Lá
Thư Từ Kinh Xáng
Kinh
xáng Bốn Tổng ngày 31 tháng 12 năm 2007
Thưa anh chị Hai An Phú,
Hôm
nay là ngày cuối năm dương lịch, ở kinh xáng Bốn Tổng buồn quá mạng, nên lục lại
giấy mực viết mấy hàng này gởi anh chi đọc chơi nhơn tui vừa đọc được mấy trang
báo anh kể lại con sông Bassac chảy ngang qua Long Xuyên nghe nó thấm thía cái
tình sông rạch vô cùng nhe anh chi Hai.
Tui
nghĩ ông bà mình từ thời phát cỏ khai khẩn dất hoang chắc đã có ý đặt tên các
con sông vùng mình rồi anh chi Hai à. Sông nào lớn thì kêu bằng sông Cái. Hồi
đời xưa hai con sông Tiền, sông Hậu là thuộc về sông Cái ráo trọi. Rồi hai con
sông Cái này mới đẻ ra mấy con sông con chảy vô ruộng rồi bà con mình kêu
tên mấy con sông này là rạch. Nhưng sông cái và rạch hổng đủ sức rút nước phèn,
nên ông bà mình mới đào thêm kinh rút nước phèn. Kinh nào đào bằng tay thì kêu
kinh đào; còn kinh nào đào bằng xáng cạp thì kêu bằng kinh xáng. Còn mấy đường
nước thiên nhiên do voi cọp lội khi còn hoang địa, sau nhờ xuồng ghe qua lại
nhiều, lúc đầu gọi là mương nhưng sau lâu dần dân chúng nạo vét để ghe xuồng
qua lại dễ dàng hơn mà thành rạch như mấy nhánh sông con dọc theo hai bên bờ
sông cái.
Do
vậy, toàn vùng miền Tây, ngoài hai con sông Tiền, sông Bassac như anh Hai kể, rạch
và kinh xáng, kinh đào cùng mương nhỏ mương lớn, ôi thôi vô số kể anh Hai à.
Sông cái coi như sông Mẹ và các phụ lưu hai bên bờ chẳng khác nào những chùm rễ
phụ chở phù sa bồi đấp những cánh đồng. Như anh kể, từ Châu Đốc xuống có kinh
Vĩnh Tế, kinh Ông Cò, rồi tui còn thấy có kinh xáng Vịnh Tre, rạch Cái Dầu,
kinh Ông Quít, rạch Năng Gù, rạch Mặc Cần Dưng. Bên kia sông có rạch Mỹ Hội
Đông, rạch Nhơn Mỹ. Bên này, đi xuống khỏi rạch Mặc Cần Dưng thì có mương Bình
Phú. Trong lộ đá có mương Trâu. Dài xuống miệt Long Xuyên có rạch Chắc Cà Đao,
xép Bà Lý, rạch Cần Xây, rạch Trà Ôn, rạch Cua Lò Thiêu, rạch Long Xuyên, rạch
Cái Sơn, rạch Tầm Bót, rạch Gòi Lớn, rạch Gòi Nhỏ, rạch Cái Sao, rạch Cái Dung,
rạch Cái Sắn, rạch Trà Úi, rạch Bồ Ót, rạch Thốt Nốt, rạch Cần Thơ Bé, rạch Ô
Môn, rạch Bình Thủy, rạch Cái Khế. Dài xuống nữa có rạch Mái Dầm, rạch Cái Côn,
Mương Khai, rạch Kê Sách và dài xuống nữa là các con rạch quen tên như rạch Lịch
Hội Thượng.
Nếu
theo đường rạch Long Xuyên chỗ cầu Hoàng Diệu đi vô hướng Núi Sập thì có các
con rạch như rạch Bà Bầu, rạch Vĩnh Chánh, rạch Phú Hòa, rồi còn thêm rạch Ba Bần,
kinh Ông Cò (trùng tên với kinh Ông Cò trên Châu Đốc mà anh hai có nhắc trong
bài sông Bassac), kinh xáng Bốn Tổng. Vô gần tới Núi Sập thuộc địa phận xã Định
Mỹ có kinh Zéro, kinh Đòn Dông. Qua hướng cánh đồng Tân Hiệp là một lô nhiều
con kinh đào cho người Bắc di cư năm 1954 nước đổ ra rạch Cái Sắn chảy vô Rạch
Giá có tên lấy chữ cái như kinh A, kinh B, kinh C, kinh E, kinh F …. Hồi
xa xưa cánh đồng này ruộng lúa bao la và nhà cửa còn thưa thớt lắm. Mùa mưa ở
đây đi đập chuột là hết sẩy và cá mú cũng nhiều vô số kể. Tui có thời đập chuột
trên đồng này cũng như giăng lưới, nuôi vịt chạy đồng vào những năm còn lúa
mùa. Ôi thôi cua ốc thiên trùng, vịt nào mà ăn cho hết anh chị Hai.
Còn
miệt Cù Lao Ông Hổ ngang Long Xuyên, phía bên kia sông Bassac dài tới Vàm Cống,
Lấp Vò, Lai Vung, Cái Vồn, Trà Ôn, Vĩnh Bình, ôi thôi vô số là rạch, kinh đào,
kinh xáng cùng mương và các cựa gà dẫn nước vô ruộng chằng chịt, không nhớ xiết
anh chi Hai à. Ví dụ như ngang Long Xuyên có bến bắc An Hòa đổ lên Chợ Mới có rạch
Cái Hố, rạch Mỹ Luông ăn thông qua sông Tiền. Còn xuôi xuống hướng Cần Thơ có rạch
Vàm Cống, rạch Cái Dầu (Định Yên), rạch Hòa Lạc, rạch Lai Vung, rạch Cái Vồn, rạch
Trà Ôn ….
Vô
vùng Lấp Vò có rạch Cái Bần, rạch Cái Dâu, rạch Lấp Vò, rạch Thủ Ô. Ngang chợ Lấp
Vò có rạch Cái Tàu. Đi lên nữa thì có rạch Xẻo Tre, rạch Mương Kinh thuộc xã Hội
An Đông. Rồi nào là rạch Cái Nai, rạch Xẻo Môn bên phía bờ Chợ Mới tỉnh An
Giang. Còn vô làng Tân Bình có rạch Tân Bình, rạch Bờ Cao, rạch Dược, rạch Trầu,
rạch Xẻo Da, rạch Vông, rạch Bà Chánh, rạch Bàu Hút, kinh xáng Lớn, kinh xáng
Nhỏ và nhiều kinh rạch nhỏ khác nữa …
Hai
bên bờ con sông Hậu Giang thì sông rạch là vậy, nhưng cồn và cù lao nổi giữa
dòng sông thì ôi thôi đếm hổng có xuể anh chị Hai à . Miệt Long Xuyên có cồn Bà
Hòa, cù lao Ông Hổ, cù lao Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây ngang Thốt Nốt (dân quê
kêu là Thóc Nóc). Xuống khỏi rạch Cái Côn có cồn Quốc Gia; đổ dài xuống nữa có
cù lao Dung chạy dài gần tới biển.
Thưa
anh chị Hai,
Nhơn
anh Hai nhắc tới cá mắm trên sông Bassac, tui nhớ đâu khoảng năm 1980 tui sống ở
lò gạch Cái Côn. Ban ngày lo xới đất làm gạch làm ngói, ban đêm tui thường đem
mấy cái lờ xuống mấy gốc bần móc vùng đặt cái lờ vào giữa hai cái rể bần, đâu
chừng năm cái lờ tôm như vậy và trưa nào sau khi làm gạch xong là tui nhảy ùm
xuống sông lo giở lờ. Anh Hai ơi, cái lờ nào cũng có tôm càng ráo trọi. Vị chi
năm cái lờ mỗi ngày tui kiếm được trên một chục con tôm vừa lớn vừa nhỏ; có khi
gặp hên, tôm vô nhiều quá mạng, tui phải bỏ vô rổng để dành khi ở nhà xuống
thăm đem tôm lên nướng ăn với bún hay tôm kho tàu là hết sẩy. Ngoài ra, thời kỳ
này tui còn có thêm cái nghề thả câu lươn và buộc lùm xúc cá bống dừa, cá bống
trứng, cá bống cát, cá bống xệ. Ngày nay thì cá mú gì cũng tiêu điều ráo trọi
anh Hai à. Đi đâu tui cũng chỉ thấy cá nuôi bè, nuôi mùng lưới, nuôi ao, nuôi hầm
chứ cá dưới sông, dưới đồng khó kiếm dữ lắm. Thành ra, hổng có cá nói gì ba cái
vụ làm mắm thái mắm ruột gì phải hông anh Hai?
Thưa
anh chi Hai,
Sông
sâu nước chảy nhưng sông sâu nhiều bận cũng “cạn dòng, nghẽn mạch” như bác sĩ
Ngô Thế Vinh đã thông báo lâu rồi mà mình vì phận quê nghèo nên hổng để ý cái nạn
“cạn dòng, nghẽn mạch” phải hông anh chi Hai. Nhưng nói gì thì nói, ba con sông
con rạch dọc hai bên bờ sông Bassac, tui kể anh chị nghe chơi chắc còn thiếu
nhiều lắm. Có gì thì mong anh còn nhớ và bổ khuyết thêm cho em út nhe anh Hai.
Nhơn
NĂM MỚI 2008, vợ chồng em kính chúc anh chị Hai và anh chị Đoàn Đông
& Lộc Tưởng, anh chi Bảy Tân Châu và bà con Thất Sơn Châu Đốc một năm mới vạn
sự như ý.
Nay
kính thư,
Hai trầu