Lá Thư Từ Kinh Xáng II
Kinh xáng Bốn Tổng ngày tháng 11 năm 2005
Thưa anh Ba,
Lâu lắm, nhớ kỳ gặp
anh tại ngã ba xã Vĩnh Trinh với lộ tẻ Rạch Gía, tui giăng lưới, anh bán cà
rem, vậy mà rồi đã hai chục năm rồi, tui mới viết cái thư này thăm anh. Thói
thường, xa mặt thường hay cách lòng, nhưng tui vẫn nhớ cái cặp mắt kiếng dày cộm
của anh bên cái xe đạp chở một thùng cà rem cây tới trưa trờ trưa trật rồi mà
sao tui thấy anh đạp cái bàn đạp nặng trịch ... Không biết anh còn nhớ hông, chứ
tui thì cứ nhớ hoài. Hai chục năm lúc túng thiếu thì lâu quá trời, nhưng hai chục
năm sau nhìn lại mái đầu xanh nay không còn xanh thì thời giờ cũng qua mau quá trời ! Phải hông anh Ba?
Số là vào tháng chín
vừa rồi, tui có đi ngang qua Vĩnh Trinh,
rồi vô Rạch giá thăm mấy đứa cháu nội, ngang ngã ba lộ tẻ, tui lâng lâng trong
bụng là chỗ này mình gặp anh Ba đây chứ hổng phải khúc nào khác trên đường vô Rạch
giá này. Năm đó nước lớn bộn, đường sá ngập loi ngoi lót ngót, tui thì đang nằm
chờ cá dính lưới, anh thì reo chuông rao bán cà rem, vậy mà rồi cá với cà rem
làm quà gợi chút giao tình giữa hai người xa xứ lạc loài. Có hơn mười năm sau,
tui nhớ có viết cho anh cái thơ nhưng rồi ngày lại ngày qua quần quật lo ba cái
ruộng, tuổi mỗi năm mổi chất chồng, tâm trí thì cùn lụt dần mòn, nên nhiều bận
định bụng viết thư thăm anh rồi lại cứ hẹn trong bụng
hoài như khất nợ tháng, nợ năm. Mong anh thương tình mà thứ lỗi; chứ thiệt tình
là trong bụng lúc nào cũng nhớ cái bóng anh đạp chiếc xe cà rem xiên xiên trên
khúc đường vắng mà cứ reo chuông hoài như mời mọc người mua
!!! Ngồi dưới xuồng, đậu bên bờ bông điên điển có tấm cà rèm che nắng,
nước trong leo lẻo mà sao tui nghe như tiếng chuông
anh lắc càng lúc càng gần. Vậy mà đã qua rồi hai mươi năm !!!
Thưa anh Ba,
Bây
giờ thì, con đường từ Vĩnh Trinh vô Rạch Giá đã khác hơn xưa nhiều. Cái bờ điên điển ngày ấy
không còn. Ngay cái bến bắc Vàm Cống phía bên kia
Lấp Vò cũng đã dời xuống hãng nước mắm rồi. Bến bắc cũ thì vắng tanh vì quá
xưa, quá cũ nhưng vẳng đâu đó có tiếng ếch kêu như tiếng gọi đò hay tiếng gọi
cà rem anh Ba à !
Anh
còn nhớ, chỗ ngã ba xuống Định Yên, ngày trước có khu nhị tì, mả mồ chật nức,
nay thì phố xá khai mở, mồ mả cũng di dời. Từ đó, anh đi một đỗi nữa là tới bến bắc mới, rộng hơn, gần hơn
nhưng cũng vắng hơn vì hàng quán còn mắc kẹt nơi bến bắc cũ, ít ai muốn dời bến
xưa . Bây giờ ngay chỗ ngã ba này, có hai khu vườn chất
đầy gốc mai vàng trồng trong chậu như rừng mai mà khách tới lui mua mai thì vắng
ngắt vì một lẽ giá bán như cắt cổ mà mấy gốc mai già kia
chẳng giúp được gì cho người nghèo. Nó chỉ ưu ái với hạng người
tiền dư bạc để, chứ hạng làm ruộng như tui thì đời thủa nào dám se sua ba cái
hào nhoáng mắc mỏ ấy.
À mà này anh Ba ơi,
ngày nay ở đây cái cách chơi cây kiểng trồng trong chậu này như cái mốt vậy anh
Ba à ! Đi đâu tui cũng thấy người ta để vài ba chậu kiểng
loại gốc mai vàng, mai chiếu thủy, cây gừa, cây sung trước nhà như không có là
thua kém hàng xóm láng giềng vậy đó. Nên nhà nào cũng có,
không nhiều thì ít. Có nhà giàu, số gốc kiểng loại này
lên tới cả trăm cây. Có người có tới vài trăm cây. Nhưng
nhiều cây, nhiều gốc quá đâm ra thành khu rừng; mà thành rừng rồi thì còn gì là
qúi nữa phải hông anh Ba? Miệt Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu, Cao Lãnh,
Chợ Mới, Phú Tân, mà nhứt là dân trong các phố, các chợ đâu đâu cũng rủ nhau chơi kiểng. Họ đâu có tăng hu ba
gốc kiểng của họ đâu anh Ba. Ở Long Xuyên, tui có đứa cháu
chuyên sống nhờ nghề giữ kiểng. Số là nó có miếng đất ở phía sau trường
đại học An Giang, rộng lắm, có tới cả công đất, ai mua bao nhiêu nó cũng không
bán . Khu đất của nó chứa được khoảng một ngàn chậu kiểng.
Người chơi kiểng ở ngoài chợ
Long Xuyên chỉ chưng cho có vị vào ba ngày Tết, rồi sau Tết, họ mới
chở vô chỗ thằng cháu tui để mướn nó chăm sóc, cắt xén, tưới nước, chiết cành;
rồi tới mùa Tết họ lại vô chở kiểng dìa ngoài phố chờ Tết. Chơi kiểng kiểu nhà
giàu nghĩ mà biết ớn anh Ba à !
Từ cái thú chơi kiểng
theo cách đua đòi đó mới đẻ ra cái tệ là nạn ăn cắp vặt.
Nhà nào có gốc sung, gốc mai mọc ngoài bờ tre hay đã bứng
trồng vô chậu đàng hoàng rồi là hãy dòm ngó coi chừng bị ăn trộm. Hồi đời trước
ở xóm tui nhà thường không ai đóng cửa; nay đời đổi khác rồi, trộm đạo nhiều,
ăn cắp vặt cũng bộn, nên có nhiều chậu mai vàng chưng
trước sân vẫn phải lấy dây lòi tói khoá lại vào gốc cây lớn bên cạnh để đề
phòng ăn trộm nó rinh đi. Đời truớc ở nhà quê lo trộm cắp xuồng ghe, trâu bò là
chuyện thường; đời nay lại phải lo ăn trộm nó bưng luôn mấy chậu kiểng để trước
sân, lại càng thêm ứ hự !!!
Thưa anh Ba,
Bây
giờ tui xin nói qua vụ nước nôi, câu lưới. Bây giờ nước nôi lụt lội cũng khác xưa lắm rồi anh Ba ! Số là các cánh đồng cỡ vài ba trăm công tới năm ba trăm
công như miệt Lấp Vò, Chợ Mới, Mặc Cần Dưng, Cái Dầu, có khi lên cả ngàn công
như miệt núi Sập, Định Mỹ, Luỳnh Quỳnh, Tri Tôn người ta làm lúa ba mùa thì phải
đấp đập giữ nước ngăn sông, vì vậy mà trời đất bây giờ cũng không còn là trời đất
ngày trước. Mưa bão liên miên mà đồng vẫn chưa có nước vào
tháng chín, tháng mười vì đập chưa rút bộng cho nước sông tràn lên đồng.
Chính vì vậy mà cá tôm ngày nay không nhiều như hồi tui đi
giăng luới gặp anh bán cà rem ở Vĩnh Trinh. Hồi đó tháng tám đã giăng cá
mè vinh; nay thì tháng chín, tháng mười nước chưa vô đồng lấy đâu cá mè vinh cá
trắng !?!
Rồi cũng từ đó, tức
là từ ba cái vụ làm lúa nhiều mùa, thì mình phải xài thuốc sâu nhiều đặng mà diệt
ba cái cỏ gạo, sâu rầy, rồi tới nạn ốc bươu vàng cũng phải xài thuốc dữ lắm ốc
mới chết, nên cá chết ráo trọi nhe anh Ba. Cá chết từ trong trứng, chết từ hồi
mới nở, chết khi vừa bằng cán mác, chết cho tới lúc cá lớn bằng cườm chưn vì thuốc sâu, nên cá bây giờ ai giăng câu giăng lưới mà
bắt được vài kí lô là mừng hết lớn rồi anh Ba à.
Trời thần ơi, anh Ba
thử tưởng tượng ba cái thứ chất độc tui xin kể sơ sơ ra như sau đây là thấy ớn
thần hồn : thuốc Sipha (SiFa28) WP diệt cỏ, Moi OC 6H
trừ ốc bươu vàng và các thứ khác trừ sâu rầy như Dosuper 300 EW, Tebuzole 250
SC, Tridozole 75 WDC, Apphe 17 EC-40EC, Quiafos 25 EC, Conphai 10WP, Mospha
80EC, Do. One 250SC và còn nhiều thứ khác nữa mà tui không nhớ
hết.
Anh
Ba ơi, thuốc sâu đầy đồng mà nước trên đồng chảy không thông để rửa đất thì thuốc
phải bám vô đất, bám vô gốc rạ, gốc rong hoài hà. Từ đó nó mới đẻ ra cái bịnh
ngứa. Nhà nghèo mà, mùa nước là phải đi chở đất mướn, phải đi dọn cỏ mướn,
phải đuổi cá linh, dọn luồng lưới, trăm thứ đều trầm mình dưới nước, nên nước
còn thuốc sâu đầy nhóc này làm cho da mình không nổi ghẻ thì cũng gãi tróc da
chảy máu là cái bịnh trước mắt đó anh Ba. Để khỏi bị ngứa ,
mỗi lần chở đất mướn hay làm lụng gì mà có ngâm mình dưới nước là sắp nhỏ mua
nhớt loại nguyên chất bôi lên tay chân mình mẩy một lớp cho thiệt đều để nước
không thấm vô lỗ chân lông, khỏi ngứa. Nhưng anh Ba biết
hông, làm như vậy, thiệt tình là mình cũng liều mạng dữ lắm; vì đâu có ai biết
rành là lớp nhớt này có gây cho người xài nó bị bịnh gì khác hông? Chỉ thấy hiện tiền nhớt làm mình không bị ngứa thì cứ bôi lên da
cho đở vậy thôi; còn kỳ dư hạ hồi phân giải anh Ba à.
Đó là nước trên đồng
thì vậy, còn nước dưới kinh dưới rạch hay ngay ngoài sông cái ngày nay nước dơ
dữ lắm. Hồi xưa, vùng lục tỉnh này được tiếng là vùng nước ngọt
cây lành; bơi xuồng dưới sông, khát nước là cứ lấy nón lá múc một nón uống ừng ực
ngọt ơi là ngọt. Còn bây giờ thì, ít ai dám uống nuớc rạch nước kinh, vì
nước nào cũng có chất thuốc sâu pha trộn với nước dơ từ các hầm cá, từ các chuồng
heo đổ tràn xuống kinh rạch, rồi chảy lòng vòng ra sông rồi lại chảy lộn vòng
vô kinh rạch theo đợt nước lớn nước ròng. Cứ vậy mà nước sông bây giờ nó dơ
cùng hết nên không có ranh rấp gì ráo trọi anh Ba à. Nhiều lúc liều mạng, mình
cũng gánh nuớc lên lóng phèn, nấu sôi rồi nhắm mắt nhắm
mũi uống đại để mà sống vậy mà! Cái khổ là biết nước dơ nhưng không làm sao
không xài nước vì nước nó tràn đồng, tràn sông chứ đâu có riêng một vùng, một
khúc nào mà tránh, mà cũng bởi lẽ cá sống nhờ nước mà mình không có nước thì cũng
tiêu đời .
Anh ba thấy dân ruộng
tụi tui đang xịt thuốc trừ sâu rầy, trừ cỏ, trừ ốc bươu vàng mà cũng đồng thời
tự giết tuổi thọ của mình trong đó nữa anh Ba! Nghĩ cũng vì
đeo đuổi nghề nào thì mang nghiệp nấy phải hông anh Ba? Đời xưa mấy cái
nghề như ghề may vá, nghề hớt tóc, nghề thợ bạc, nghề dạy học thì trước sau gì
cũng không ho lao cũng nám phổi; ngày nay ai làm ruộng mà thoát được cái chứng
đau gan thì cũng phải di căn, di bịnh rồi ho hen chết sớm vì chất độc từ thuốc
sâu là cái chắc !
Thưa anh Ba,
Vì
cá đồng ngày càng ít ỏi, hiếm hoi nên mới đẻ ra cái phong trào nuôi cá, nuôi
tôm. Hồi
xưa, cách nay hai chục năm, anh Ba lên xứ tui anh thấy đâu đâu người ta cũng
giăng lưới, giăng câu, tôm cá ê hề. Tới mùa cá linh xuồng
ghe chài lưới đặt các khúc sông như ngày lễ kỳ yên đua ghe đua xuồng. Nay thì cái cách bắt cá đó yếu xìu rồi, lác đác lắm. Do vậy
mà nuôi cá ao, cá hồ bằng thức ăn chế biến là nghề mới,
cái mốt kiếm lời mới để bù vào cá đồng, cá sông bị cạn kiệt lần mòn. Nhưng khổ
một nỗi là cá nuôi ăn tanh hơn cá thiên nhiên nhe anh Ba .
Chắc cũng tại trong thức ăn cho cá có chứa quá nhiều
chất dầu, chất mỡ rồi cá không tiêu hoá hết nên thịt cá lại bị tanh. Cái này khoa học đời bây giờ chưa nói ra, nhưng dân quê như tụi tui
nghĩ bụng mà bàn cùng anh như vậy. Nên chi khi nào có dịp anh dìa ghé
kinh xáng Bốn Tổng thăm tui, thế nào tui cũng ráng đi “te cá” để đãi anh, anh
Ba à !
Chà, cái chữ “te cá”
này, tui xin mạn phép cùng anh cho tui nói thêm cái cách bắt cá lóc mới này, sắp
nhỏ vừa mới sáng chế ra đây, hiệu nghiệm lắm. Dụng cụ thì gồm
có một cây tầm vông dài chừng 6 thước. Trên cây tầm vông này mình chia
ra làm các khoảng cách đều nhau , mỗi khoảng chừng 3 tấc
nhe anh Ba. Rồi tại các khoảng đó mình buộc sợi dây lòi tói hoặc cây sắt gì cũng
được, miễn sao cho nó nặng và chìm xuống nước sát mặt đất là vừa. Sau đó, mới
gác cây tầm vông ngang mũi xuồng; để cho cây tầm vông khỏi bi rớt xuống nuớc,
mình có thể dùng một cây tầm vông khác có chiều cao chừng hai thước dựng đứng
ngay mũi xuồng để mình dùng dây mà căng hai đầu cây tầm vông nằm như căng buồm
vậy mà, mục đích là cho cây tầm vông nằm ngang không bị rớt xuống nước khi mình
“te cá”. Xong đâu đấy, dụng cụ bắt cá còn có thêm cái nôm nữa
nhe anh Ba.
Còn cách “te cá” thì
như vậy, anh có thể đứng trên xuồng dùng sào mà chống hoặc lội xuống nước mà đẩy
cái xuồng đi tới; nhưng thường thường thì người ta hay đứng trên xuồng để chống
cho nước bớt dợn sóng và cá cũng ít hoảng hồn bỏ chạy vì nước động. Khi anh chống
xuồng như vậy thì mấy khúc sắt nó kéo rà rà nơi gốc rạ chìm dưới nước, cá
lóc ẩn dưói gốc rạ giựt mình chúi đầu
chúi cổ mà chạy; nhưng chúng chạy không xa và thường trầm lại gần đó, trong bụi
cỏ, bụi rong gần đó, để chờ nghe động tĩnh. Thế rồi, người đi “te cá” ngừng xuồng
lại, tay nhè nhẹ lấy cái nôm, bước thật nhẹ xuống nước và úp cái nôm rất nhanh
chỗ cá vừa chúi dưới gốc rạ đã để lại mấy cái tiêm bằng bọt nước . Rồi anh ba sẽ nghe cá chạy rồ rồ trong cái nôm và bắt cá bỏ vô
khoan xuồng và đi “te cá” tiếp. Dễ lắm anh Ba, một ngày đi vài ba giờ,
vào sáng sớm trời còn im gió, có khi kiếm năm ba kí cá lóc là thường. Cá này sống
giữa đồng ăn ngon hơn cá nuôi nhiều. Tui sẽ đãi anh
món cá “te” này nướng trui thì chắc anh nhậu mệt nghỉ, phải hông anh Ba ?
Còn
tại sao lại gọi cách bắt cá này là “te cá”? Thì cũng không có ẩn ý gì cao xa anh Ba, chỉ
tại vì cách bắt cá lóc này mình chống xuồng bắt cá đi “te te” trên mặt nuớc như
đi chơi nên gọi là “te cá” anh Ba à. Dân quê thấy gì quen quen đặt tên luôn cho
nó tiện chứ hổng có cầu kỳ văn hoa gì ráo trọi. Anh Ba chắc cũng thông cảm và
thương cho dân ruộng tụi tui giản dị, phải hông anh Ba ?
Thưa anh Ba,
Cái thơ nay thì hơi
dài, mà chuyện đồng ruộng nói hoài còn hoài, nên xin hẹn anh lại thư sau nhe anh Ba. Xin anh cho vợ chồng
tui kính lời thăm chị Ba cùng sắp nhỏ mạnh giỏi. Sẵn dịp xin ghi vài
hàng cùng chị Ba vì biết chị dân Cần Thơ. Hôm trước tui có xuống Cần Thơ, đi
ngang đường Cống Quỳnh, chùa Sư Nữ, vườn Thầy Cầu mọi cảnh đều lạ; lại nữa bây
giờ trung tâm toán Lý hoá của thầy Xuân Vũ ở đường Phan Thanh Giản cũng không
còn, hẻm Hai Địa
đã lạ. Trường Phan Thanh Giản hồi xưa, khoảng năm 50, tui thi bằng “rút-rơm-trâu-ăn mê” cũng lạ. Rồi
tui lội vòng qua chùa Cây Bàng, đường Phan Đình Phùng, đường Hoà Bình, dìa hẻm
số 2 đường Nguyễn Trải tuốt xuống mé sông thăm chị Ngũ cũng đi đâu mất hết. Ghé lại ụ tàu tìm dì hai nấu cơm, dì cũng chết mất. Mọi cái
đều mất tiêu đâu hết anh chị ba à ! Thôi thì chỉ còn lời
cầu chúc anh chị sống lâu trăm tuổi vậy.
Kính thư,
Hai trầu