Lá
Thư
Từ
Kinh Xáng IV
Kinh xáng Bốn Tổng ngày.. tháng 01
năm 2006.
Gởi chú Út sắp
nhỏ,
Mùa lúa Đông Xuân năm nay sắp nhỏ ở
kinh xáng này đã xuống giống được gần hai tháng và cũng đã giặm vá rồi; còn trên
Mặc Cần Dưng, chị Tư cho biết vì không có bờ đê bờ bi gì hết, mà nước lại giựt
chậm, nên lúa mới sạ được đâu chừng hơn mươi ngày và đang bị nạn ốc buơu vàng
phá hại khá bộn. Mới tháng trước vùng Lấp Vò, Tòng Sơn, Mỹ An Hưng, Thủ Ô, Va
Vàm, Bàu Hút thuộc miệt Sa Đéc ; rồi Mỹ Luông, Long Kiến, Chợ Mới, Tân Châu, Phú
Hòa, Bờ Ao, Tri Tôn, Bình Phú, Bình Mỹ thuộc An Giang cũng bị nạn ốc bươu vàng
tràn đồng, hoành hành quá mạng!
Trong thư trước tui có tin cho chú
hay cái cách trừ ốc bươu vàng của giáo sư
Võ Tòng Xuân, theo ông, là mình bắt ốc đem bán cho mấy người nuôi cá nuôi
tôm may ra ốc bớt phá hại mùa màng; nay tui chỉ nhắc lại là cái cách ấy dân
ruộng mình đã làm rồi, nhưng không ăn thua gì với cái giống ốc đẻ trứng trên cây
như quỷ vương đi đứng giữa lừng
này. Nay thì qua rồi thời kỳ cua ốc, giờ lại phải đương đầu với sâu đục thân,
rầy nâu, rầy vàng và mấy chứng đạo ôn thường niên khi lúa vào lứa đòng đòng. Làm
ruộng mà, tiết nào sâu ấy chú à, nhưng rồi cũng tới mùa cắt gặt như tự cổ chí
kim; có điều là làm ruộng không như làm thơ ngồi nhà tính trước thơ hay hoặc thơ
dở đặng!
À này chú Út, nhơn nhắc tới ba cái
vụ làm thơ, tui nghe nói trong giới thông thạo chữ nghĩa, mấy thầy hay chê bai
cai nghề làm ruộng của tụi mình dữ lắm nghe chú. Nào là nghề làm ruộng không
thích hợp với mấy ông mấy bà viết văn làm thơ, nào là “một nhà thơ lớn có thể
trở thành một người làm ruộng, ví dụ, Hữu Loan, chứ không ngược lại. Một người
làm ruộng không thể trở thành nhà thơ lớn”(1), vân vân và vân vân..
Nghe vậy thì hay vậy, nhưng tui thấy
còn thiếu câu chuyện đời xưa bên Tàu, ông nội mình hồi còn dạy chữ Nho hay kể Tô
Đông Pha lúc bị đày về đất Hoàng Châu, sau hai năm, càng ngày càng túng quẩn qúa
mạng, ông bắt đầu cày ruộng ở đó. Nhờ vậy mà sau này người đời mới có tám bài
thơ làm ruộng được gọi là Đông Pha Bát Thủ hay hết biết! Tui còn nhớ đại ý như
“trồng lúa trước thanh minh, có thể đếm được niềm vui sướng; rải mạ mùa hè, mừng
thầm gió lay ngọn; Xuân mới, chợt đi vào trong chậu kiểng, hạt gạo lấp lánh
trong thúng mủng; người làm ruộng giỏi biết tiếc đất hết phân; được no cơm, đừng
quên sức của trâu bò và thời tiết!”(2)
Quả là ăn khớp với lời Khổng Tử dạy,
mà hồi xưa ông nội nói Tô Đông Pha có nhắc lại trong lần bị đày xuống Huệ Châu
trong khi Trần Tháo ở Hán Khẩu định bụng xuống thăm, lá thư viết :”Khổng Tử bảo
có thể ở những nơi quê mùa được. Lời đó rất đúng”(3). Rồi cũng nhờ thời kỳ làm
ruộng và bị đày này, Tô Đông Pha cũng đã học được bài học từ con ếch sống được
là nhờ nó biết ăn nắng, con kỳ nhông sống trong cát nóng, trứng tằm vùi trong
tuyết mà không hư là nhờ nó biết thích ứng với thiên nhiên và người làm ruộng mà
sống thọ là cũng nhờ họ biết thở ra khí nóng và biết hít vô khí mát
vậy.(4)
Chú Út sắp
nhỏ,
Cái này, nói thiệt với chú, mình quê
mùa thì chỉ biết phận mình, ai nói quạ nói diều gì mình cũng không tranh hơn
tranh thua làm gì vì cái lẽ phải bao giờ cũng về phía kẻ trên trước ráo trọi mà
! Chú hổng nhớ sao? Thôi thì, tui nhớ thời xa xưa, cổ nhân có nói “nhứt sĩ nhì
nông” mà; nhưng khi “hết gạo chạy rong” rồi thì “nhứt nông nhì sĩ” nghe chú. Tui
nói vậy là để an ủi mình thôi chứ có nói trời nói tướng gì cũng không qua mấy
thầy cử nhơn tiến sĩ chú à!
Nhưng có điều tui nhìn kỹ lại trong
làng mình, hay bên làng Tân Bình, hoặc các ngôi chùa Tân An, Tân Phước, Hoà
An xã Bình Hòa, hoặc lòng vòng khắp
nơi miệt ruộng dưới này, vào mỗi bận cúng đình kỳ yên hay cúng chùa vía Phật,
sao tui hổng thấy ông thi sỉ tài ba nào làm nổi những bài thơ, bài kệ khắc chạm
trên các đền miếu chùa chiền ráo trọi, mà những bài thơ được chạm trổ với nét
chữ như rồng bay phượng múa mà phong nhã ấy toàn là do dân làm ruộng làm ra. Dù
vậy, các áng thơ ấy lại ở với Thần Thánh Tiên Phật hết mùa này qua mùa khác, hết
năm này qua năm khác, hết đời này qua đời khác. Đặc biệt, những tác giả vô danh
ấy họ đâu cần ai ghi tên tuổi, đâu cần in thành sách, đâu cần ai phỏng vấn, phê
bình, giới thiệu hay quảng cáo gì ráo mà vẫn ở với đình miếu chùa chiền có tới
hằng trăm năm, miễn là chùa đình đừng bị đốt phá là cứ còn
hoài....
Mỗi lần dân làm ruộng mình người nào
còn đọc được chút ít chữ Nho, hễ có ai đi qua làng là ghé lại đình xem qua một
chút, có ai đến chùa là ghé lại các bảo tháp, các bức tường đề kệ, đề thơ đọc
một chút là để chiêm nghiệm cái thần khí của tiền nhơn; mặc dù tiền nhơn xưa kia
chỉ là những người khẩn hoang làm ruộng lót đường cho trí thức đời sau có dịp
bước lên đầu lên cổ mà đi lên rồi cứ nghêng ngang tưởng đường cái quan tự nhiên
rộng mở và cứ khư khư cho rằng nhơn kiệt chỉ có nơi địa linh; chứ thiệt tình thì
cái quan niệm văn học chỉ có ở nơi văn vật là lỗi thời và không còn trúng như
người ta tưởng hay cố ý làm ngơ trước một sự thật là chốn xuất phát thơ văn cũng
còn có ở chốn ruộng lúa bùn lầy này nữa, chứ chẳng phải là hổng
có!!!
Chú Út sắp
nhỏ,
Đó là tui nói người làm ruộng làm
thơ khắc chạm ở đình, ở chùa; còn “hoa đồng cỏ nội” của văn chương truyền khẩu,
tui hỏi thiệt chú xưa nay ai làm ra, có phải đa phần là dân gian hông? Mà dân
gian là ai? Có dân làm ruộng góp phần hông? Rồi câu hò câu hát nữa, ai ứng khẩu
hò đối đáp trên sông, trên đồng? Bộ đó không phải là văn chương hay sao? Nếu ai
muốn quên nó, nhắm có thể quên được hông? Nếu nói nó là giới bình dân ít học làm
ra, thì liệu mấy thầy học cao hiểu rộng cắt nghĩa thông suốt hết cái kho bình
dân ấy nổi hông hay cũng chỉ liếc sơ qua rồi đoán mò. Những câu hỏi này thiệt
tình tui cũng chỉ để hỏi chơi cho vui, chứ có nhằm nhò gì chú Út!
Tui xin dẫn bài thơ “Con cóc”của ba
anh học trò dốt, nguồn gốc của nó ở trong “Chuyện đời xưa” của Trương Vĩnh Ký,
sau này được khen là bài thơ hay(5), để chú suy gẫm chơi:”Có ba anh học trò dốt
ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò, mà không có làm
thơ, làm phú với người ta, thì té ra mình dở lắm. Mấy người kia nói phải, hè
nhau làm ít câu chơi. Anh thứ nhất thấy con cóc trong hang nhảy ra, mới làm câu
thơ mở như vầy:
-Con cóc trong hang, con cóc nhảy
ra;
Người thứ hai tiếp
lấy:
- Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi
đó;
Người thứ ba:
-Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy
đi.
Lấy làm hay lắm. Rồi lại nghĩ lấy
làm giật mình, vì trong sách nói hễ học hành giỏi thì sao cũng phải chết, cho
nên tin như vậy, mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hòm để dành cho sẵn
đó.
Tiểu đồng lăng xăng đi mua, ra ghé
quán uống nước, ngồi xớ rớ đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu, mua giống gì, thì nó
nói rằng: Ba thầy tôi thông minh trí tuệ, làm thơ hay lắm, sợ trời trách quở, có
khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.
- Mày có nghe họ đọc thơ ấy
không?
- Có.
- Mày có nhớ, nói lại nghe chơi, coi
thủ sức nó hay ra làm sao?
Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe
đọc như vầy:
“Con cóc trong hang, con cóc nhảy
ra;
Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi
đó;
Con cóc ngồi đó,
con cóc nhảy đi.”
Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới
nói với tiểu đồng: Mày chịu khó mua giùm tao một cái hòm luôn chót thể! Tiểu
đồng hỏi: Mua làm chi? Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ cười lắm, có
khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.”(6)
Chú Út sắp nhỏ, bài thơ này từ xưa
tới nay, miễn ai nhắc tới, ngoài ba anh học trò dốt được chỉ trúng tên, cũng
ngầm ám chỉ luôn dân ruộng mình dốt mà hay làm thơ con cóc đó mà; nhưng phải thú
thiệt là bài thơ này từ vườn tới chợ, từ dân tới quan, từ giới bình dân ít học
đến các bậc cử nhơn tấn sĩ, không phân biệt tuổi tác, trẻ già, ai ai cũng đều
biết bài thơ này và thuộc nằm lòng. Thế mới là lạ phải hông chú
Út?
Bây giờ tui mới nhìn lui nhìn tới
vùng Thất-Sơn Châu-Đốc Long-Xuyên mình, tui thấy có nhiều người gốc gác làm
ruộng nhưng đã có công làm sáng rực mặt văn chương học thuật nhiều lắm. Ở Tân
Châu, làng Long Phú, có ông Nguyễn Chánh Sắt sanh ra trong “gia đình bần
nông”(7), vậy mà về sau sách vở ghi chép ông là nhà văn tiền phong của miền Nam.
Rồi tới ông Sơn Nam(8) cũng gốc ông bà ở cù lao Ông Chưởng thuộc Long Xuyên, sau
xuống miệt U Minh Hạ, xã Đông Thái cất nhà ở ấp Giữa, mần ruộng. Rồi ông bà của
ổng mới lên miệt rạch Tà Lúa, xóm Sóc Xoài thuộc xã Sóc Sơn vùng núi Ba Thê khẩn
đất cày bừa, cũng là dân gốc gác làm ruộng, nhờ vậy mà văn chương sách vở của
ông in ra biết bao nhiêu mà kể cho xiết.
Nói gì mấy người cận kim, ngược dìa
trước, thời vua Gia Long năm thứ 8, sách vở còn ghi ở làng Tòng Sơn thuộc vùng
Cái Tàu Thượng bên sông Tiền, thuộc tỉnh Sa Đéc, có Đức Phật Thầy Tây An, sanh
năm 1807, “vốn bình sanh Ngài cũng như bao dân hiền lành chất phác khác trong
làng, sống với nghề nông, chăm lo ruộng nương, cày cấy quanh năm”(9), nhưng Ngài
đã để lại cho đời một nền đạo hạnh vô bờ mà ai có sống hoặc đi qua vùng mình đều
ngưỡng phục cái nền đạo Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương do Ngài sáng lập cùng với các
trại ruộng Thới Sơn, ở Nhà Bàn, trại ruộng Láng Linh từ kinh xáng Vịnh Tre đi vô
chừng 10 cây số là những dấu tích một thời; đó là chưa kể kinh giảng bằng thơ
văn Ngài để lại, như bài Giác Mê với thể thơ song thất lục bát, rồi các bài kệ
Kim Cang, Thập thủ liên huờn thi
vân..vân.., tất cả có phải do người làm ruộng làm ra hông hay từ các nhà thơ bác
học tay không dính chút bùn?!? Nếu ai hổng tin thì có dịp lên ghé chùa Tây An
trên núi Sam, nơi có ngôi mộ Phật Thầy nằm bên triền núi phía sau chùa; còn phía
trước cổng chùa có khắc ba bài thơ bát cú có tựa là “Tây An Phật cảnh cao cung”
mà Ngài giáng bút. Tui nay gìa rồi, nhưng hôm tháng 9 vừa rồi có ghé viếng chùa
nên còn nhớ hai câu cuối bài thứ nhứt như vầy:
“Gia trạch bình an viên cộng
niệm,
Thường hành tế độ phước lai
tâm.”
Vài ba chuyện cũ, kể chú nghe như
vậy để thấy nhận xét của các thầy hay chữ nói ra nhiều lúc cũng hơi chê bai dân
làm ruộng quá mạng để họ có lúc hồi tâm nhìn lại mà nói cho trúng hơn vậy thôi,
chứ chẳng đòi bạc đòi vàng gì trong ba cái chuyện trên trời dưới đất này chú Út
à.
Chú Út sắp
nhỏ,
Nhân nhắc chuyện “làm ruộng, làm
thơ”, hôm kia tui có đọc “Cánh đồng bất tận”(10) của Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau,
tui thấy cái cách dàn dựng câu chuyện ở đây cũng lấy ruộng miệt U Minh làm nền.
Câu chuyện kể hai chị em của thằng Điền nuôi vịt chạy đồng, những “cánh đồng bất
tận” cứ theo riết hai đứa nhỏ với bao cảnh đời chua chát, xung khắc trong gia
đình, ngoài xã hội, giữa con người với con người, người ta dìm nhau dưới vũng
bùn nhưng cũng dìu nhau từ vũng bùn, và cái gì xảy ra từ ruộng lầy đó nó đã diễn ra như cuộc đời
hai đứa bé có cha như cha đã chết, ở giữa đời mà như chốn vắng khôn cùng. Những
cánh đồng cứ bất tận như một cái lung không bao giờ cạn và rồi dường như bao cặn
bã lại dồn dìa hầu như trút hết lên đầu lên cổ những con người không may lớn lên
ở đó, nó chua chát, nó bạc bẽo nhiều lúc đến cay đắng ; nhưng cũng nhờ thế mới
hiện rõ tâm địa của bao hạng người sống bằng mặt ngưòi nhưng tâm địa chẳng chút
tình người. Đọc thì thấy quá xá là hay nhưng sao tui cứ nhói nhói bên ngực trái,
khó ngủ quá chú. Nghĩ mà thương hai đứa nhỏ, chị em thằng Điền quá mạng!!! Ở đây
tui thấy hai chị em thằng Điền chẳng khác nào Nghi-Xuân và Tấn Lực trong vở
tuồng cũ, mà vai chánh không phải là mẹ ghẻ Tào Thị, mà chính là người cha ruột
của hai đứa nhỏ. Cái bi kịch của “cánh đồng bất tận” nó nằm ở đó chú Út
à!
Tui tin Nguyễn Ngọc Tư chắc thế nào cũng
là dân có gốc làm ruộng và có nuôi
vịt chạy đồng thứ thiệt; nếu không thì cũng có nhà hoặc có đất cho vịt chạy đồng
che đỡ cái chòi, đóng bậy cái chuồng tá túc vài tuần, chứ dở dở như tui làm sao
biết trứng vịt nào no mồi hay thiếu lúa, thiếu mồi mà biết trứng dày, trứng
mỏng. Phải vậy hông chú Út? Đó là tui chưa kể mấy chữ mà Nguyễn Ngọc Tư đã dùng
trong truyện này rất rặt miệt Cà Mau như “váng phèn”, ”hoi hót”, “xao xác”, “táo
tác”; nhưng có điều là Nguyễn Ngọc Tư cũng đã bị cái nghề viết văn làm lệch cái
cách chấm phết bình dị quê mùa rồi chú Út à! Ở đây tui bị ngộp thở vì mấy chữ
“và” và mấy cái dấu "chấm”, dấu “phết” ào ào như mưa như nắng ở vùng kinh xáng
mình trong mùa “ổn áp thấp nhiệt đới” tháng tám, tháng chín; những hột mưa muốn
tạt hướng nào thì tạt không theo hướng nào nhứt định và cứ thế mưa đổ rào rào,
biết ớn hồn!
Tui xin ghi lại đây vài ví dụ để chú thấy
tui cũng quan tâm tới việc bút lục, chẳng hạn như mấy câu :”Và khi chúng tôi..”;
“Và tay, và chân, và dưới cái áo mà tôi đã đắp..”; “Và những chân tóc..”. Những
chữ “và” mà ở phía trước đều có dấu “chấm”(.) hoặc dấu “phết”(,) chỉ có nhà văn
thứ thiệt mới dám xài nhe chú, còn lơ mơ như tui viết thơ cho chú, thú thiệt,
tui ớn dữ lắm !!! Không hiểu đây có
phải giữa làm ruộng và làm thơ, làm văn nó khác nhau một trời một vực là khác ở
chỗ chấm phết này hông ?!? Tình thiệt tui xin nói thiệt, chứ văn chương mà chấm
phết bát loạn, thú thiệt, tui sợ hết biết chú Út!
Chú Út sắp
nhỏ,
Cái thơ cũng khá dài, nhưng ở đây
cũng còn một tháng nữa mới Tết, nhưng bữa tui lên Châu Đốc, thấy người ta đem
cây kiểng ra bán Tết rồi, tui có đi vòng vòng coi cho biết, thấy kiểng năm nay
bán mắc quá nhe chú. Gốc mai bứng trên núi bằng cái hũ đường có cây tới vài chục
triệu, có cây gốc lớn hơn giá năm ba chục triệu là thường; nói gì mai lớn thì
lớn tiền, ngay như mai nhỏ cao chừng 5 tấc tới một thước mà cũng giá từ 100.000
đồng đến 500.000 đồng rồi, tính ra nếu lúa 40.000 đồng thì cũng tốn cả chục giạ
lúa chứ ít ỏi gì. Mà chú biết hông, mùa này là giáp Tết, lúa ngoài đồng chưa
vàng mơ thì trong nhà chắc cũng sắp mờ con mắt chứ chẳng chơi chú Út
à!
Trước khi ngừng ở đây, tui gởi lời
thăm và chúc chú thím cùng sắp nhỏ mạnh giỏi, ăn một cái Tết vui vẻ, may mắn.
Còn tui với chị hai chú bên này, cũng sắp sửa lặt lá mấy cây mai kiểng của tía
má trồng trước bàn ông Thiên còn lại tới bây giờ, để hy vọng Tết mai trổ bông
đúng ngày mùng một, hầu lấy lộc cho anh em con cháu vào ba ngày Tết. Thôi tui
hẹn chú lá thơ sau nhe chú Út!
Nay thư,
Hai
Trầu
Phụ chú:
1/ talacu số 12 ngày
18-12-2005
2/ Tô Đông Pha Những phuơng trời
Viễn Mộng của Tuệ Sỹ, Xuân Thu, Hoa Kỳ,1991.
3/Tô Đông Pha của Nguyễn Hiến Lê,
Xuân Thu, Hoa Kỳ.
4/ Tô Đông Pha của Nguyễn Hiến Lê
(sđd)
5/”Thơ con cóc”: Một bài thơ hay của
Nguyễn Hưng Quốc trang nhà “tienve.org”
6/Văn Chương Quốc Âm thế kỷ XIX của
Phan Trần Chúc, Khai Trí, Sài Gòn, 1960
7/ Theo quyển “Tân Châu xưa” của
Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh.
8/Theo Hồi ký của Sơn
Nam.
9/ Theo Thành ngữ Điển tích Danh
nhân Từ Điển của giáo sư Trịnh Vân Thanh, 1967
10/ Chuyên “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn
Ngọc Tư, trên trang “Ăn Mày Văn Chương”, tháng 01-2006