Bơ
Vơ Nơi Cửa Phật
Nguyễn
thị Lộc Tưởng
Tôi
không ngờ Vu Lan năm nay người “ngoan đạo” như tôi lại phải “bơ vơ” không biết
về đâu, Út tôi mang tiếng là người theo đạo Phật nhưng ít mấy khi đi chùa, có
lẽ vì “ma tánh” quá nặng nên chưa tìm được Thầy để “gội rửa” tánh tình. Ba tôi
đã nhìn ra điều đó nên khi tôi vừa ra đời ông đã đem tôi lên núi Cô Tô “ký bán”
cho một ông Bộ về hưu đang tu thân (chỉ mặc áo xám không cạo đầu) trên núi làm
con nuôi, ông đặt cho tôi cái tên không bao giờ trùng với người khác với hy
vọng lúc nào tôi cũng nghĩ về điều tốt cho đỡ đi kiếp nạn. Ở cái tuổi
chín, mười tôi và ông anh thường “bị” theo ba tôi lên núi vào lúc bãi trường để
làm thường trú dân bất đắc dĩ cả tháng trời mới được xuống núi. Vì
quen với cảnh chùa chiền nghèo khổ và yên tịnh tôi cảm thấy không thích hợp với
những ngôi chùa nguy nga tráng lệ.
Ở Boston có Chùa Việt Nam đã thành lập 18 năm nay
do một nhóm người “trần tục” hùn tiền tạo dựng với mục đích tìm cho
mình và cho người chỗ nương tựa tâm hồn nơi xứ lạ quê người, có người cho tôi
biết họ là đệ tử của nhà sư Nhất Hạnh nhưng chuyện này không làm tôi bận tâm,
họ là đệ tử của ai cũng được miễn tôi không theo là được rồi, hơn nữa một người
trong ban quản trị là bạn của những ngày bơ vơ khi đặt chân nơi cái xứ lạnh lẽo
này, vợ chồng anh tính tình rất tốt. Trong những năm đầu tiên chùa gặp rất
nhiều khó khăn vì sự kỳ thị của người Mỹ xung quanh, hình Phật bà đứng giữa sân
chùa đôi khi được bọn trẻ thêm râu thêm tóc, chùa không có thầy trụ trì mỗi lần
lễ lớn rước thầy từ nơi khác về làm lễ. Hơn năm nay chùa đã có thầy thường trú,
Sư ông có gương mặt rất phúc hậu, ăn nói điềm đạm, rất giỏi tiếng Anh. Ban trị
sự rất kính trọng Thầy, bằng chứng vào buổi ăn trưa khi tất cả phật tử sắp hàng
lấy cơm rồi tìm cho mình một chỗ ngồi trên cái bồ đoàn, còn sư ông thì được dọn
một mâm riêng thức ăn riêng trên cái bàn lùn kiểu bàn ăn của Nhật (đặc điểm của
chùa là mọi người ngồi cạnh bên nhau thành hình chữ nhật,
ăn cùng một lúc sau vài phút mật niệm). Trước Vu
Lan vài ngày nhà tôi gặp một “đồng đạo” trong tiệm hớt tóc, sau khi tay bắt mặt
mừng anh báo tin chẳng lành:
-
Sao lâu quá không thấy anh đi chùa?
-
Bả bận quá không có thì giờ, còn anh tuần nào cũng đi à?
-
Hết rồi anh ơi!!
Nhà
tôi ngạc nhiên vì anh bạn này rất ngoan đạo nên hỏi:
-
Tại sao vậy?
Anh
bạn buồn bã trả lời:
-
Không ngờ chùa chiền mà cũng thưa qua thưa lại, Ông sư giải tán ban trị sự cũ,
lập ban trị sự mới toàn là người lạ hoắc, không biết từ đâu đến, ông còn
thưa vợ chồng một anh trong ban trị sự cũ “ám sát” ông. Anh thấy đó Sư
ông chứ đâu phải băng đảng xã hội đen ai giết ông ta làm gì? Tôi không
biết ai phải ai quấy như anh biết đó mình đi chùa trước khi có Sư tới trụ trì,
nói là chùa của ổng thì không đúng, làm sư mà còn tham lam thì huống chi
trần tục như mình, đúng là cái thời buổi “đảo lộn càn khôn”, bây giờ ít người lui
tới nó vắng tanh như “Chùa Bà Đanh”. (*)
Vu lan tuần sau anh chị đi chùa nào?
-
Chưa biết, tùy bả.
Nghe
nhà tôi thuật lại, tôi bàng hoàng không biết là nên buồn hay vui, số là ngày 30
tháng 8 năm ngoái (2007) tôi phải bỏ vé máy bay không đi Atlanta để họp mặt bè
bạn vì Xuân (rễ của chị sui) qua đời sau cơn bịnh ngặt nghèo, nhà chị đơn chiếc
tôi ở lại để giúp chị một tay trong việc ma chay. Tuy sống ở Boston gần
30 năm, tôi không quen biết nhiều người, nhất là chùa chiền thì tôi càng mù tịt,
ngoại trừ chùa Việt Nam, qua sự giới thiệu của anh Minh, tôi gặp
Thầy trụ trì và một vị sư trẻ. Hai sư và quí vị trong gia đình phật tử của chùa đã bỏ công tụng
kinh cho đến khi Xuân được nằm yên trong lòng đất. Thế rồi ngày Chúa Nhật
mỗi tuần chúng tôi tới chùa làm thất cho Xuân đó là cơ hội vợ chồng tôi quen
biết thêm nhiều người trong đó có ca sĩ Hà Thanh. Vì Chùa không có web, để tỏ
lòng biết ơn tôi đề nghị sau mùa thuế (khoảng tháng Tư) sẽ làm một cái web cho
chùa, Sư Ông có bàn với tôi về hình thức của cái web, với một chút kinh
nghiệm về mạng, những điều thầy muốn cũng không mấy khó khăn, thế là ngày
qua ngày tôi cứ bận rộn, không thực hiện được, cái nợ của Thầy tôi vẫn còn mang
nặng bên lòng, bây giờ thì tôi không còn ray rứt là mình đã hứa cuội, tôi “giựt
nợ” mà lòng thấy nhẹ nhàng, nếu tôi không bận rộn hoàn tất “cái mạng” cho
Sư, đã tốn công tốn của mà còn mang tiếng tiếp tay với Sư Ông.
Trước
khi xảy ra chuyện tranh chấp, với Sư Trụ Trì tôi cảm thấy mình như tìm được
một cái phao dù có một chút gì đó với mắt nhìn tôi vẫn chưa ổn, như có lần thầy
giới thiệu hai đứa bé một trai một gái khoảng bảy, tám tuổi, con của một đệ tử
là con đỡ đầu của Thầy. Tôi tự hỏi đã là Thượng Tọa ngũ uẩn giai
không, tại sao còn vướng chuyện trần thế dù là con đỡ đầu. Nhìn các Thầy ăn uống
có vẻ quan liêu quá, thà rằng quí Thầy giữ giới luật ngày xưa không ăn chung với phật
tử để không quá thân mật rồi sanh ra những tình cảm lôi thôi nhưng đã ăn chung thì phải
hòa mình với phật tử chứ theo kiểu "ăn trên ngồi trước"
này thì kỳ quá, có lần tôi vô tình cầm cái ly
một chị trong bếp đã hốt hoảng la lên “không được xài, ly đó của Thầy”, tôi thấy
không vui vì nhớ ngày xưa mấy Thầy trên núi Cô Tô sáng sớm đã nấu nồi nước năm
thứ đậu, thấy tôi Thầy múc cho tôi một ly nói “ngồi xuống với Thầy, uống cà phê
núi đi con, ngon lắm”, ngày nay khi ăn Thầy được dọn riêng, có người phục vụ, có
lần tôi than với anh Lưu Nhơn Nghĩa thầy tu ngày nay coi bộ “sướng” quá chỉ kẹt
không được ăn thịt cá uống rượu, không biết ở bên Úc anh có như vậy không?.
Anh Nghĩa với giọng cười bất hủ nói: “ hà..hà..tại LT không đi chùa thường
nên thấy lạ chứ ở đâu cũng vậy, có người cho rằng ăn đồ dư của thầy là có phước,
dám thử hông?”, Tôi trả lời: “Anh than vô phước, anh có dám ăn hông? chứ em có
phước lắm rồi hông muốn thêm phước nữa đâu”.
Bên
cái vui được thoát nợ tôi có cái buồn da
diết, đó là từ nay muốn đi chùa tôi sẽ đi đâu. Nỗi thất vọng của người
ngoan đạo nhưng khó tính như tôi thật là đau khổ, tôi đã thử nghe rất nhiều CD
thuyết pháp của nhiều Đại Đức, Thượng Tọa nhưng vì cái đầu còn quá nặng trần tục
nó đã không thông mà còn có những phản ứng trái ngược. Một người bạn khuyên tôi
ở tuổi này nên có pháp danh, tôi nói với chị “Khi chết tôi xuống địa ngục, có
pháp danh tội càng nặng hơn”.
Cứ
suy đi nghĩ lại không biết phải đi chùa nào, không đi thì lòng không yên, sau
cùng trưa ngày thứ bảy 16 tháng bảy, vợ
chồng tôi đi ngôi chùa mới, mới với chúng tôi nhưng cũ với người vì chùa đã có mấy
năm nay, chùa này trang trí giản dị nhưng rất thanh nhã, khi chúng tôi đến đã
quá ngọ một vị hòa thượng trẻ vui vẻ hỏi “Anh Chị ăn cơm chưa, qua bên phòng kế
bên dùng cơm”, tôi cám ơn Thầy rồi đi một vòng chùa tham quan, đúng là chi nhánh
của Thiền Viện Trúc Lâm ở Đà Lạt, diện tich chùa tuy nhỏ nhưng đâu ra đó,
phía sau sân chùa một vài vị thầy trẻ đang cùng với hai chị
mặc áo xám chiên tàu hủ chuẩn bị cho ngày Chủ Nhật vì lễ Vu Lan sẽ tổ chức ngày
mai.
Sau
khi đi một vòng ngoài sân, sau vườn, chính điện. Tôi muốn nấn ná thêm nên nói với nhà tôi ra xe chờ, tôi đi vào bếp. Trong
bếp khoảng năm bảy chị, người mặc đồ xám kẻ mặc áo nâu, người rửa rau, kẻ xắt
khoai môn, thấy vui tôi cũng “nhào vô” phụ một tay, có chị kể chuyện một Việt
Kiều khi qua Mỹ tuổi vừa đôi mươi, bây giờ khoảng ngoài 40 bà mẹ bịnh hoạn nhắn người gọi chị ta về thăm, chị VK
nói chị đã quên tiếng Việt. Nếu đúng như lời chị kể thật là không có tình người,
cho dù chị VK có chồng Mỹ 24 giờ trong ngày không dùng tiếng Việt nhưng làm sao
quên được ngôn ngữ của mình khi chị đặt chân tới xứ này ở cái tuổi đôi mươi.
Mỗi người một câu chê trách, một lúc đâm chán, một chị đổi đề tài: “Nói tới nói
lui mình là những người anh hùng hào kiệt đang chặt mấy củ khoai”. Một người
đàn bà tuổi độ 70 đột nhiên trả lời: “Làm sao mình là người hùng được, bà Võ
Thị Sáu mới là anh hùng đã vì dân tộc đấu tranh”. Những người khác làm
thinh, tôi nóng mặt hỏi: “Chị nói cái gì? Nên cẩn thận lời ăn tiếng nói,coi
chừng người ta tẩy chay cái chùa này đó”. Chị nói thêm: “Đã là tu hành còn
để ý bên tả bên hữu làm gì?” Tôi không phải người tu, nghe không lọt tai
nên tôi bỏ ra ngoài ở lâu thì càng phiền, nhà tôi đang nói điện thoại với người
bạn dưới cây cổ thụ, tôi hối ổng lên xe như bị ma đuổi. Một chị từ trong bếp
chạy theo “Thanh Minh Thanh Nga” nào bả lớn tuổi không biết mình đang nói gì
.v..v.. Tôi trả lời: “Chị đừng lo, tôi không thích thì đi thôi”. Nhà tôi như
người cung trăng rớt xuống, sợ tôi lại gây sự với chùa nên hỏi “Có chuyện nữa
hả?” tôi nói:
- Có
gì đâu, không ngờ trong chùa có mẹ “chiến sĩ”, bả ca tụng Võ thị Sáu, tôi không
thích nghe nên bỏ đi, tội quá “mẹ chiến sĩ” mà bây giờ phải “tạm dung” trên đất
địch và hưởng trợ cấp của kẻ thù.
Nhà
tôi chẳng những không an ủi mà còn chọc quê:
-
Tại bà khó tính, chùa nào cũng chê, bây giờ hết đường đi.
Tôi
nói như tự an ủi mình:
-
Có lẽ căn duyên tôi “chưa tới”, đi chùa hay gặp những điều phiền não làm động
tâm hơn ở nhà. Suy đi nghĩ lại chỉ cần làm đúng lời ba tôi dạy “Sống ở đời
những gì mình không thích ngưòi khác làm cho mình thì đừng làm cho người khác”
chắc còn tốt hơn là đi tu.
Khi
nghe tôi than van, một anh bạn thân khác khuyên:
“Lộc
Tưởng có biết tại sao đi chùa mình bị động tâm hay không? Vì mình hay để ý đến
người mà không để ý đến Phật và pháp. Mà người, kể cả những người phật tử cũng
như mấy Ông sư (phàm tăng) đều “vô thập toàn”, dù giữ gìn cách mấy cũng còn sơ
sót, không hoàn toàn như ý mình, làm mình thêm phiền não. Đến chùa tốt nhứt là
nghe pháp để học đạo, cũng cần xét nét chọn lọc lời hay, ý đẹp mà học. Đức Phật
Thích Ca đã dạy ngay cả lời của Đức Phật mình cũng cần suy nghĩ thấy đúng mới
nghe”.
Anh
bạn đó cũng khuyên khi gặp những điều không đúng thì dứt khoát không theo, mà
cũng không giữ nó mãi trong đầu cho động tâm và kể cho tôi nghe một câu chuyện
thiền môn khá thú vị:
“Có
hai ông thầy trẻ là huynh đệ đồng tu tại một ngôi chùa. Lần nọ hai thầy có việc
xuống núi. Khi đi ngang qua một con suối thấy một thiếu nữ muốn đi ngang qua
suối mà không qua được, khẩn cầu hai thầy giúp. Ông thầy lớn cõng thiếu nữ qua
tới bờ suối bên kia rồi để nàng xuống. Hai thầy trẻ tiếp tục đi. Ông thầy nhỏ
cứ trách sao ông thầy lớn phạm giới, đụng chạm người khác phái, ông thầy lớn
nói: Huynh cõng thiếu nữ qua khỏi suối đã để y lại bên bờ rồi, còn đệ sao cứ
cõng nàng mãi như vậy”.
Muốn
tập được như anh chắc còn lâu tôi mới đạt được.
Nguyễn
thị Lộc Tưởng
Boston, ngày mưa dầm nắng hạn
(18-08-08)
Ghi
Chú:
(*)Vì sợ mang tiếng “gà nhà bôi mặt đá nhau” định sẽ không post bài này mặc dù
tôi không có ý bài bác hay chống đối một ai, tôi
chỉ nói lên những điều không may mà tôi gặp trên đường “tìm chân lý”, đến khi
Định Tường cho tôi biết chuyện chùa Việt Nam đã đăng trên tờ Tuần San Thăng
Long số 696 ngày 19 tháng 8 năm 2008 từ trang 21 đến trang 24. Cũng nhờ tờ báo
này tôi nhớ tên hai Thầy ở chùa vì tánh tôi hời hợt nghe rồi lại quên.