Lá Thư Từ Kinh Xáng
Kinh xáng Bốn Tổng ngày … tháng
8 năm 2008
(nhằm ngày rằm tháng Bảy âm lịch)
Thăm Chú Phan ở thành Đà,
Mới bắt được cái thơ chú gởi,
tui vội vàng hồi âm cho chú liền, kẻo hông thôi lại sợ chú trông. Thời buổi gạo
lúa mùa này chạy ăn muốn sặt máu mà chú còn ngồi viết thơ cho tui thì hổng cách
gì mà tui lại chậm trễ hồi âm cho chú được chú Phan à. Phép xử thế xưa nay nó
khó là vậy!
Trong thơ chú có hỏi chỗ tui
dưới này có mưa bão gì hông.? “Tiết tháng bảy, mưa dầm sùi sụt” mà chú.
Trời đất đặt để như vậy rồi chú à. Nếu rằm tháng Bảy mà nắng là nghịch với lẽ
trời đất rồi. Mưa tháng Bảy là mưa Ngâu, rằm tháng Bảy là rằm Trung Nguyên, là
dịp ‘vong nhân xá tội’ mà. Do vậy mà Ngưu-Lang- Chức-Nữ khóc, mà trần thế
này cũng nhớ mà chiêu niệm “hồn đơn phách chiếc” nữa.
Có một điều lạ như thế này
nhe chú Phan, hễ có mưa là có rau càng cua. Rau càng cua mọc đầy vườn cam quit,
đầy dưới góc chuối, gốc bạc hà, đâu đâu cũng rau càng cua là càng cua; mà nhứt
là những vườn hoang nhà trống hồi thời tản cư Tây bố mấy năm 1940, y như rằng
chạy giặc là càng cua mọc đầy vườn đó chú Phan à. Tui nhớ lúc đó tui còn nhỏ,
thường theo Tía tui bơi xuồng lén dìa thăm nhà, lần nào cũng như lần nào, mấy
chị em tui hái rau càng cua đem lên chỗ bến đò nhà thương Long Xuyên vừa bán vừa
cho bà con cùng tản cư đậu ghe chỗ bến nhà thương này cùng ăn cho nhớ chút hơi
của rau cỏ miệt vườn cũ. Vậy mà ngày nay già rồi, vừa nghe chú nhắc rau càng
cua mà bóp gỏi gà xé phay là tui nhớ ‘những mùa màng ngày cũ” liền hà chú
à!
Vườn tược ngày ấy tiêu điều lắm,
vì đâu có ai săn sóc chăm nom gì. Cứ mạnh cây nào thì nấy mọc; vậy cho nên mới
gọi thời kỳ tản cư là thời kỳ “vườn hoang nhà trống” mà. Chú biết hông, lúc đó
mà dám bò dìa thăm vườn cũng là có cái gan lớn lắm đó chú. Vì vùng tui hồi xưa
nhiều phe phái lắm, nên gặp ai mình cũng sợ ráo trọi. Chỉ có điều nhớ vườn, nhớ
ruộng qúa thì liều mạng đặng dìa thăm vậy thôi chứ hổng có ai gan lớn gan nhỏ gì
trong ba cái đi đi dìa dìa này chú à. Hồi xưa ông bà mình cũng hay phú cho Trời.
Trời kêu ai nấy dạ mà !
Ngoài rau càng cua, ở vườn ngày
xưa còn có nhiều loại rau khác nữa. Ngoài đồng thì có rau cần ống, rau cần cơm,
rau dừa, rau muống, rau lang, rau mác, rau ngúc còn kêu là rau nhúc, rau
trai…; trong vườn thì có rau răm, rau dấp, rau thơm,, rau đắng đất, rau sam,
rau giền, rau vòi voi, rau má nữa. Rau má thì có vị hơi đắng nên trị được chứng
nhiệt , nên lúc mình bị nóng trong mình là uống rau má nó lại mát mẻ lại liền.
Rau càng cua thì như chú nói cái phần có hột hơi nhân nhẫn đắng, nên ăn được loại
rau này cũng mát lắm nhe chú ! Vì cái gì có vị đắng cũng trị được cái chứng nhiệt
ráo trọi; lại nữa “thuốc đắng đả tật” mà chú…
Ruộng thời kỳ ấy đã mở mang rồi,
nhưng chạy giặc như vậy rồi ruộng lại thành đất lâm nữa. Nhưng lâm là lâm vậy
thôi, chứ đất nào cũng có chủ ráo trọi rồi, hổng có ai giành của ai đâu vì đất
mình còn gìn giữ chưa nổi nạn chuột bọ, có sức đâu mà lấy thêm đất của chòm xóm
láng giềng làm gì. Vả lại, nói là nông dân quê mùa là nói vậy thôi, chứ hồi đời
xưa ấy cái mối giềng nhân nghĩa trong xóm trong làng còn coi trọng lắm chứ chẳng
phải giỡn mà giành qua giựt lại như mấy lúc sau này chú à. Lúc bấy giờ, chú chỉ
cần có sức mà vác cái phảng ra đồng lo mà phát cỏ dọn đất ruộng mình là cũng đủ
mệt gần chết rồi, chứ nói gì lấn qua đất người khác làm gì cho bất nhơn thất đức.
Nhơn chú nhắc ba cái rau càng
cua, tui lại nhớ sau năm 1954, khi Tía tui hồi cư dìa nhà cũ, lúc ấy vườn cam
quit của Tía tui cũng có nhiều rau càng cua lắm. Mấy chị tui hay hái rau này đem
ra chợ làng ngồi bán hầu hơ hầu hãi cũng được vài ba đồng là nhiều nhưng tui
ham theo mấy chị tui hái rau lắm nhe chú. Thuở đó, tui chưa đi học đi hành gì vì
trường đâu mà học. Cả làng chỉ có vài người biết chữ, nên người biết chữ thời ấy
được chòm xóm nễ trọng lắm. Nên cha mẹ nào cũng muốn con mình biết chút ít mặt
chữ nhưng đâu phải ai cũng đi học được. Tui vào hạng trẻ con này nên chữ nghĩa
tui viết cho chú trong thơ này đa phần là học lóm mấy đứa trẻ cùng xóm được mấy
thầy giáo làng dạy.
Lại nữa, cái thời mà mấy thầy
biết chữ nghĩa được nễ trọng, cũng là thời mấy thầy đánh học trò dữ quá. Đánh bằng
bàn tay chưa đã thèm, mấy thầy còn dùng roi mây, thước bang, củ mây, củ tre mà đánh
học trò nữa nhe chú. Do vậy mà tui quá sợ đòn và chịu dốt tới già là vậy. Ở làng
tui nổi tiếng đánh học trò là có thầy Chín Nhậm, thầy giáo Chánh dạy lớp Nhứt,
thầy Nhì dạy lớp Nhì; còn ở trường Tiểu học tỉnh lỵ Long Xuyên thì có thầy Năm;
trường Tiểu học bên xã Mỹ Phước thì có thầy Cậy. các thầy này ngày trước hổng
phải không thương học trò nhưng tại vì cái cách dạy học ngày xưa nó nặng phần
roi vọt là vậy. Con nít đứa nào cũng sợ đòn, nên bị thầy đánh hoài nên đứa nào
cũng khờ câm ráo trọi chú à !!!
Trời thần ơi, còn cái món nước
chấm mà chú dặn trong thơ nữa mới là “tuyệt tình cốc”. Từ nhỏ tới lớn
tui mới học cái cách vắt nước chanh mà vắt ngược nhe chú. Người xưa thường hay
nói “văt chanh bỏ vỏ” và nay tui mới biết vỏ chanh coi vậy mà qúi. Quí là
quí cái chất dầu cay của nó là vậy mà ít người biết mà dùng. Vắt miếng chanh mà
vắt ngược thiệt đúng là nước tương hiệu lá Bồ Đề chưa chấm mà đã nghe mùi thơm
của vỏ chanh rồi. Làm món nhậu ngon như món gà xé phay trộn rau càng cua, hoặc
mòn bò tái chanh mà có nước chấm ngon thơm nữa thì đưa vài ly đế nếp nữa thì ôi
thôi nó đã thèm biết chừng nào. Phải vậy hông chú ?
Còn việc chú rủ thân già này
lên chỗ chú chơi, tui thì trong bụng thiêt là mừng vì mấy em thương thì rủ vậy;
nhưng lực bất tòng tâm chú Phan à! Nay tui già lụm cụm rồi mà đi đường xá xa xôi
quá lại lo cái lưng mỏi gồi dùn, mặc dù trong bụng tui lúc nào cũng nhớ anh em
trên ấy dữ lắm. Nhưng có điều an ủi này là tui biết mấy em thương tui là thương
thiệt, nên tui vui mừng lắm. Giữa cõi ta bà này vào thời buổi này mà còn có người
hiểu và thương mình là qúi dữ lắm. Tui vui là vui vậy đó chú Phan.
Nhơn đây, tui mới hay tin ông
Sơn Nam chết trên Sài Gòn. Trong số các nhà văn miệt vườn, ông Sơn Nam là người được phước hơn nhiều người. Khi sống ông được khen, lúc chết ông được ca ngợi.
Tui lại hổng chịu cái cách khi sống hổng ai thèm ngó ngàng gì, đến lúc chết thì
viết bài ai điếu đăng lung tung trên báo. Cái dở của báo giới nói riêng và cái
thói đời nói chung là vậy. Người ta không chịu khen cái hay khi người ta còn sống,
đến lúc chết rồi thí lại lên báo đọc điếu văn. Thi sĩ Bùi Giáng lúc sống ai gặp
cũng gớm ghiếc, chê dơ, chê khùng; rồi sau này báo nào cũng ca tụng hết mình nào
là “thi sĩ trung niên”, “thi bá”, ‘thi tài”. Rồi tới thi sĩ Thanh Tâm
Tuyền nữa, lúc sống chẳng ai đoái hoài; tới khi chết thì hằng hà sa số lời ca tụng
một tài thơ đã khuất, đọc mà biết mệt.
Ở đây, trong tình riêng, tui
thưa cùng chú như vầy: Ở đời sống nhiều bất trắc như đời bây giờ, thấy ai hay
thì mình nên khen họ khi còn sống còn hơn ngàn câu ca khi họ nhắm mắt rồi chú à.
Hồi năm ngoái, tui có một lần tui liều mạng viết gởi báo mạng nhơn nhà văn
Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa ở tuốt miệt Xà Tón- Tri Tôn bị bịnh thập tử nhứt sinh
vì chứng bịnh trời kêu, báo cứ tưởng tui quen ông Lưu Nhơn Nghĩa rồi ca ổng. Thực
ra, hổng phải vậy chú Phan à. Đây là một văn tài vùng Xà Tón - Tri Tôn khó tím
chú à. Tui trong đời sáu bảy chục năm nay tui chưa thấy ai viết về cái miệt Xà
Tón – Tri Tôn hay hơn Lưu Nhơn Nghĩa, kể cả ông Sơn Nam. Vậy mà báo hổng chịu đăng.
Sau này vài tháng, ông nhà văn này mất; tui lại viết bài nữa nói về văn cách của
nhà văn bậc thầy này và gởi cho tờ báo ấy nữa. Lần này, nghĩ tình sao tui hổng
biết, báo này lại chịu đăng. Có lẽ vì thấy tui gởi hai lần và nay nhà văn đã hổng
còn nữa, nên họ thương tình mà đăng bài nói lên cái nét đặc biệt của một văn tài
khó tìm như Lưu Nhơn Nghĩa chăng? Nhưng dù sao, tui cũng thiệt tình là biết ơn
họ, dù đăng khi nhà văn chết rồi còn hơn không.
Tui nghe nói chú hồi xưa cũng
có làm nghề dạy học, rồi tui nhớ ông Lưu Nhơn Nghĩa cũng đường đường là giáo sư
trung học một thời xuất thân từ trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, tui dân quê nên
kính trọng mấy thầy dữ lắm. Hổng thầy đố mày làm nên mà. Tui nói thiệt với chú,
nếu chú muốn biết về cách học ngày xưa ở vùng Xà Tón hay cách học sau này nơi
phố sá Sài Gòn thập niên 1960, hổng gì bằng chú tìm Lưu Nhơn Nghĩa mà đọc chú
Phan à. Trong đó chú sẽ tìm thấy cái hay , cái dở của một thời mà ngày nay ít
người còn nhớ và nhắc nhở cho sắp nhỏ biết đường mà mò.
Còn nói dìa món ăn xứ Xà Tón
những năm 1950, hoặc trước 1950, chú chuyên môn chế biến món ăn, chú sẽ thấy các
món ăn của người Miên, người Việt, người Tàu vùng đất khỉ ho cò gáy này nó đặc
biệt dữ lắm nhe chú. Tui tin là chú sẽ mê cách viết rặt quê của Lưu Nhơn Nghĩa
mà tiềm tàng chất sống của một vùng đất mà tui tin hổng ai viết qua tác giả náy
nổi chú Phan à !
Chú Phan à,
Sở dĩ tui nhắc cái bịnh chờ
người ta chết rồi mới đọc lời ai điếu là để nhằm thán phục các bạn Trẻ đã cư xử
quá “điệu nghệ” với nhà thơ Phan Xuân Sinh hôm trước mà chú có nhắc trong thơ này.
Chữ “điệu nghệ” theo chỗ tui biết trong làng tui từ nhỏ tới giờ, không phải cái
nghĩa như nhiều người cắt nghĩa là “đạo nghĩa” chú Phan à. Chữ “điệu” và “nghệ”
hổng có chút gì ăn nhập với “đạo” và “nghĩa” ráo trọi. Mà đó chẳng qua là chữ
ghép của hai chữ “điệu” là cử chỉ và “nghệ” là có vẻ nhà nghề, tức là người sành
điệu lắm rồi. Chẳng hạn khi có người nói “thằng Tâm cầm điếu thuốc coi bộ “điêu
nghệ” lắm nhe”, có gì là “đạo nghĩa” trong này đâu, mà chẳng qua là thằng Tâm này
hút thuốc sành điệu lắm, nhà nghề lắm. Hoặc giả khi chú mời anh Sinh ly rượu mà
chú cầm hai tay, một tay để nơi miệng ly, một tay nâng ở chưn ly, tức là chú mời
rượu người lớn rất “điệu nghệ” rồi vậy. Ở đây chú vừa sành sõi về cách bưng ly
rượu mời mà còn tỏ ra rành về cách mời và đúng cách mình còn nhỏ mời người lớn
uống rượu nữa. Một thí dụ khác, tui có lần đi phát cỏ mướn. Từ cách cầm phảng,
tới thế chém cỏ, từ cách cầm cù nèo tới tay trái chận cù nèo cho lưỡi phảng không
chém vô ống quyển của mình thì mình phải biết cầm phảng cho thiệt “điệu nghệ”.
Nếu không, thì coi như tới chiều mình chưa phát hết nửa công đất. Đó là chưa nói
cỏ nó còn quần mình bể mình bể mẩy, mệt hết hơi, hết sức.
Hoặc như một vài thí dụ khác
về hai chữ “điệu nghệ” mà dân quê hay xài là “ thằng hai bũa lưới, bũa câu thiệt
là điệu nghệ”, “con Ba chèo ghe bơi xuồng rất điệu nghệ”, ‘ông Hai uống trà
thiệt là điệu nghệ”.
Còn như trường hợp sành về tâm
lý, người ta cũng dùng chữ “điệu nghệ”, như có một người bạn, biết bạn mình nghèo
mà vẫn trong sạch, hổng chịu đi vay mượn ai dù là vay mượn trong con cháu, dòng
họ. Một hôm người bạn này mang biếu người bạn mình một ít tiền nhờ trúng số kiến
thiết. Vì thương bạn mà cũng do trọng bạn, nên người bạn này không đám cầm tiền
đưa cho bạn trước mặt nhiều người vì sợ bạn mình ngại và tủi thân, rồi đăm ra tự
ái, nên anh bạn mới mời bạn uống trà và nhơn lúc chỉ có hai người, anh ta mới lén
nhét vô túi áo bạn mình một ít tiền làm quà. Cách cho tiền này thiệt là “điệu
nghệ”, “điệu nghệ” ở cách cho mà “điệu nghệ” cả trong việc chọn giờ giấc, không
gian cùng tâm lý người nhận sao cho ăn khớp với nhau để bạn mình nhận tiền mà
không mang mặc cảm mình phải nhờ vả bạn bè khi túng quẩn.
Điều này cũng phải lẽ thôi chú
Phan à, vì “cách cho nó quí hơn vật cho” là vậy. Nếu cho tiền mà không “điệu
nghệ”, chẳng những chú không nhận được lời cảm ơn, mà nhiều khi còn bị giận vì
cách cho thiếu tế nhị, không “điệu nghệ”. Còn biết bao cách dùng chữ “điệu nghệ”
với nghĩa tương tự như vậy nhe chú Phan. “Điệu nghệ” ở vùng quê tui người
ta hiểu nghĩa đen của nó giản dị là vậy. Còn nghĩa bóng thì để chỉ cách cư xử đẹp
giữa người này với người khác.
Chú Phan mến,
Nhơn nhắc ông Sơn Nam, tui thì
gốc dân quê, dân ruộng, dù quê tui hổng rặt “miệt vườn” nhưng cũng có vườn
tược chút đỉnh, theo lẽ tui cũng theo thói thường người ta hay vấp phải là hễ
thấy ai cùng vùng sông nước với mình mà nổi tiếng thì bắt quàng làm họ, tôn sùng
vô điều kiện, nói trật cũng thành trúng, viết dở cũng thành hay, nhưng tui lại
khác nhe chú. Tui nhiều khi hổng chịu ông Sơn Nam ở chỗ là ổng ỷ mình già lão rồi
muốn nói trời trăng mây nước gì cũng trúng, cũng được. Chẳng hạn như mới đây
tui mò vô talawas đọc được bài “Đó là Sơn Nam” của ông Lê Phú Khải (1),
tác giả có nhắc:
“... Dạo TP. HCM kỷ niệm
300 năm, Sơn Nam có theo một đoàn làm phim ra Quảng Bình dự lễ tưởng niệm Tướng
quân Nguyễn Hữu Cảnh, người Quảng Bình có công khai phá đất Nam bộ. Khi làm lễ, Sơn Nam giở gói đồ khăn đóng áo dài của mình đem từ Sài Gòn ra, mặc vô và lễ tế
rất đúng bài bản. Các cụ Quảng Bình khen nức nở: Trong Nam người ta có lễ hơn cả mình ngoài này! Sơn Nam nói: Trong Nam cũng nhiều thằng lưu manh lắm,
nhưng cử người đi xa phải cử thằng có lễ chớ! Các cụ Quảng Bình... thất vọng!”
“Trong Nam cũng nhiều thằng lưu manh lắm, nhưng cử thằng đi xa phải cử thằng có lễ chớ”, tui nghĩ ông Sơn Nam nói vậy cũng là nói hơi quá đáng đấy
chú Phan à ! Chú nghĩ kỷ lại xem tui nói vậy có đúng cùng hông nhe chú ! “Các
cụ Quãng Bình… thất vọng!” là phải. Theo tui, các cụ Quãng Bình thất vọng vì
cách nói của ông Sơn Nam, chứ hổng phải thất vọng người “trong Nam” đâu
chú Phan à !
Còn đây, là câu văn khác của ông
Lê Phú Khải, cùng trong bài trên:
“Mười năm sau, lần đầu
tiên được gặp Sơn Nam cũng tại quán café ở Gò Vấp, tôi kể lại chuyện chai rượu
10 năm trước, Sơn Nam vẫn nhớ rành rọt: "Tao không ngờ ở ngoài Bắc chúng
mày cũng đọc tao kỹ như vậy." Nghĩ một lúc ông lại nói: "Dân Nam bộ
ưa chiếu bóng, xem cải lương, nghe vọng cổ..., dân Bắc kỳ chúng mày thích văn
chương; chính trước đây ở Sài Gòn, mấy thằng Bắc kỳ Năm Tư (54) nó ‘bốc’ tao
lên từ cái quyển Hương
rừng Cà Mau nên tao nổi tiếng từ
đó..."
Nói gì gốc người Bắc 1954 như
gia đình chú, ngay như tui đây là dân ruộng miền Tây rặt đây mà tui còn tức cành
hông khi nghe ông Sơn Nam gọi “ở ngoài Bắc chúng mầy”, “dân Bắc Kỳ chúng
mầy”, “mấy thằng bắc kỳ Năm tư (54) nó bốc tao lên…”
Dù dân ruộng tụi tui dốt nát,
ít người biết chữ, nhưng không ai đời dám nói năng kỳ cục như vậy bao giờ chú
Phan à ! Chú thử đi xuống vùng Kinh B, miệt Cái Sắn, rồi vô tuốt trong Tân Hiệp,
qua kinh Đòn Dông thuộc vùng Định Mỹ, Núi Sập, những nơi người Bắc vô lập nghiệp
từ năm 1954, rồi chú hỏi thử bà con ở đây coi , có ai trong Nam mà dám kêu bà
con là người Bắc này, người Bắc kia như vậy hông? Riêng đời tui, từ nhỏ tới già
như ngày nay, tui chưa nghe ai nói những lời lẽ đầy tính kiêu căng và xúc phạm đến
người khác tỉnh, khác làng như vậy bao giờ. Tui tiếc là khi ông Sơn Nam còn sống, tui hổng biết mấy giai thoại này, nếu lúc bấy giờ tui mà nghe ổng nói vậy là
tui chong đèn trứng vịt mà viết thơ xin can ổng liền hà. Tui xin can ổng là bớt
bớt lại cái lưỡi để đời sau con cháu còn nhờ chút phước đức của ông bà.
Nhưng thôi, một đời người quả
quá ngắn, dù sống biết bao nhiêu gọi là đủ, nay ổng hổng còn trên dương thế này
rồi, tui cũng hổng muốn bằt bẻ ổng làm gì thêm tội với người đã khuất. Nhân dịp
ông Sơn Nam vừa mới mất và cũng gần lễ giỗ “giáp năm” của nhà văn Phong Hưng Lưu
Nhơn Nghĩa, và cũng đang trong mùa “Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh” ,
tui xin mượn bốn câu kết trong văn chiêu hồn của cụ Nguyễn Du , để cầu nguyện
cho anh linh nhị vị nhà văn quá cố sớm siêu thăng tịnh độ, và cũng để kết thúc
lá thư này luôn nhe chú:
“Phật hữu tình, từ bi, phổ
độ,
Chớ ngại rằng có có chăng
chăng.
Nam Mô chư Phật, Pháp,
Tăng,
Độ cho nhất thiết siêu
thăng linh hồn.” (2)
Thăm chú thiếm và sắp nhỏ mạnh
khoẻ.
Nay thư,
Hai Trầu
Phụ chú:
1/ Trích bài “Đó là Sơn Nam” của Lê Phú Khải, Talawas ngày 18-8-2008
2/ “Chiêu Hồn Thập Loại
Chúng Sinh” của Nguyễn Du, do Đàm Quang Thiện hiệu chú, Thượng Toạ Thích Tâm
Châu đề Tựa, do Nam Chi Tùng Thư xuất bản, năm 1965, Sài Gòn, trang 20.