Lá Thư Từ Kinh Xáng
Kinh
Xáng Bốn Tổng ngày 17 tháng 5 năm 2011
Kính
thăm anh Hai An Phú,
Qua
cái thơ anh giới thiệu có một người trẻ muốn nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam, đặc
biệt về ngành đúc tượng vùng Long Xuyên – Châu Đốc mình thì tui là dân ruộng nên
đành chịu thua anh Hai à. Vì mình đâu có biết gì về ba cái vụ đúc tượng “Bông Lúa”
ở công trường Trưng Vương trước mặt rạp hát Minh Hiển (Long Xuyên) hồi đời xửa đời
xưa đâu mà thưa với thốt. Vì thế ngay khi nhận được lá thơ anh gởi là tui tản
thần hồn rồi. Vậy mà rồi tui lại nhận tiếp hai ba lá thơ nữa của cô nghiên cứu
mà anh giới thiệu, tui đành chạy trốn luôn, hổng giám trả lời trả vốn gì nhe
anh Hai. Thành ra, nếu nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ này có tìm, anh nhắn lại
giùm tui bịnh rồi, và cái máy computer hư rồi nên tui hổng có vô i- mail i-miết
gì được, xin cô cảm phiền bỏ qua cho.
Thiệt tình ra, hồi mấy năm cuối thập niên 1960 bò qua mấy năm đầu thập niên 1970
gì đó, dân Long Xuyên ai ai cũng thấy một tượng Bông Lúa cao chót vót được dựng
ngay công trường Trưng Vương, nghe đâu do ngân hàng Việt Nam Thương Tín tại tỉnh
lỵ Long Xuyên tổ chức đúc tượng này. Dân Long Xuyên mình có cái vui là mê coi hát,
nên mỗi lần rạp Minh Hiển có gánh cải lương dìa là chen chưn mua vé vô coi hát đầy
nhóc rạp. Chiều chiều họ tới sớm ngồi chỗ tượng Bông Lúa này chờ tới giờ rạp mở
cửa vô trình vé coi hát. Tui thấy hồi đó ít ai để ý tượng Bông Lúa này dựng lên
hồi nào, do ai đúc tượng và dựng tượng nhằm mục đích gì. Kể ra, đời sống thực tại
nó cần hơn nghệ thuật hay sao mà rồi hổng ai để ý công trình này, thiệt tình là
tui hổng biết anh Hai à. Và nay có người nhắc thì mình nhớ vậy thôi chứ hồi đó
chính tui cũng không để ý cho lắm.
Thưa anh Hai.
Ngày
nay thi bức tượng Bông Lúa bị phá bỏ lâu rồi mà mình thì già rồi nên hổng nhớ nó
bị đập bỏ từ hồi nào nữa nhe anh Hai. Có những cái hổng xưa lắm nhưng mình hổng
quan tâm là hổng biết gì ráo trọi. Thời giờ qua, ngày tháng qua, tâm trí con người
cũng mòn mỏi và chuyện đời nó qua như những dòng nước vô tình chảy ngang chưn cầu
Hoàng Diệu từ hồi có cây cầy này nối hai bờ tỉnh lỵ Long Xuyên. Từ mấy trăm năm
trước tới giờ có biết bao người qua lại trên cây cầu đúc này, nhưng có ai biết
mặt cầu, thân cầu, đà cầu, trụ cầu chịu đựng biết bao gian truân nặng nhọc mỗi
bận dời đổi bể dâu của trời đất, của thời cuộc và dường như ít có ai nhớ gì về
việc đè nặng, đè nặng hoài lên mặt cầu mỗi chuyến xe qua nhe anh Hai, nhưng
rong rêu thì cứ bám hoài dưới những trụ cầu, khó rời như để ghi dấu tích những
tháng năm trôi xuôi của sự chịu đựng âm thầm lặng lẽ mà bất tận của cây cầu Hoàng
Diệu này vậy!
Giờ xin nói qua một bài báo của tác giả Trần Phỏng Diều tui vừa đọc được, với cái
tựa là “Tết Miền Nam”, có đoạn tác giả viết: “Ở miền Nam, có
bốn món cúng và bốn món ăn ngày Tết: món thứ nhất là thịt hầm. Bắt buộc
phải là thịt bắp đùi, hầm cho nhừ với vài vị thuốc Bắc. Món này chỉ để ăn chơi
chớ không ăn với cơm. Món thứ nhì là thịt kho Tàu, bắt buộc phải là thịt
ba rọi (ba chỉ) và bắt buộc phải to ít nhất cũng bốn phân và bắt buộc
phải cho vào nồi thịt kho ấy một trái dừa xiêm, để cho món thịt kho ấy lạt đi.
Món thứ ba là khổ qua dồn thịt heo bằm nhuyễn cũng hầm y như hầm món thịt nói
trên. Món thứ tư thật ra là hai món nhưng chỉ để ăn chơi nên xem như một, đó là
nem và bì. Rau chỉ có một thứ độc nhất và cũng bắt buộc, ấy là món dưa
giá. Trong bất kỳ món nào trong bốn món kể trên cũng bắt buộc ăn với dưa
giá.”(1)
Thưa anh Hai,
Vừa
đọc xong đoạn tác giả kể bốn món ăn ngày Tết ở miền Nam, tui tối tăm mặt mũi hết
biết đường mò. Tui hỏi thiệt anh Hai nhe, từ tạo thiên lập địa tới giờ, trên làng
Bắc Nam thuộc quận An Phú của anh có bao giờ anh nghe tới sáu thứ “bắt
buộc” như tác giả liệt kê như vừa kể hông anh Hai ? Riêng tui miệt kinh
xáng Bốn Tổng dưới này, từ hồi cha sanh mẹ đẻ tới giờ tui chưa bao giờ nghe ông
già bà cả kể về bốn món cúng mà có tới sáu chữ “bắt buộc” như vậy
nhe anh Hai.
Làm gì mà có món thịt bắp đùi hầm thuốc Bắc để ăn chơi chứ không ăn với cơm? Làm
gì mà có “bắt buộc” thịt kho rệu phải là thịt ba rọi ? Đành rằng
muốn thịt kho rệu ngon thường thường mấy bà nội trợ ưa kho thịt ba rọi; nhưng nếu
kẹt quá, không có thịt ba rọi , người ta có thể du di kho bằng thịt đùi cũng đâu
có sao ? Rồi làm gì có “bắt buộc” phải cắt vuông vức bốn phân; nếu
lỡ cắt năm phân hoặc sáu phân hoặc nhỏ hơn chút ít hổng châm chế được hay sao
anh Hai ? Rồi làm gì “bắt buộc” phải có một trái dừa xiêm cho vô
nồi thịt kho ? Nếu hổng có dừa xiêm, mình dùng các loại dừa khác chắc cũng đâu
có sao, phải hông anh Hai ? Còn một “bắt buộc” nữa là “trong
bất kỳ món nào trong bốn món kể trên cũng bắt buôc ăn với dưa giá “;
sao kỳ vậy anh Hai ? Ông bà mình thường nói “dưa giá cá kho”, nay tác giả
nói “bắt buộc” như vậy, hổng lẽ món thịt hầm thuốc Bắc, và món hủ qua hầm
là những món thuộc loại canh mà cũng ăn với dưa giá nữa sao anh Hai? Dưa giá mà
ăn với thịt kho thì hạp nhưng dưa giá mà ăn với canh thì chắc hai món này hổng
hạp anh Hai à? Thiệt tình là tui hổng biết tác giả căn cứ vào đâu mà ‘bắt
buộc” dân quê miền Nam mình ăn Tết gò bó quá mạng như vậy.
Thưa anh Hai,
Thiệt
tình ra việc ăn uống ngày thường hoặc lo mấy món ăn trong ba ngày Tết là việc
tùy thuộc vào từng hoàn cảnh gia đình mỗi người mà liệu lượng sao cho vừa với túi
tiền trong mỗi gia đình. Dĩ nhiên món ăn ngày thường thì có phần đạm bạc, ba ngày
Tết dù nghèo hèn gì cũng rán sắm sửa sao cho có món ăn ngon cúng quảy ông bà
cho ra vẻ Tết nhứt, nhưng cũng không ra ngoài câu châm ngôn xưa nay là “liệu
cơm gắp mắm” anh Hai à. Vả lại, ông bà cũng đâu có đòi hỏi mình phải hầm thịt
đùi với thuốc Bắc, hủ qua hầm, nem bì, dưa giá gì mà ông bà chỉ chứng miêng ở lòng
thành kính hiếu đạo của con cháu là đủ rồi. Có người khuất mặt nào mà đòi măm đòi
bàn để con cháu phải vay nợ vay nần lo miếng cúng miếng ăn. Anh Hai thử nghĩ
coi tui nói vậy có đúng cùng không anh Hai ?
Nhớ có lần, đâu cũng khoảng năm năm dìa trước, tui cũng ý kiến về tác giả Trần
Phỏng Diều trên Talawas về cách ăn uống của dân quê mình mang tính hoang dã.
Tui xin chép lại vài đoạn anh Hai đọc chơi nhe:
“Tác giả kể: "Buổi đầu, khi
những lưu dân đặt chân lên vùng đất này thì thiên nhiên ở đây còn rất hoang sơ,
rừng hoang cỏ rậm, thú dữ hoành hành. Con người cảm thấy lạ lẫm trước một cảnh
quang thiên nhiên mà ở nơi quê cha đất tổ họ chưa hề gặp phải. Vì vậy, để sinh
tồn, ở phương diện ăn uống, họ không thể nào ăn các món ăn truyền thống nơi quê
nhà, bởi nguyên vật liệu, các nguồn lương thực họ chưa hề quen biết, nên lúc
đầu gặp gì ăn nấy, từ những cây cỏ trên bờ, con cá dưới sông, con chim trên
trời... cho đến các loài sinh vật khác. Tính hoang dã trong văn hóa ẩm thực của
người Nam bộ đã định hình từ lúc này.”
Về điểm này điều khó thuyết phục là “để
sinh tồn, ở phương diện ăn uống, họ không thể nào ăn các món ăn truyền thống
nơi quê nhà”, làm cho người đọc tự hỏi, các cư dân mới đến vùng đất này là
từ đâu? “Món ăn truyền thống” của họ là gì? Họ có phải là người Việt Nam hay
dân tộc nào khác? Nếu họ là người Việt Nam từ các tỉnh miền ngoài từ Quảng
Bình, Quảng Nam trở vào chẳng hạn, thì món ăn truyền thống của các vùng ấy là
gì? Có phải họ lấy gạo làm cơm, lấy cá làm thức ăn không hay là họ có những
thức ăn nào khác ngoài cơm và cá? Ngay cả các lưu dân từ bên Trung Hoa, nhóm di
thần nhà Minh, đến cù lao Phố và Mỹ Tho ngay buổi đầu đi nữa, họ chắc cũng ăn
cơm với cá. Thì thử hỏi trong trong hoàn cảnh mới với đất đồng mới mà đầy cá và
rau họ không ăn hai món này thì họ sẽ ăn gì? Phải chăng cá và rau không phải là
những món ăn truyền thống của họ?
Tác giả viết tiếp: "Điều dễ
nhận thấy nhất ở tính hoang dã này là người Nam bộ ăn rất nhiều rau”, rồi
lại tiếp ”đối với loài thủy hải sản, ngoài các loại cá, tôm bắt ở ao, đìa,
người ta còn ăn cả các loài mang tính hoang dã như: con còng, con cua, ba khía,
chuột, cóc nhái, ếch, rùa, rắn, lươn, le le, dơi … và thậm chí người ta còn ăn
cả một số loài côn trùng như: cào cào, dế … nữa.”
Và có lẽ đoạn văn sau đây ta cần đặc biệt ghi nhận:
"Nhưng nổi bật hơn hết trong tính hoang dã này
chính là môi trường của việc ăn uống. Người Nam bộ thường có thói quen chế biến
món ăn và ăn ngay tại chỗ, nên tính hoang dã ở đây thể hiện ở việc các món ăn
gắn với không gian của một khoảnh vườn, đám ruộng, bờ ao. Món cá lóc nướng trui
là một minh chứng cho điều này, hoặc một nồi canh chua cá lóc được nấu ngay sau
buổi tát đìa cũng thể hiện điều đó. Bởi vì, mọi thứ đều là cây nhà lá vườn. Tát
đìa xong, người ta lựa những con cá lóc to, đem nấu canh chua. Mọi thứ rau,
như: bạc hà, ngò om, cà chua, ớt ... đều có sẵn ở miếng vườn kế bên, không phải
ra chợ mua.”
Trước hết nói về ăn rau. Thú thật,
tôi chưa bao giờ nghe hay đọc bất cứ tài liệu nào cho rằng vì “ăn nhiều rau”
nên người dân miền Lục tỉnh “có tính hoang dã” trong việc ăn uống. Ông bà xưa
có nói “đói ăn rau, đau uống thuốc”. Ở vào thời kỳ khó khăn khi các lưu dân mới
tới vùng này buổi đầu cũng như về sau này, sở dĩ cư dân ở đây ăn nhiều rau vì
trên các thửa đất bạt ngàn miền Nam này có quá nhiều rau. Rau thiên nhiên hay
rau trồng chẳng những nuôi sống con người khi đói mà còn cứu sống con người
những lúc ốm đau nữa. Trong rau có nhiều chất dinh dưỡng và cũng có nhiều vị
thuốc, chẳng lẽ bây giờ lại đi tìm cao lương mỹ vị gì trên trời mà không ăn
rau? Xưa Nguyễn Công Trứ “ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”, chẳng lẽ trong
bụng Nguyễn Công Trứ lại mang tính “hoang dã” nữa sao! Vả lại, theo tác giả,
“mọi thứ đều là cây nhà lá vườn”, “không phải ra chợ mua”, rồi kết luận rằng đó
là “đặc trưng của tính hoang dã” trong ăn uống, điều này lại càng không đúng.
Thành ra, cư dân Nam phần ăn rau vì đất trời ở đây mang tới cho con người quá
nhiều rau, chứ không phải vì “tính hoang dã” hay hoang địa gì trong việc ăn
uống này.
Thứ đến là việc ăn cá hay ăn cua, ăn
còng, rùa rắn. Điều đơn giản là đặc sản vùng này có quá nhiều cá tôm rùa rắn.
Thứ gì cũng ngon và hấp dẫn. Sẵn trên sông, trên đồng, dưới mương trong ruộng,
nơi nào cũng đầy dẫy thức ăn ngon và lạ. Thế là cư dân ở đây cứ việc bắt lên và
nấu nướng thành những món ngon cho bữa cơm mỗi ngày. Sống giữa một trời lương
thực như vùng đất Nam phần này, nếu bạn không ăn những vật thực này thì bạn ăn
món ngon vật lạ nào nữa bây giờ? Bảo rằng cư dân ở đây ăn những món bắt được
trên đồng trên sông như vậy gọi là mang “tính hoang dã trong ẩm thực”,
thật là một điều càng đáng nghi ngờ.
Nhưng có lẽ nhận định cuối của tác
giả trong phần chúng tôi vừa trích bên trên là kém chính xác nhất, đó là
“môi trường của việc ăn uống”. Tác giả bảo “cá lóc nướng trui”, “canh
chua cá lóc nấu ngay sau buổi tát đìa” ngay trên bờ đìa, miếng ruộng, mảnh
vườn mang “tính hoang dã”. Điều này không đúng. Vì một năm mấy lần tát
đìa và cư dân ở đây ăn được bao nhiêu nồi canh chua như vậy trên bờ đìa bờ
ruộng? Đó là chưa kể, đìa thì thường đào ở các ruộng lung, ruộng trũng rất xa
nhà, có khi cách xa vài ba cây số hoặc có khi phải đi cả ngày mới tới đìa. Nếu
tát đìa xong mà không nấu cơm, nấu canh chua, nướng trui cá lóc ngay bên bờ đìa
hoặc trong trại ruộng để ăn sau một ngày lao lực mệt nhọc thì làm sao có sức và
thời giờ để mang cá về nhà, để lo cho các công việc đồng áng khác đang chờ bàn
tay của người làm ruộng!
Nếu quan sát kỹ thêm chút nữa, ta
thấy chỗ ngồi ăn của cư dân Nam phần không nhất thiết lúc nào cũng ngồi bệt
dưới đất mà tùy theo sinh hoạt mỗi ngày, họ có nhiều chỗ ngồi khác nhau vào những
hoàn cảnh khác nhau như ngồi bên bờ kinh, dưới gốc cây, ngồi trên lớp rơm,
ngồi trên chiếc đệm, ngồi trên chiếc chiếu rách, ngồi trên chiếc chiếu trắng,
ngồi trên chiếc chiếu bông, ngồi trên sạp tre, ngồi trên sàn nhà bằng ván, ngồi
trên bộ ván xoài, ngồi trên bộ ngựa gõ, ngồi vào bàn tròn, ngồi vào bộ tràng
kỹ. Các nơi chốn khác nhau như vậy cho thấy cư dân ở Nam phần đã tạo được cho
mình một nét đẹp trong đời sống. Nếp sống và suy nghĩ qua những chỗ ngồi đó
chẳng những không mang “tính hoang dã” trong ăn uống mà nó còn biểu hiện
cái nét đẹp trong sinh hoạt hằng ngày của cư dân nơi này. Ở đó nó giữ được cái
nét giản dị mà vẫn trọng lễ nghi; nó chứa đựng cái tình thân ái mà vẫn giữ được
tôn ti trật tự trong gia đình.
Tóm lại, việc ăn uống của cư dân Nam
phần không hề mang “tính hoang dã” cho dù ở đây người ta thích ăn nhiều
loại rau cùng cá tôm và các sinh vật khác có mặt trên đồng ruộng sông rạch. Có
chăng, nếu muốn đưa ra một nét tiêu biểu nào đó trong hương vị các món ăn vùng
này, thì có thể nói rằng các món ăn vùng này thể hiện được khẩu vị, cá tính,
hoàn cảnh, nếp sống, thói quen của từng nhà trong làng quê miền Nam này. Nhìn
mâm cơm với các món ăn dọn lên hằng ngày người ta rất dễ nhận ra các đặc điểm
vừa kể.” (2)
Thưa anh Hai,
Qua các món cúng ngày Tết vừa nêu và qua tính “hoang
dã” trong cách ăn uống ở Nam phần hồi năm nẳm cuả tác giả Trần Phỏng Diều,
anh Hai thấy sao ? Có đúng cùng không, thưa anh Hai?
Vài hàng thăm anh chị và cầu chúc anh chị mạnh khoẻ.
Kính thư,
Hai
Trầu
Phụ chú:
(1) Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 737 (Số đặc biệt Tất Niên),
ngày 01 tháng 02 năm 2011, trang 91.
(2) Trích Talawas (Diễn đàn 2001-2008), ngày 06 tháng 11
năm 2006