưa anh, hồi ấy, ai ra lệnh đông viên đi đánh
Điện Biên Phủ vậy anh và làm sao anh của anh lại sang Pháp được và đi bằng cách
nào vậy anh? Bộ hồi năm 1953 đi Pháp dễ lắm hả anh Huỳnh Ái Tông?
Thêm nữa, nghe anh kể thầy
Ngân trên Mặc Cần Dưng có xuống nhà anh để mua dê dìa nuôi và anh cho biết
thầy Ngân ở xóm nhà Lầu gần chùa ông Đạo Cậy. Thưa hổng phải vậy anh à. Hồi xưa
tui tản cư dìa quê ngoại tui trên Mặc Cần Dưng, năm 1948, 1949 tui học trường
thầy giáo Ngân. Đây là Trường Sơ Đẳng Tiểu Học ở tuốt trong cua Vàm Nha, nó nằm
trên nền cũ của một chùa Miên, mặt tiền ngó ra con đường lộ đá nối liền ngả ba
Lộ Tẻ Mặc Cần Dưng chạy vô Tri Tôn, xứ của anh Lưu Nhơn Nghĩa. Bên kia con rạch
Vàm Nha này có một ngôi chùa Việt Nam; đó là Chùa Kỳ Viên do Ông Kỳ Viên lập và
Trụ Trì. Ngôi chùa không lớn nhưng phong cảnh hữu tình và chùa này là một trong
các ngôi chùa nổi tiếng trong vùng mặc Cần Dưng này.
Thầy giáo Ngân là Trưởng Giáo
và kiêm nhiệm dạy luôn lớp BA. Còn thầy giáo Cầm dạy Lớp NĂM, thầy giáo Trang dạy
lớp TƯ. Thầy Ngân rát cao, nước da trắng, dạy học rất hay và nghiêm nghị, đánh
học trò có tiếng nhưng cũng rất thương học trò. Nhà thầy Ngân không phải ở gần
chùa ông Đạo Cậy, xóm Nhà Lầu. Chùa ông Đạo Cậy còn gọi là chùa TÂN AN cổ tự để
phân biệt với chùa Tân An mới lập sau này chỗ ngã ba rạch Mặc Cần Dưng và ngả
lên kinh Ông Quít.
Con đường làng Bình Hòa, từ
chợ chạy vô hướng Vàm Xáng (xã Cần Đăng) phải qua các địa danh dễ nhớ như
Đình Thần làng Bình Hòa có Trường Tiểu Học Bổ Túc Bình Hòa nằm bên cạnh; tui là
học trò trường tiểu học này sau khi đậu bằng “Sơ Đẳng Tiểu Học” của trường thầy
Ngân; rồi tới mương Hội Đồng; vô chút nữa là phủ thờ gia tộc của ông Nguyễn Tấn
Đời; rồi vô tới Thất Cao Đài. Hồi xưa ở đây có Trường Tiểu học Đạo Đức Học Đường
cũa đạo Cao Đài, hồi nhỏ tui có học trường này thêm vào mùa Hè. Đi một đỗi nữa
chừng 500 thước, có cái cua gọi là Cua Chùa, vì bên kia sông có chùa Tân An mà
tôi vừa nói ở trên. Vô tiếp nữa, theo con đường làng này thì tới cây cầu ông XÃ
PHÚ. Xéo xéo về phía bên kia sông, cách cầu ông Xã Phú chừng 300 thước là nhà của
Thầy giáo Ngân.
Nếu anh muốn đi tiếp nữa thì
, qua khỏi khúc nhà thầy giáo Ngân là tới cầu ông XÃ CƯƠNG. Từ cầu ông Xã
Cương vô tớ cầu ông NHÀ LẦU chừng một cây số. Từ Cầu ông Nhà Lầu vô tới
chùa ông Đạo Cậy tức là chùa TÂN AN cổ tự, khoảng 800 thước. Và từ Chùa Tân An
Cổ Tự này vô tới trường Sơ Học Vàm Nha cũng đâu chừng bảy tám trăm thước nữa chứ
hổng ít.
Cho nên, tui xin lược kể qua
đoạn đường này để anh thấy nhà thầy giáo Ngân cách chùa ông Đạo Cậy xa lắm, chứ
hổng có gần đâu và cũng hổng phải xóm Nhà Lầu như anh có ghi lại. .
Còn Thầy Lộ mà anh gặp ở Cù
Lao Giêng lại cũng là thầy của tui hồi nhỏ. Lúc tui thi rớt vô lớp Đệ Thất trường
Trung học Thoại Ngọc Hầu, tía má tui mới cho tui xuống Long Xuyên học lớp Tiếp
Liên ở Trường Nam Tiểu Học, lúc bấy giờ thầy Lộ làm Hiệu Trưởng. Thầy dáng người
cao ráo, không vạm vở lắm đâu. Mái tóc thầy hơi dợn sóng giống như tóc uốn. Thầy
rất nghiêm. Học trò gặp thầy đứa nào cũng sợ lấm la lấm lét. Tui học lớp Tiếp
liên “B”, thầy Ngô dạy, thầy rất dễ; còn lớp Tiếp Liên “A”, thầy Năm dạy, thầy
đánh học trò biết ớn hồn.
Thưa anh,
Ngoài ra, anh có nhắc bài ca
dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa…”, tui nghĩ bài ca dao này mượn ý người con gái
có chồng than với người yêu cũ của mình sao chỉ lặng thinh để rồi “cá đã
cắn câu biết đâu mà gở” ; nhưng tình thiệt đây là lời trách của một kẻ sĩ trách
chúa mình không biết dùng người, để đến khi kẻ bầy tôi bỏ về với chủ mới rồi,
lúc bấy giờ có kêu nài van xin gì thì cũng đã lỡ một quyết định rồi, làm sao mà
trở về với chúa cũ được nữa.
Đó là trường hơp Đào
Duy Từ, người đã đấp nên Lũy Thầy và bị Chúa Trịnh thất sũng, và coi khinh là kẻ
thuộc dòng giống xướng ca vô loại , không cho ứng thí dù là người tài giỏi, để
đến khi Đào Duy Từ quyết chí vào Nam theo về với chúa Nguyễn. Khi ông đến phủ
Hoài Nhơn, tức là phủ Bồng Sơn, tỉnh Bình Định ngày nay, vào thôn Tùng Châu ở
mướn cho một nhà giàu nơi đây để giữ trâu. Ông được quan Khám Lý Trần Đức Hòa mến
tài gả con gái cho, rồi lại tiến cử với chúa Sải, tức chúa Nguyễn Phúc Nguyên
(1613-1635). Chúa Nguyễn dùng ông làm chức Nội Tán. gặp được thời cơ trỗ tài,
ông liền đem hết sức giúp chúa Nguyễn lo sửa sang việc binh bị, và bày mưu cho
chú Nguyễn chống với chúa Trịnh. Ông có công lớn trong việc đắp lũy trên sông
Nhật Lệ ở Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, tục gọi là “Lũy Thầy”. Và trong sách sử,
chính Lũy Thầy này làm cản đường tiến binh của chúa Trịnh mà ca dao tục ngữ thời
bây giờ còn có câu:
“Hiểm nhất Lũy Thầy
Thứ nhì đồng lầy Võ Xá”
Do vậy, chúa Trịnh khi tỉnh ra thì đã muộn rồi vậy!!! Anh đọc lại sách sử
coi có phải vậy hông , thưa anh !
Ca dao tục ngữ không những là
những chuyện bao gồm nghĩa đen mà còn hàm chứa cái nghĩa bóng nữa, mà đa phần
là kẻ sĩ gởi gấm lòng mình như bài ca dao này vậy!!!
Tui lại lấy thí dụ :
“Con kiến mầy ở trong nhà,
Tao đóng cửa lại mầy ra đàng
nào.
Con cá mầy ở dưới ao,
Tao tát nước vào mầy lội đàng
mô!”
Hoặc:
“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn; trông sao
sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ;
Nhện ơi! nhện hỡi! nhện chờ mối
ai,
Buồn trông chênh chếch sao
mai;
Sao ơi! Sao hỡi! nhớ ai sao mờ?
“Đêm đêm tưởng dãy ngân hà;
Chuôi sai tinh đẩu đã ba năm
tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Chuôi sao tinh đẩu hãy còn
trơ trơ.”
Cả hai bài mà tui vừa dẫn đều
có ngụ ý của cái gì xa hơn nghĩa đen bình thường của nó ráo trọi. Anh thử nghĩ
mà xem có trúng vậy hông , thưa anh ?
Vài lời kính đến anh để anh
tường lãm vậy.
Trân trọng,
Hai Trầu