Trang Chính      Hình Ảnh      Hộp Thư      Truyện Thật Ngắn      Truyện Ngắn      Thơ     Góp Nhặt     Cùng Tác Giã    

 

Lá Thư T Kinh Xáng III

Kinh xáng Bốn Tổng ngày .. tháng 12  năm 2005

 

Thưa anh Bảy Tân Châu và anh Út Nha Mân,

Hổm rày từ khi hai anh dẫn hai chị dìa kinh xáng Bốn Tổng thăm bà con cô bác dưới này, tui định bụng sẽ viết thơ thăm hai anh, rồi tiện dịp bàn qua vài ba con chim có tên đôi như le-le, bồng-bồng, manh-manh miệt kinh xáng này, nhưng ngày lại qua ngày với lại tuổi già mắt mỏi rồi đăm ra có hơi trễ nãi, lại được cái thư của anh Bảy nhắc câu ca dao:

”con kiến mầy ở trong nhà,

tao đóng cửa lại, mầy ra đàng nào ?”

  anh Út lại nhắc thêm hai câu nữa cho trọn bì trọn cốt luôn thể:

”con cá mầy ở dưới ao,

 tao tát nước vào, mầy sống được chăng?”

 

Trời thần ơi, được cái thư của hai anh, tui mới tá hỏa tâm tinh, rồi trong bụng cứ đánh trống cơm hoài hà, không biết phải cắt nghĩa ca dao theo cách nào đây? Thiệt là bụng làm dạ chịu mà. Thôi thì cũng đành hồi âm cho hai anh cùng đọc cho qua buổi hoàng hôn thấp thoáng này, chứ không có sách vở nào lưu truyền lại ráo trọi hai anh à !

 

Số là nhờ anh út Nha Mân thêm vô hai câu chót, tui mới nhớ hồi Tía tui còn sanh tiền, lúc ấy tui còn nhỏ xíu hà, có một cụ già đâu khoảng 85 tuổi từ ngoài xứ Quảng, vô miệt kinh xáng Bốn Tổng bán cao hổ cốt. Dáng ông trông rất phương phi. Râu tóc bạc phơ. Đầu đội cái nón lá có dát thau trên chóp nón. Quai nón làm bằng vải nhung màu đỏ. Dù còn nhỏ nhưng tui nhận ra ông rất mực nho sĩ vì tui mỗi lần châm trà mang lên nhà trên để Tía tui mời ông uống trà đàm đạo, nói chuyện thơ văn, tui để ý thấy ông hay nói chữ Nho với tía tui. Rồi có lần tình cờ tui nghe ông đọc bốn câu ca dao giống như bài ca dao mà hai anh vừa hỏi như vầy nè:

con kiến mầy ở trong nhà,

tao đóng cửa lại, mầy ra đằng nào ?

con cá mầy ở dưới ao,

tao tát nước vào, mầy lội đàng mô ?”

 

Nhưng thiệt tình, hồi ấy tui đâu có biết xứ Quảng là Quảng nào đâu, nghe ông nói vậy thì hay vậy. Tía tui cũng đâu biết xứ Quảng là ở chỗ nào. Và ông nói với Tía tui bài ca dao đó ngoài Huế . Nghe thì nghe vậy, mình con nít mà biết gì chuyện người lớn; lại nữa nghe người lớn nói chuyện là vô lễ. Lần đó ông cụ xứ Quảng ở lại  nhà tui chơi hơn tháng chờ bán cho hết thuốc cao hổ cốt. Tía tui thấy ông cực khổ phải đi buôn bán xa xôi vậy rồi khi ông dìa tía tui còn cho ông thêm tiền làm lộ phí đi đường. Tía tui dạy anh em tui kêu ông bằng ông nội vì thấy ông thông thái chữ Nho giống như ông nội tui hồi còn sống và dạy học trò.

 

Sau này, năm nào ông tui cũng vô chơi với Tía tui vài ba tháng, và lần nào ông tui dìa lại ngoài ấy, tía tui cũng cụ bị cho ông một mớ tiền, vài ba đòn bánh tét, ít con khô cá lóc, khô cá sặt rằn, một gói chuối cao phơi khô nguyên trái tươm mật ngọt lịm và má tui còn mua cho ông một ít hàng lãnh Mỹ A nhuộm mặc nưa dệt trên Tân Châu. Mỗi lần vô thăm, ông đều mang theo cao hổ cốt cho tía tui . Sau này ông già quá, tía tui cũng già, rồi ông tui yếu, tụi tui cũng hết gặp lại ông. Nên từ đó tới nay có hơn nửa thế kỷ, mà tui còn nhớ bài ca dao này và ông nói nó bắt nguồn ở Huế. 

 

Thưa hai anh,

Hồi đó còn nhỏ quá, không biết ông cắt nghĩa với Tía tui như thế nào, nhưng sau này khi tui học lớp đệ thất rồi, tía tui có lần kể lại là ông nội tụi bây ngoài Quảng cắt nghĩa đó là diễn tả cái cách trả thù của vua Gia Long đối với vua quan nhà Tây Sơn.

 

Trời thần ơi, hồi đó mình con nít mà, nghe vậy thì hay vậy. Nhưng bây giờ tui đã già rồi, tóc bạc trắng như bông gòn, khi hai anh hỏi mới để ý thấy bài ca dao này ở ngoài Huế thiệt. Vì trong kinh xáng tui làm gì có ai dám xài mấy chữ “mô” hay “tê” gì đâu hai anh.

 

Rồi còn ba cái vụ này nữa làm tui càng nghi ông nội tui năm xưa nói trúng y chang. Đó là khi người ta có đề cập cái gì có liên quan đến “kiến” và “cá” y như rằng có trả thù trả oán với nhau, như khi “kiến ăn cá, cá ăn kiến” vậy mà ! Nhưng ở đây “kiến” này là loại kiến có cánh nhe hai anh; chứ kiến thường như kiến riện, kiến vàng, kiến hôi, kiến đất thì đường nào mà chẳng đi được, cần gì phải “cửa” với nẻo làm gì cho thêm phiền hà. Vì kiến có cánh nên “tao đóng cửa lại, mày ra đàng nào”; mà kiến có cánh là kiến chúa, là quan đó hai anh, chứ chẳng chơi.

 

Bởi một lẽ nữa là lúc hưng thời các quan đại thần vị nào cũng áo mão cân đai oai phong lẫm liệt , đầu đội mũ cánh chuồn chuồn; nhưng khi thất thời rồi mạng người như kiến nên chi cánh chuồn chuồn trở nên cánh kiến ráo trọi hai anh à !!! Chữ “nhà” ở đây chẳng phải nhà cửa gì mà là nhà ngục đấy mà . Sau này lần mò giở lại mấy cuốn sử ký mới thấy các quan đại thần triều Tây Sơn như Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhậm bị Đặng Trần Thường cho đem ra Bắc thành nọc đánh trước văn miếu thấy mà ghê hồn!

 

Rồi tới “con cá mầy ở dưới ao”. Cái này mới là rắc rối cuộc đời ! Thiệt tình khó mà biết được ý tứ của người đời xưa muốn nói gì qua sáu chữ gọn lỏn. Tui đành ngồi bứt tóc gãi đầu mới nghĩ ra như vầy hai anh à . Số là chữ “cá” đây có lẽ là cá hóa long, cá thành rồng nhe hai anh; mà rồng tượng trưng cho vua. Còn “ao” ở đây cũng chẳng phải “ao hồ” gì mà là các huyệt mộ của anh em nhà Tây Sơn đó mà ! “Tao tát nước vào” phải chăng cho binh lính đái vào mà!?! Nước đái không hà chứ đâu phải nước mưa, nước sông gì mà “mầy lội đàng mô ?” hay “mầy sống được chăng?” Toàn câu ám chỉ các vua nhà Tây Sơn như vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, vua Thái Tổ Nguyễn Huệ đều bị vua Gia Long ra lịnh cho đào mồ, hài cốt bị nghiền nát như cám cho binh lính đi tiểu vào và đã trưng bày trước mặt anh em vua Cảnh Thịnh.

 

Thưa hai anh,

Tóm lại, bốn câu ca dao này, theo tui hiểu thì nó diễn tả cách trả thù báo oán của triều Nguyễn đối với vua quan nhà Tây Sơn. Đó là cái biết ngu của tui thì vậy, có đúng cùng không, tùy hai anh lượng định ! Kỳ dư, từ cổ chí kim sao tui không thấy ai giải nghĩa bài ca dao này hai anh à! Ngay như Nguyễn Văn Ngọc ông chỉ ghi chép toàn văn bài ca dao vậy thôi chứ không cắt nghĩa; Phan Khôi chỉ viết về ca dao với sinh hoạt của phụ nữ ; Vũ Ngọc Phan thì xếp bài ca dao này thuộc loại “hát vui chơi”; rồi Đoàn Minh Hội thì không thấy nhắc vì ông chỉ nghiên cứu ca dao miền Nam; tới Minh Hương cũng lờ luôn “con kiến và con cá”. Rồi mới đây, hôm ra tiệm trà Chánh Hương tại chợ Long Xuyên vài mua vài ba lượng trà dìa uống, tui có tạt ngang nhà sách Vinh Ba cũ trên đường Phan Đình Phùng mua cuốn “Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt” của Triều Nguyên, một tác giả lạ hoắc, dìa tui lò mò tìm hoài cũng hổng thấy hai chữ “kiến” và “cá” được người xưa “chơi chữ” như thế nào trong bài ca dao này! Thế mới hay “tầm nguyên” là một cái việc khó hết biết phải hông hai anh ?

 

Sau cùng, nhờ anh Út Nha Mân nhắc thêm chữ “mô”, tui mới nhớ ông nội nuôi của tụi tui kể bài ca dao bắt nguồn ngoài Huế. Còn nếu không, thì cứ cắt nghĩa theo mặt chữ nhiều lúc mình đâm ra hớ, tưởng bở mà cho rằng tác giả vô danh này chắc không lẫn cũng tàng tàng vì ai đời  giữ “kiến” mà lại đi “đóng cửa”, dọa cá mà lại đi “tát nước vào” thì thiệt là quên câu “cá sống vì nước”, “cá gặp nước như rồng gặp mây”, quả là lạ kỳ đời; chẳng khác nào muốn bắt cá lìm kìm mà đem cái lọp đặt cá lóc để chận đầu đăng, muốn giăng cá linh mà đòi lấy lưới cá mè vinh để chận nơi vàm kinh xáng. Vì làm như vậy cá đi đằng cá, lưới giăng đằng lưới hai anh à. Hoài công!!! Xin cám ơn anh Út nhiều nhe.

 

Thôi cái thư hơi dài, nên xin kiếu hai anh và hẹn lại thư sau tui sẽ bàn cùng hai anh về nạn ốc đẻ trên cây, chuyện khó tin nhưng có thật. Hiện tượng kỳ lạ này đang là thảm họa cho dân kinh xáng Bốn Tổng cũng như hầu hết dân ruộng miệt Long Xuyên, Châu Đốc, bà con làm ruộng đang rầu thúi ruột. Vợ chồng tui không quên gởi lời kính thăm chị Bảy, chị Út cùng mấy cháu luôn thể. Chúc hai anh dồi dào sức khỏe, sống lâu trăm tuổi.

 

Nay kính thư,

Hai Tru


Trở lại trang trước