Louisville, ngày 14 tháng 3 năm
2008
Kính gửi Anh Hai Trầu
Ở Kinh xáng Bốn tổng.
Thưa anh,
Trước kính thăm anh và gia đ́nh,
cho tôi gửi lời kính thăm hết bà con láng giềng ở
Kinh xáng Bổn tổng, kế xin hỏi thăm anh mùa màng năm
nay ra sao ? Và sau cùng hết là trả lời một số vấn
đề trong thơ của anh nêu ra.
Trước nhất, nói về đường
Liên Tỉnh. Thật ra việc các tỉnh sắp theo Gia Châu
Hà … có lẽ là do Ông Trường Tiền Son ở Long Xuyên
cho biết, và cũng cho biết cách đặt số đường
Liên Tỉnh là cộng số của hai tỉnh ấy lại.
Ông Trường Tiền Son, họ là ǵ tôi không biết, tôi
cũng chưa hề gặp ông ta lần nào, nhưng gia đ́nh
tôi có nhắc tên ông ta nhiều lần, nhà ông ta ở Long Xuyên,
khu vực khoảng giữa trường học và ṭa hành
chánh cũ, hồi nhỏ một vài lần đi ngang qua nhà
ông ấy, người nhà chỉ cho tôi biết đó là nhà ông
Trường Tiền Son, nhà là một biệt thự, xung
quang có trồng những cây dừa, năm 1973 tôi có về
Long Xuyên làm Thư kư Hội Đồng Giám Thị kỳ
thi Tú Tài Kỹ Thuật, có được ông Phó Tỉnh Trưởng
mời Hội Đồng Giám Thị đi ăn, v́ ông ta có
con là thí sinh, khi đến nơi tôi mới biết đó là
nhà ông Trường Tiền Son, hoặc con cháu tự mở
nhà hàng hoặc cho người ta thuê làm nhà hàng. Chắc anh cũng
biết, thời xưa người ta gọi ông Trường
Tiền, đó là ông Trưởng Ty Công Chánh. Danh từ Toà Bố
tức Ṭa Hành Chánh Tỉnh, Ông Chánh tức là Ông Chánh Tham Biện
sau này là Tỉnh Trưởng. Cho nên ông Trường Tiền
Son cho biết đường LT 10 là đường Liên Tỉnh
Châu Đốc ( 2 ) + Long Xuyên ( 8 ), đây chắc không phải
là ngẫu nhiên. C̣n những đường Liên Tỉnh khác
như anh cho biết không đúng số của hai tỉnh cộng
lại. Như vậy sự giải thích của ông Trường
Tiền Son không đúng sự thật như ngày nay, rất
cám ơn anh cho biết tôi đă viết sai về điểm
này.
Cũng liên quan đến Gia Châu Hà … này,
ghe thuyền ngày xưa trọng tải đến bao nhiêu đó
tôi không rơ, phải đăng bộ và số đăng bộ
Ghe ở tỉnh Gia Định có chữ HF 1, Châu Đốc
có chữ HF 2, … tôi không rơ chữ HF là viết tắc của
chữ ǵ, thường 2 chữ đó họ viết dinh liền
lại (gạch xuống của chữ H cũng là gạch
xuống của chữ F, chung 1 gạch).
Về việc anh tôi đi Pháp, như
anh biết sau khi thoái vị năm 1945, Bảo Đại
trở lại chấp chánh năm 1949 với danh nghĩa Quốc
Trưởng của Quốc Gia Việt Nam, nằm trong Liên
Hiệp Pháp, có quân đội riêng, tướng Nguyễn Văn
Hinh làm Tổng Tư Lệnh. Để yểm trợ cho
chiến trường Điện Biên Phủ, chánh phủ
Quốc Gia Việt Nam ra lệnh Động viên một số
thanh niên phải nhập ngũ, hồi đó lệnh này chỉ
được thi hành ở các đô thị, các công tư sở,
c̣n ở vùng quê như miền Nam chúng ta th́ nằm trong vùng
giáo phái không bị ảnh hưởng. Tôi có hai người
em cô cậu làm giáo viên ở Châu đốc và Mỹ Đức
bị động viên, một cậu nhập ngũ đến
1956 mới giải ngũ về làm thư kư học chánh ở
Ty Tiểu Học Châu Đốc, một cậu nghỉ dạy
học trốn về quê đi cày làm ruộng.
Anh tôi, cũng trạc tuổi với
hai cậu kia, lúc nhỏ học ở Long Xuyên, có học với
Thầy Trương Văn Đức, không đậu bằng
Tiểu Học (Primaire), khoảng năm1945, 46 đi học
dệt vải ở Tân Châu, về nhà làm thợ dệt một
thời gian, có một chị hàng xóm, quen thân lúc nhỏ, chị
ấy theo gia đ́nh lên Sàig̣n. Nhơn một chuyến chị
ấy về quê thăm nhà, anh tôi trốn cha mẹ, theo chị
ấy lên Sàig̣n khoảng năm 1947, 48. Vài tháng sau, Chú tôi lên
Sàig̣n giới thiệu cho anh tôi vào làm công cho ông Nguyễn Văn
Lượng chủ nhân nhà thuốc Nhành Mai, là nhà thuốc
danh tiếng Dưỡng Thai Nhành Mai và thuốc dán hiệu
Con Rắng, ở số 36 Saboraine, nay là Tạ Thu Thâu Sàig̣n,
ban ngày làm việc, ban đêm anh tôi đi học lớp Kế
Toán ở nhà Kiếng, ở bên cạnh cổng Vườn
Tao Đàn, đường Lê Văn Duyệt nay là Cách Mạng
Tháng Tám, đó là trụ sở của Tổng Liên Đoàn
Lao Động ngày trước, xung quanh nhà ấy đều
là những khung kiếng, nên gọi là “Nhà Kiếng”. Khi anh tôi
có bằng Kế Toán mới xin vào làm ở Ngân Hàng Quốc
Gia Việt Nam, làm được một thời gian, anh tôi
bỏ việc ở đó, đi làm cho Đồn Điền
Cao Su ở Mimot, Cambodge.
Thời gian làm ở Mimot là năm 1953,
anh tôi bị động viên, nên t́m cách đi Pháp, anh tôi về
Sàig̣n mua vé máy bay đi Pháp, cô đầm bán vé cho biết muốn
nói chuyện riêng với anh tôi về việc này, anh tôi mời
cô ta đi ăn cơm. Trong bửa ăn cô ta cho biết, cô
ta bán vé cho anh tôi th́ được, nhưng khi anh tôi lên máy
bay sẽ bị bắt đi lính, như vậy đă bị
bắt mà c̣n mất tiền vé luôn. Cô ta cho biết, có thể
bán vé cho anh tôi lên máy bay ở Bangkok, nếu anh tôi có thể
t́m cách qua Bangkok được. Anh tôi bằng ḷng mua vé đi
từ Bangkok đến Paris.
Trở về đồn điền
Mimot, anh tôi quá giang phi cơ riêng của chủ đồn điền
sang Bangkok, v́ đi quá giang nên không thể chủ động
ngày đi, anh tôi đến Bangkok trước khi lên phi cơ
đi Paris mấy ngày, quá số ngày quy định cho phép khách
du lịch quá cảnh ở Thái lan, anh tôi phải vào Ṭa Đại
sứ Việt Nam ở Thái lan xin giúp đỡ, được
ông bà Đại sứ tốt bụng, cho ở nhờ và
đến ngày đi lấy xe đưa ra phi trường.
Đến Pháp, chẳng được mấy ngày, đồng
tiền Đông Dương bị sụt giá, tiền anh tôi
dành dụm không đủ chi dùng, việc làm chưa kiếm
được, ngày ăn bánh ḿ, uống nước fontaine,
đêm không chỗ trọ phải đi lang thang ngoài phố
…
Chuyện anh tôi đi Pháp, có đầu
có đuôi, chuyện nhà của tôi, anh hỏi buộc ḷng tôi
phải kể. Đến năm 1972, lần đầu tiên
anh tôi về thăm nhà, lúc mà nhiều người giàu có rời
Việt Nam ra ngoại quốc, trên phi cơ chỉ có một
ḿnh anh tôi là người Việt Nam đi từ Paris về
Sàig̣n, xuống phi trường Tân Sơn Nhất, anh tôi chỉ
có cái xách tay đi du lịch, Hải Quan bảo nhau, nói cho
anh tôi nghe luôn: “- Ông ấy đi công cán Hội Nghị
Paris về đó, đừng xét hỏi làm phiền ổng!”.
Anh tôi cười thầm trong bụng về sự nhầm
lẫn này, nhưng anh tôi cho là sự nhầm lẫn có lư v́
ai cũng ra đi cả, duy có anh tôi lại trở về.
Nhưng năm 1986, sắp sửa về hưu, lần thứ
hai anh tôi lại về chơi, khi mua vé anh tôi hỏi về
giấy tờ nhập cảnh Việt Nam, họ trả lời
thế nào đó, anh tôi hiểu lầm nên về đến
Tân Sơn Nhất họ dẫn giải về Đệ Nhất
Khách Sạn, ngủ hết một đêm, không cho đi dâu
cả chờ làm giấy tờ Nhập Cảnh. Phải nhắn
tôi tới để bảo lănh cho anh ấy ra về trong
khi chờ đợi giấy tờ ! Lần về năm
1972, anh tôi có cho tôi một Giấy Căn Cước cũ,
tiện đây cũng để anh xem cho biết.

Tôi cũng muốn nói thêm là anh tôi vừa
đi làm vừa đi học, tôi không rơ có bằng cấp ǵ,
bạn bè có quen với ông Tăng Kim Tây từng làm Bộ Trưởng
Bộ Giáo Dục, ông Viện Trưởng Đại Học
Cần Thơ là học tṛ của ông Tăng Kim Tây, có nhờ
anh tôi dạy về Kế Toán của Pháp ở Đại
Học Cần Thơ một niên học.
Về Ca Dao, anh nói đúng, thường
những người có học thức làm ca Dao gửi gấm
tâm sự ḿnh trong đó, anh viết về tiểu sử của
Đào Duy Từ hoàn toàn đúng, nhưng cho rằng bài Ca Dao
đó chúa Trịnh nói lên tâm sự của ḿnh tiếc thương
đă bỏ lỡ cơ hội dùng Đào Duy Từ, tôi nghĩ
h́nh như không phải vậy.
Mặc dù tôi có thấy trên mạng có
bài Nỗi Ḷng Của Trương Tịch qua bài Tiết Phụ
Ngâm của Lê Chánh Thiêm, đoạn cuối ông viết :
Trong kho-tàng văn-chương
Việt-Nam cũng lưu lại vài giai-thoại
tương-tự. Chúng ta biết trong thời
Trịnh-Nguyễn phân-tranh, có bài ca-dao được
lưu-truyền đến nay:
Trèo lên cây bưởi
hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm-xuân.
Nụ tầm-xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một miếng trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?
Tác giả bài viết đoạn này, không
cho biết ai là tác giả của Bài Ca Dao, theo anh th́ cho là của
chúa Trịnh, nhưng tôi th́ không cho là của Chúa Trịnh cũng
không phải là tâm sự của Đào Duy Từ, như vậy
cũng không phải phát xuất từ thời Trịnh Nguyễn
phân tranh.
Tôi muốn đưa anh đi xa một
chút, chắc anh biết bài Phong Kiều Dạ Bạc của
Trương Kế, cũng xin nhắc lại để chúng
ta cùng thưởng thức một lần nữa:
|
Nguyên
bản chữ Hán:
楓 橋 夜 泊
Phong kiều dạ
bạc
月 落 烏 啼 霜 滿 天
Nguyệt lạc ô
đề sương măn thiên
江 楓 魚 火 對 愁 眠
Giang phong ngư
hỏa đối sầu miên
姑 蘇 城 外 寒 山 寺
Cô Tô thành ngọai
Hàn San tự
夜 半 鐘 聲 到 客 船
Dạ bán chung thanh
đáo khách thuyền
Nguyễn Hàm Ninh dịch
Đỗ
thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Trăng
tà chiếc quạ kêu sương
Lửa
chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền
ai đậu bến Cô Tô
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Trần
Trọng Kim dịch :
Quạ
kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây băi, đối người nằm co,
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn

Phong Kiều,
xa xa tháp chùa Hàn San
|
C̣n
nhiều người khác dịch nữa, chúng ta thấy
khung cảnh rất tịch lặng, lúc nữa đêm lại
nghe vẳng tiếng chuông chùa c̣n ǵ hay hơn. Nhưng giới
thiền môn cho biết, không có đánh chuông vào giữa đêm,
cho nên người ta mới vẽ vời ra chuyện cũng
đêm ấy, ở chùa Hàn San, có hai thầy tṛ làm thơ lúc
nữa đêm, ghép lại thành một bài thơ:
Sơ
tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng
đoạn,
Bán trầm thủy để, bán phù không.
Trần
Trọng San dịch
Mồng ba mồng bốn trăng mờ,
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời.
Một b́nh ngọc trắng chia hai,
Nửa ch́m đáy nước, nửa cài từng không.
Cho
rằng bài thơ quá hay, rồi thầy tṛ cùng nhau lên chánh
điện thỉnh chuông tạ ân Phật tổ, nên có tiếng
chuông giữa đêm và Trương Kế đă được
nghe tiếng chuông ấy, ghi lại, làm cho bài thơ trở
thành tuyệt tác.
Anh
dư biết rằng, Đào Duy Từ đắp lũy
Trường Dục để ngăn sự xâm chiếm
của chúa Trịnh, nói cách khác hơn là chống lại
chúa Trịnh, đó là kẻ thù, chém được, giết
được Đào Duy Từ chúa Trịnh nào có thương
tiếc chi. C̣n về Đào Duy Từ, từ một kẻ
chăn trâu, có tài, được tiến cử với chúa
Nguyễn, ông trổ tài dâng mưu, hiến kế đắp
lũy Trường Dục, lũy Nhật Lệ được
phong chức Nội tán, khi mất được phong tước
Lộc Khuê Hầu, đến đời Minh Mạng được
phong tước Hoàng Quốc Công. Như vậy, hoàn cảnh
của Đào Duy Từ được chúa Nguyễn trọng
dụng, được nhà Nguyễn coi là khai quốc công
thần, hoàn toàn khác hẳn hoàn cảnh của người
đàn bà có chồng như chim ở trong lồng, như cá
đă bị câu. Vậy th́ bài Ca Dao chúng ta nói đến không
liên quan đến Đào Duy Từ.
Chắc
anh đồng ư với tôi là theo tâm lư chung ở đời,
người ta chỉ thương hại cho kẻ thất
thời, lỡ vận, nghèo hèn, ít ai có ḷng thương người
giàu có, danh vọng.
Thường
Ca Dao, mỗi chữ mỗi câu tác giả nhận xét rất
tinh tường, nhưng bài Ca Dao đó lại bị một
sai lầm lớn là hoa Tầm Xuân chỉ có màu trắng và
hường hường, không hề có màu xanh. Nên câu “Nụ
tầm xuân nở ra xanh biếc”, ai cũng biết rằng
xanh biếc mới ăn vần với anh
tiếc, nhưng tại sao không phải là “Nụ ầm
xuân nở ra thanh khiết”, nó cũng ăn vần với
“Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay.”
Tôi
không dám sửa văn, chắc anh cũng biết văn chương
Trung Quốc có giai thoại, Vương An Thạch, một
triết gia, một thừa tướng, một bài thơ
của ông, có hai câu:
Minh
nguyệt sơn đầu khiếu,
Hoàng
khuyển ngọa hoa tâm.
Tô
Đông Pha, thi hào đời Đường nhận thấy
hai câu thơ chướng tai, gai mắt v́ Trăng sáng làm
sao hót ở đầu núi, Chó vàng làm sao nằm giữa cái
hoa, nên thi sĩ họ Tô mới sửa thành:
Minh
nguyệt sơn đầu chiếu,
Hoàng
khuyển ngọa hoa âm.
Trăng
sáng chiếu soi ở đầu núi, con chó vàng nằm dưới
bóng hoa, bài thơ chẳng những trở nên có ư nghĩa
mà c̣n hay thế mới là thi hào đời Đường.
Về
sau, Tô Đông Pha bị lầm lỗi trong khi làm quan, nên bị
đày đi nhậm chức nhỏ ở chỗ kia, nơi
ấy ông mới biết có con chim tên là Minh Nguyệt và có
con sâu tên là Hoàng Khuyển.
Danh
nhân, thi sĩ c̣n bị nhầm lẫn huống hồ ǵ
chúng ta phải không anh hai Trầu, vậy mà chính tôi cũng
có một lần lầm lỗi, số là tôi có chủ trương
một tờ báo, có một vị Tiến sĩ toán của
Đại học Sorbone gửi bài tới, trong ấy có tên
Aristot, tôi thấy chướng tai gai mắt nên sửa
Aristote, vài hôm sau báo ra, ông ta gọi điện thoại hỏi
tôi ai làm thầy c̣, tôi trả lời chính tôi, ông ta ôn tồn
nói: “ Tôi dẫn bài Anh văn nên họ viết là Aristot, c̣n
Pháp văn mới là Aristote, sửa vậy cũng không sao!”.
Tôi chỉ c̣n biết xin lỗi v́ sự ngu dốt của
ḿnh và từ đó đến nay, tôi cẩn thận hơn.
Thưa
anh, thơ dài quá mà cũng tại bây giờ “mỗi ngày thức
dậy là thấy ḿnh bước tới gần huyệt
mộ của ḿnh thêm một bước nữa”, cho nên càng
thêm lẩm cẩm, có ǵ xin anh vui ḷng mà thứ lỗi cho, được
như vậy cám ơn anh nhiều lắm.
Tôi
đă định dừng tại đây, nhưng c̣n một
chuyện nữa may không thôi tôi đă quên rồi, năm
ngoái vào khoảng tháng bảy, tôi về thăm quê hương.
Tôi thích ăn bánh xèo với bông điên điển, nên có vào
xóm nằm giữa chùa Kỳ Viên và trường Sơ
Đẳng Tiểu Học mà anh đă học hồi nhỏ,
tôi có gặp anh Tư Cầm, năm nay chừng 80 tuổi,
chắc đó là Thầy giáo dạy lớp Năm, năm
xưa, anh ấy vẫn c̣n khỏe nhưng đi có cầm
theo cây gậy, tôi và anh ấy có nói chuyện về bệnh
tật, sức khỏe của người già, cháu gọi
tôi bằng Cậu hiện nay làm Hiệu Trưởng trường
này.
Thư
này hôm qua tôi viết một đoạn, đến nửa
đêm phải đi ngủ dưỡng sức cho sáng nay
đi làm, hôm nay viết tiếp cho xong để gửi
cho anh, v́ sợ để lâu thành ra vô lễ bắt anh phải
trông đợi câu trả lời, nhưng anh thấy đó,
không viết ngắn được, nên phải có th́ giờ.
Kính
chúc anh, gia quyến và hết thảy bà con vạn an.
Kính
thư,
Huỳnh
Ái Tông