Mùa chuột ở đồng quê
Hai Trầu
Nói đến thôn quê miền Nam mà không
nói đến mùa chuột đồng là một điều thiếu sót. Rất giản dị, bởi lẽ có ruộng lúa,
có cỏ lác là có chuột đồng. Sự sanh sôi của chuột đồng tỷ lệ thuận với mức um
tùm hoang dã của cỏ lác, của diện tích đất đai chưa khai mở. Đến khi ruộng đồng
được người nông dân cày bừa, sạ cấy với những giống lúa mùa ngập trời, những
cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh, dường như chuột đồng cũng tiếp tục sanh sôi,
khó mà diệt hết được. Nhiều lúc loài vật bé nhỏ, tinh khôn này trở thành mối lo
ngại đến mất ăn, mất ngủ của những người suốt đời sống chết với ruộng đồng, với
lúa thóc, với mùa màng.
Ở vùng châu thổ sông Cửu Long, mùa mưa tháng ba, tháng tư âm lịch đồng nghĩa với
mùa chuột đồng. Vào mùa này tại khắp các chợ làng, chợ quận, các bạn đi đến đâu
cũng thấy người ta bán thịt chuột làm sẵn, hoặc những lồng dây chì đựng đầy những
con chuột đồng mập ú với bộ lông màu ngà ngà vàng, bụng trắng phau, kêu chí
chóe, cắn lộn, rượt đuổi nhau với mùi nước đái chuột hôi hôi. Bên cạnh những xề
chuột làm sẵn, những lồng chuột còn sống như vậy, thật ra, cũng không phải dễ
dàng gì mà có.
Chuột đồng sanh sản nhanh, mà lớn cũng nhanh. Dường như những ngày nắng là những
ngày chuột đẻ. Chúng thường đẻ trong những hang làm dưới đất ruộng. Vì chuột là
loài có vú, nên chúng nuôi con bằng vú mẹ. Có thể hôm nay đi bắt chuột gặp một
loạt chuột còn nhỏ, cách tuần lễ sau, trở lại cánh đồng này đào những hang chuột
mới đùn hoặc gài rập, chúng ta được những con chuột lớn bằng nửa cổ tay, gọi là
chuột lứa. Tức là chuột mới lớn, không còn nhỏ, mà cũng chưa lớn hẳn.
Chuột đồng nói chung là như vậy, nhưng có nhiều loại. Chẳng hạn, chuột cơm với
lông bụng trắng phau, con lớn nhất bằng cườm tay, con nhỏ nhất bằng ngón chân
cái. Loại chuột này chiếm phần lớn, sống trên đồng, rải rác khắp nơi, nhưng nhiều
nhất theo bờ kinh, bờ đìa, giồng ranh, những nơi cỏ lác rậm rạp. Vào mùa nước
ngập lụt, chúng cắn lúa gom lại làm ổ rải rác trong lúa. Gặp những miếng ruộng
nào nằm cặp mé vườn, dịp này chuột cơm ngoài đồng sẽ tràn vào vườn, trú ẩn trên
các bụi tre, trong những vườn dừa, vườn cau, vườn chuối. Lúc bấy giờ chuột đồng
này có cái tên mới là chuột vườn tre, chuột vườn dừa...
Còn một loại chuột cũng ở đồng nữa, nhưng lớn con, có khi bằng bắp chân, có lông
thưa và hơi cứng, mỗi lần bị nông dân đào bắt được, nó có tiếng kêu đặc biệt,
không chí choé, tí tục như chuột cơm, mà khì khì cùng với bộ lông sù lên, được
mọi người gọi là chuột cống nhum hay chuột cống sù. Loại chuột này thường ở những
bờ đìa, bờ kinh, bờ trồng khoai mì, trên liếp trồng khóm, ít ở trên đồng trống
như chuột cơm. Có một loài nữa, xin kể luôn ra đây. Loài này cũng giống như chuột,
nhưng nhỏ con. Con lớn nhất bằng ngón chân cái, ít ai bắt để ăn thịt, chỉ bắt để
đừng sanh sôi phá hại lúa thóc, được gọi là con bọ. Hình dáng của nó giống như
chuột lắt trong nhà.
Về đời sống, tùy theo môi trường, mỗi loài chuột đồng có thức ăn tùy theo mùa
màng. Ở đồng vào mùa nắng, chưa có cỏ non, mạ non, chuột đồng thường ăn cua, ăn
ốc. Đặc biệt chuột cống nhum luôn luôn ăn cua, ốc, đôi khi còn ăn khoai lang,
khoai mì. Đến khi mùa mưa, có lúa giống gieo sạ đầy đồng, chuột đồng tha hồ làm
tiệc làm tùng, tung hoành một cõi. Đến mùa nước lụt, chuột lại ăn những đọt lúa
có chữa, có đòng đòng, hoặc cua, ốc trên rong, trên lúa.
Nếu những đàn chuột nào giạt vô vườn thành chuột vườn thì mùa nào thức nấy với
những món ngon vật lạ nào xoài chín cây, mận, nhãn, vú sữa, mẵng cầu, chuối
chín bói, cả cau non, và đặc biệt chuột vườn thích nhất là dừa tươi còn non. Chủ
vườn dừa, nhất là miệt Bến Tre, rất khổ tâm phải ứng phó với sự phá hại của loại
chuột vườn này. Người làm vuờn phải thường xuyên dọn dẹp lá ủ, gài bẫy, gài rập
để bắt chuột. Có nhiều nơi còn lấy những tấm thiếc dài khoảng năm tấc tây, quấn
chung quanh thân dừa, ở khoảng giữa cây, cho trơn để chuột đừng bò lên ngọn dừa.
Nhớ thuở nhỏ, lúc còn tản cư Tây, lưu lạc về quê ngoại ở miệt Định Mỹ, tôi luôn
luôn cầm giỏ theo Tía tôi. Tía tôi đi trước với cái xuổng trên vai đi về hướng
đìa Bèo, chòm Chòi Mòi đào chuột vào mùa mưa tháng tư. Thường thường có con chó
mực chạy phía trước để đánh hơi. Chuột thường làm hang theo giồng ranh, bờ đìa,
nhưng đôi lúc cũng ở hang cua. Do đó, không phải gặp hang nào cũng đào. Vì đào
như vậy sẽ tốn sức nhiều, mà nhiều hang không có chuột. Để chắc ăn, đỡ tốn
công, Tía tôi chỉ đào những hang chuột nào mới đùn, nghĩa là chuột mới bươi đất
mang từ trong hang đem ra miệng hang, những viên đất ướt còn mới ràng ràng. Hoặc
gặp những hang chuột dù cũ, hay hang cua mà con chó mực của tôi đánh hơi khịt
khịt hoài, nó cứ ngoắt ngoắt đuôi không chịu đi, là chắc chắn có chuột, không
nhiều thì ít. Ít khi nào là không có.
Khi có ý đào một hang chuột nào, việc làm trước tiên là nhém các lỗ ngách. Vì
loài chuột là loài tinh khôn, sống ở hang có nghĩa là chui rúc, ăn sâu dưới đất.
Vì bản năng sinh tồn, loài chuột thường làm hai ba ngách phụ để có đường chạy
thoát khi bị ví bắt. Sau đó, ta từ từ đào theo hang có sẵn và lúc nào cũng nên
để ý coi chừng rắn hoặc chuột nghe động tĩnh, liều mình chạy thoát ra ngay chỗ
miệng hang mà mình đang đào. Có nhiều con chuột ở hang cua, đào rất mệt vì hang
cua thường thẳng đứng, rất khó đào. Thông thường, những hang chuột mà do chuột
làm hang, đào đễ dàng, không trở ngại vì hang thường nằm theo chiều ngang và
chuột ở cũng nhiều hơn.
Nói đến bắt chuột, thật ra, đó chỉ là công việc phụ thuộc ở đồng quê. Người
nông dân chỉ đi bắt chuột vì rỗi rảnh, nhằm mục đích kiếm thêm thức ăn, hoặc kiếm
mồi để lai rai vài cốc rượu đế sau những ngày vất vả vì mùa màng. Hoặc họ đi bắt
chuột vì tới mùa mưa, chuột đầy đồng, người này rủ người kia, có khi cả xóm
cùng đi bắt chuột. Có một số đi bắt chuột để bán, nhưng kể ra cũng ít, không mấy
người. Tuy nhiên, phương pháp bắt chuột được người nông dân nghĩ ra rất nhiều
cách khác nhau tùy theo loại chuột và cũng tùy theo mùa màng. Trước nhất là
dùng xuổng để đào như kể trên. Bây giờ, ở quê tôi, người ta vẫn còn dùng cách
này rất nhiều. Mỗi hang được ít nhất một con. Có hang hai, ba con chuột lớn. Thỉnh
thoảng mới có vài hang chuột dồn vì mưa ngập hang, có đến cả chục con.
Ngoài ra còn những cách bắt chuột khác như gài rập. Có hai loại rập: rập đất và
rập bằng lưới dây chì. Rập đất là một miếng vỉ được đan bằng tre, bề dài khoảng
năm tấc, bề ngang khoảng ba tấc. Phiá trên, người ta lấy đất bùn đắp lên làm thế
nào đủ sức nặng để đè ép con chuột khi rập bị sập, chuột không chạy thoát được.
Còn rập bằng lưới dây chì thường có bán tại các chợ, giống như cái lồng nhỏ với
bộ phận gài bẫy rất nhạy. Cả hai loại rập này được gài dọc theo bờ kinh nơi cỏ
nhiều. Nền rập được dọn bóng láng. Mồi gài chuột là lúa hột hoặc cua bẻ đôi.
Chiều trước khi mặt trời lặn, những rập chuột phải được gài xong với đầy đủ mồi.
Khi màn đêm buông xuống, những chú chuột rời hang đi tìm mồi, gặp những nhúm
lúa hột, mon men bò vào ngang qua cái bẫy, miệng rập đóng lại nếu là rập bằng
lưới dây chì hoặc rập sập xuống nếu rập chuột bằng đất.
Vì mỗi loại rập có đặc tính như vậy nên chuột sa vào bẫy rập đất đều bị chết.
Còn chuột mắc bẫy bằng rập dây chì luôn luôn còn sống. Người mua chuột thích
chuột sống hơn. Chuột làm sẵn thường là chuột chết do gài rập đất, hoặc chuột bị
thuốc, chuột đập Thuốc chuột là phương pháp diệt chuột phá hại mùa màng rất hữu
hiệu. Những nơi nào chuột nhiều, nhà nông chỉ còn cách hay nhất là mua thuốc chuột
về tẩm vào thịt cua, rồi đem đặt cua dọc theo chỗ lúa bị chuột cắn phá hoặc cặp
giồng ranh, bờ kinh. Chuột ăn cua có tẩm thuốc rồi bò xuống mương uống nước, nước
làm thuốc thấm mau và chuột ngã lăn ra chết. Thường người ta ít ai ăn chuột bị
thuốc vì sợ ngộ độc. Nhưng về sau, dân số càng ngày càng đông, thực phẩm khan
hiếm, nên món chuột này cũng bán được tại các chợ làng, chợ quận.
Đập chuột vào mùa mưa là một cách bắt chuột vừa vui, vừa được nhiều chuột như
chơi giỡn ngoài đồng với không khí trong lành của đồng quê, cùng khung cảnh đêm
tối bao la, u tịch. Ngày nào có mưa lớn như trút nước ào ạt thì ban đêm trên những
cánh đồng từ vùng Cái Sao vô Bắc Dục, Phú Hoà, Định Mỹ, Núi Sập, trổ qua Kinh
B, Kinh F, Tân Hiệp... hoặc cánh đồng Mặc Cần Dưng chạy xuống kinh xáng Bốn Tổng,
Ba Bần, Ba Dầu, rồi đổ lên Cầu Số Năm đường đi Tri Tôn là cả một rừng đèn
măng-sông, thắp bằng dầu lửa bơm hơi, của những người đi đập chuột trông như một
rừng hoa đăng.
Thông thường, mỗi chiếc đèn như vậy có khoảng bốn người gồm một người cầm đèn,
một người xách giỏ đựng chuột đi phía sau và hai người với hai cây roi bằng
nhánh tre đi hai bên người cầm đèn để đập chuột. Do cơn mưa ban ngày làm ngập
hang, chuột không có chỗ trú ngụ, ban đêm túa lên trên đồng chạy lềnh con.
Thành ra, những toán đi đập chuột mặc tình mà đập. Nhiều con gặp đèn sáng, chạy
lủi vô chân, chạy tán loạn, không biết đường nào mà đập. Theo kinh nghiệm của
dân quê, không nên đập cây roi tre từ trên xuống, chuột chạy nhanh dễ bị trật.
Mà nên quét cây roi nằm ngang mặt đất như quét nhà, cây roi sẽ quét một đường
dài, dễ trúng vào bốn chân của con chuột hơn. Nhớ hồi còn ở nhà vào những năm
còn làm lúa mùa, chuột đồng còn nhiều, có những đêm tôi đi đập chuột như vậy,
dường như đi sáng đêm mà không biết mệt vì ham chuột. Rồi như bị chuột dắt rồi
mê không biết đường về. Nhưng lúc trở về, thì ôi thôi rất ngán ngẩm vì chuột đầy
giỏ mà đường về nhà vì mãi miết theo chuột, nên giờ nhìn lại đã quá xa. Nhưng rồi,
hôm sau tối lại, ai ai cũng rạo rực muốn đi đập chuột nữa.
Ngoài các cách bắt chuột vừa kể, ở nhà quê còn nhiều cách bắt chuột khác nữa
như giậm cù chuột, đó là cách bắt chuột bằng cách dùng một cái lọp lớn, loại lọp
đặt cá tôm mà chúng ta thường thấy ở miền lục tỉnh nhưng những rẻ lọp được bện
dày hơn, để chuột không chen lọt ra được. Sau khi chọn được một cụm lác, một cụm
cỏ mù mịt với những vỏ cua, vỏ ốc rải rác, chứng tỏ có chuột đang ở, người ta bắt
đầu lựa vị trí đặt cái lọp, có khi phải hai ba cái lọp như vậy mới chứa đủ số
chuột trong đám cỏ này. Tiếp theo là lấy lưới hoặc đăng bằng tre bao chung
quanh đám cỏ. Đâu đó xong xuôi, tất cả cùng nhau hợp lực về phía trên, chỗ
không có đặt lọp, dùng lưỡi hái cắt một ít cỏ cho trống, rồi dùng cây quơ đập
nhằm gây tiếng động dồn đuổi chuột về phía đặt lọp. Tất cả chim chóc, rắn, rùa
bị rượt đuổi tìm đường thoát thân nên chui vào mấy cái lọp. Đuổi chuột cách này
thường cũng được nhiều chim như ốc cao, chằng nghịch, cúm núm, rắn, rùa...
Còn một cách đuổi chuột khác bằng xà di, một loại dụng cụ được bện bằng những rẻ
tre chuốt thật bóng, một đầu có hom để chuột chui vào, đầu kia tóp lại và bịt
kín (xà di lúc đầu chỉ dùng để đặt bắt cá rô trên đồng vào mùa nước ngập, do bà
con trong các kinh đào Cái Sắn phổ biến vào những năm cuối thập niên 1950, sau
này chế biến để bắt chuột). Vòng chu vi của xà di chỗ lớn nhất khoảng ba hoặc bốn
gang tay. Cách đuổi chuột này thường được làm ban đêm, lợi dụng lúc chuột đi ăn
cùng thói quen của chuột luôn luôn chạy theo lối mòn những chỗ mà chúng thường
tới lui trong bụi rậm. Người nông dân chọn vị trí thích hợp rồi đặt xà di nằm
chắc chắn, nhưng điều cần lưu ý là, vì loài chuột rất khôn, cần phải đặt xà di
trong chỗ khuất ngay sau lối mòn chuột chạy vừa hết, để chuột không nghi ngại
chạy giạt hai bên. Sau đó, đi lên trên một đỗi, khoảng vài chục thước, rồi lấy
roi tre đuổi chuột chạy dồn xuống phía xà di. Thường thường cách đuổi chuột này
có hai người cùng đi, để hủ hỉ nói chuyện cho vui và tiếp sức lẫn nhau. Mỗi luồng
đuổi như vậy, tùy theo chỗ chuột nhiều hoặc ít mà có từ vài ba con đến cả chục.
Anh Năm Dân, người bạn già kể lại, dưới Chương Thiện nơi đồng bái, tại một vài
nơi người ta còn nghĩ ra cách chất chà chuột. Đây là hình thức nhử chuột vào một
khu nào đó bằng cách lấy chà chất lên thành tủ rơm, tủ cỏ cho sầm uất, rải lúa
để chuột vào kiếm mồi, trú ngụ, làm hang... Sau đó lâu lâu, người ta dùng đăng
hoặc lưới ví cù như cách đuổi chuột bằng lọp vùng Ba Bần, Núi Sập, Đồng Tháp Mười.
Riêng đối với chuột cơm, chuột đồng ở vườn tre, vườn tràm, vườn dừa, người nông
dân thường dùng chỉa làm bằng kèo dù hoặc căm xe đạp để đâm hay nạng giàng thun
với những viên đạn bằng đất sét vo tròn phơi khô để bắn, vì khi bị phá động,
chúng thường chạy tuốt lên đọt tràm, ngọn tre cao chót vót. Ở các vườn dừa Bến
Tre, người làm vườn cũng dùng cách gài rập bằng ống tre. Loại rập này thường đặt
nơi những tàu dừa giáp nhau, hoặc trên các bẹ dừa ở trên ngọn, tức là chỗ nào
chuột dễ vào mà rập không bị gió làm rơi xuống đất. Cách bắt chuột bằng chỉa, bằng
nạng giàng thun thường vào mùa nước lên, khi chuột ngoài đồng không có chỗ trú
ngụ tràn vào vườn.
Tuy nhiên, trong những năm còn làm lúa mùa, giữa những cánh đồng lúa tít mù xa,
chuột vẫn phải ở trên đồng, làm ổ, cắn lúa, ăn cua, ăn ốc. Người làm ruộng cũng
thường đi bắt chuột trên những chiếc xuồng câu mình thon nhỏ. Họ dùng sào dài
chống dọc theo những đụn lúa dày vì nơi đây chuột thường trú ngụ. Mỗi khi gặp ổ
chuột, người ta dừng xuồng lại, trông trước nhìn sau, rồi dùng cây sào vừa là
cây chỉa để đâm vào ổ chuột. Thường chuột nhảy ra khỏi ổ và lặn một hơi dài.
Trường hợp này, người đi săn chuột cần theo dõi những bọt nước mà chuột để lại
trên lối nó lặn, cho đến khi chuột đuối hơi, nổi lên mặt nước, là dùng chỉa đâm
liền, ít khi bị vuột. Trong những dịp này, người nông dân cũng gặp được nhiều ổ
le le, cúm núm, trích rừng đẻ đầy ổ.
Đại khái, có những cách bắt chuột như vậy rải rác khắp các nơi gần giống như
nhau, nếu có khác chăng, chẳng qua vì người ta dùng một vài dụng cụ cho thích hợp
với mỗi địa phương. Điều muốn nói ở đây, dù cách nào, mỗi khi bắt được chuột ,
dù ít dù nhiều, đều có cái thú vui vui trong lòng thật khó tả.
Riêng cách làm thịt chuột, mỗi người mỗi cách. Nhưng tựu trung có ba cách thông
dụng. Trước nhất là nhúng chuột vào chảo nước sôi, rồi lột da, làm ruột. Với
cách này chuột ít bị hôi. Cách thứ hai mà người làm ruộng ở trên các trại ruộng
giữa đồng hay áp dụng, là sắp những con chuột lên lớp rơm, rồi tủ một lớp rơm
khác lên che khuất những con chuột này và đốt lửa. Khi lớp rơm này tàn, người
ta trở những con chuột lại và tiếp tục tủ rơm, đốt lần thứ hai. Sau đó lột da
và làm ruột. Chuột làm bằng cách này có mùi hơi khét vì da chuột bị lửa cháy
xém. Cách thứ ba rất đơn giản, tức là cắt đầu chuột rồi lột da, làm ruột, không
phải nhúng nước sôi hay thui gì cả, rất tiện. Những con chuột mà các bạn theo mẹ
ra chợ làng thấy người ta bán trong các xề đều làm bằng cách nhúng chuột vào nước
sôi, chuột vừa trắng, vừa ít có mùi chuột.
Những món ăn làm bằng thịt chuột là phần cũng hấp dẫn không thua gì cái thú bắt
chuột đồng vào mùa mưa. Tùy theo khẩu vị của mỗi người mà có những món thịt chuột
được chế biến thơm phưng phức với những gia vị cây nhà lá vườn. Những món thịt
chuột trở thành nét độc đáo của thôn quê miền Nam, mà những nơi đô hội như Sài
Gòn không làm sao có được. Trước nhất là món thịt chuột nướng tươi. Những con
chuột sau khi làm sạch sẽ, để cho ráo nước, rồi lấy nhánh tre gai chẻ làm những
cái gắp và mỗi gắp như vậy khoảng năm con chuột tươi, không phải ướp gia vị gì
hết. Tất cả được đặt lên bếp lửa than hồng, đừng để than áp quá. Chuột sẽ từ từ
chín vàng, tươm mỡ thơm ngào ngạt. Chuột nướng tươi cũng như các món thịt chuột
sắp kể ra đây đều được chấm với nước mắm bằm xoài sống là hợp khẩu vị nhất. Vì
mùa chuột ở đồng quê cũng là mùa xoài đông ken ở miền Nam với những vườn xoài oằn
trái. Rồi nào là chuột muối sả ớt để chiên hoặc để nướng, chuột khìa nước dừa,
chuột xào lá lốt, chuột xào lá cách, chuột xào lá bầu còn non, chuột xào hành,
chuột xào kiệu, chuột xào sả ớt, chuột xào lăn, chuột xào hủ qua, còn gọi trái
khổ qua, chuột làm nhưn bánh xèo, chuột kho mắm, chuột nấu canh chua, chuột làm
mắm, chuột làm khô, chuột kho tương hột, món nào cũng độc đáo và hấp dẫn khẩu vị,
nhắc đến phát thèm.
Trên đây là cảnh đồng quê bắt chuột vào những ngày mùa khoảng bốn mươi, năm
mươi năm trước, một thời của những mùa màng ở Nam phần. Đời sống của đồng quê
vào những năm tháng còn làm lúa mùa thật là thanh nhàn với ruộng đồng bát ngát,
lúa thóc đầy bồ, cá tôm ngừ nước, chim chóc đẻ rải rác khắp lung này, vũng kia.
Việc bắt chuột vào thời kỳ này như đi chơi, đi dạo, vừa có thức ăn, vừa giữ gìn
được lúa thóc, mùa màng.
Ngày nay người ta “Đi
săn chuột đồng” [1] như tác giả Hồng
Dân kể, cũng là một cách bắt chuột rất mới bằng những mũi tên nhọn, không phải
đâm mà bắn bằng nạng giàng thun, kể cũng là lạ. Nhưng cái lạ ngày nay là người
ta bắt chuột để bán và cân bằng ký chứ không phải như ngày xưa là bắt chuột để
ăn. Và nếu có bán, thì chỉ bán bằng cách đếm con tính chục chứ không có cân. Chẳng
hạn chục mười còn gọi chục trơn, chỉ có 10 con thôi. Ngoài ra còn vài loại chục
nữa gọi là chục có đầu tức là một chục gồm 12 con, 14 con, 16 con, 18 con, 20
con, tùy theo từng địa phương mà các người bán và mua đồng ý với nhau về số lượng
và giá cả gọi là “thuận mua vừa bán”. Nhưng cái khác nữa là ngày xưa muốn khá
phải làm ruộng, nuôi heo; còn ngày nay phải “lái chuột”!
Tháng 11-2006
[1]Đi
săn chuột đồng” của Hồng Dân, spectrum, talawas ngày 20-11-2006