Một người thân không cùng màu da và tiếng
nói
Nguyễn
thị Lộc-Tưởng
Cũng như bao nhiêu gia đình tị nạn khác chúng tôi tới Boston với 2 bàn tay trắng,
phó thác số phận của mình cho vận mạng "may nhờ rủi chịu". Có người
không may gặp phải người bảo lãnh "hắc ám" dù là người Việt với nhau
cũng bị lường gạt lợi dụng. Nếu gặp người làm ruộng (farm) "rước về"
thì khổ dài dài, suốt ngày chà lết với đám dâu, bụi cải, họ không bóc lột, trả
lương sòng phẳng, chỉ khổ sau khi trừ tiền ăn tiền ở thì chẳng còn được bao
nhiêu, tối nghe dế kêu, sáng nghe gà gáy chẳng khác gì đi "vùng kinh tế mới"
nó buồn thê thảm, đã là nông dân thì ở bất cứ quốc gia nào văn minh hay hủ lậu
họ sống kham khổ, xài tiền rất chừng mực, bản thân họ đã tiện tặn thì người được
họ bảo lãnh làm sao thảnh thơi. Cũng có người may mắn được người bảo trợ giúp đở
tận tình lo nhà cửa công ăn việc làm. Tôi có người bạn được một gia đình trung
lưu bảo lãnh, họ dành tầng trên cùng của căn nhà cho gia đình 3 người của anh tạm
trú một vài tháng, anh đến ngày thứ sáu, từ phi trường về nhà họ ghé nhà hàng
Tàu cho gia đình anh ăn cơm, cuối tuần họ mời bè bạn tới nhà giới thiệu cho anh
làm quen với hàng xóm. Sáng thứ hai anh theo ông ta đi làm trong hãng cắt kiếng,
việc làm không có gì khó khăn, mấy giờ đầu làm việc anh rất hài lòng, nhưng tới
giờ ăn trưa anh đói xanh mặt, người bảo lãnh vừa hỏi vừa ra dấu "Mầy ăn
chưa ?", anh lắc đầu. Anh đâu biết là đi làm ở đây phải mang theo
"cơm", chứ không như ở VN giờ nghỉ trưa ra quán "làm" một
dĩa cơm sườn, uống ly cà phê đá. Còn anh Mỹ thì cứ nghĩ ai cũng biết chuyện đi
làm phải mang theo đồ ăn, thế là ông phải nhường phần ăn của mình cho anh.
Trường hợp gia đình tôi hơi đặc biệt, sau khi đến Boston được vài tháng, vô
tình tôi gặp lại người cùng xóm qua trước không bao lâu, anh ta nhìn lầm cứ ngỡ
tôi là "Thu Hồng" một người bạn mà cũng là bà con xa. Thế là chúng
tôi có thêm bè bạn ngoài những người cùng chung sống ở "chung cư".
Trong số bè bạn của anh này có một cô người Thái làm nghề "house
keeping", cô giới thiệu cho Đông và một cậu độc thân lau chùi văn phòng
sau giờ làm việc tại hãng do "thân chủ" cô làm chủ (Cậu em này chỉ
làm vài tháng đến khi Đông mua được xe có thể đi một mình thì cậu nghỉ vì phải
đi học). Còn phần tôi thì "clean" cho một nhà giàu sau giờ học (2- 5
chiều), vì họ cần có người lớn ở nhà khi 2 cậu con trai đi học về (có buồn
không, con mình đi học về phải ở YMCA, mình vì tiền đi coi con thiên hạ, tính
toán quá kỹ vì “income” thấp trả tiền cho con “after school” chỉ có vài chục một
tuần không bằng tiền lương một ngày, cuối năm khai thuế được nhà nước cho thêm
thì còn gì bằng, bây giờ nghĩ lại thấy mình vô trách nhiệm, cũng may con cái
không hư, mới qua nghèo quá, làm ra tiền ai mà không ham).
Nơi Đông "cờ lin" có ông chủ trẻ tên Austin W. Burke, ông là con trai út
trong gia đình có 4 anh em, 3 trai một gái (người anh lớn qua đời), ông cùng
người anh kế cai quản xí nghiệp ông cha để lại (hãng đại lý beer Miller và một
vài loại beer nước ngoài cho vùng New England), ông rất thich lính, trong nhà
ông có rất nhiều mô hình về những trận đánh nổi tiếng trên thế giới của thời đệ
nhất và đệ nhị thế chiến. Ông suýt tí là lính Mỹ ở VN, ông rất buồn vì miền Nam
VN thất thủ, ông theo dõi tình cảnh của thuyền nhân Việt Nam, khi biết Đông từ VN
mới tới hình như có sợi dây vô hình nào đó ràng buộc, sau giờ làm việc cứ là cà
để nói chuyện với Đông (phần lớn nhờ thằng em làm thông dịch) sau cùng ông đề
nghị Đông đưa tôi đến nhà ông để tiếp bà vợ dọn dẹp mỗi tuần vào ngày thứ bảy,
nói là đi dọn dẹp chứ thật ra nhà cửa họ sạch sẽ, chỉ giúp bà hút bụi, khoảng
2, 3 chục phút là xong, thời gian còn lại ông dạy chúng tôi tiếng anh hoặc nói
về VN, lúc đầu chỉ có vợ chồng tôi, sau đó cả gia đình đến nhà ông mỗi tuần, mấy
đứa nhỏ tha hồ lội với con ông ở hồ tắm sau nhà. Ông thương chúng như
con, con ông coi chúng như em, biết chúng tôi không phải là người công giáo,
nhưng lễ Easter mấy đứa nhỏ cũng được giỏ trứng. Ngày Noel thì bọn chúng được
quà, tết Việt Nam thì ông lì xì để chúng không quên tục lệ quê hương.
Ông có lối sống hết sức là giản dị, nhiều người cho là ông bà quá hà tiện khi
nghe tôi kể ngày sinh nhật 18 tuổi thằng con trai duy nhất xin mua cái áo da
250 đô, bà không đồng ý, khuyên con chờ 2 năm nữa chứ bây giờ đang lớn mua chỉ
bận được 1,2 lần rồi bỏ. Trong khi đó ông bà không tiếc khi cho vợ chồng tôi
250 mỗi Noel và 50 đô mỗi tuần để nói dóc nhiều hơn làm. Hai đứa con gái sinh
đôi của ông bà mãi tới ngày đi dự dạ hội ở trường năm học lớp 11 mới được mặc
cái áo đầm mắc tiền (nhưng đến khi ra trường đại học bà tặng cho chiếc xe
Mercedes).
Nếu các ông có bà xã không thích chạy xe trên xa lộ, xin thông cảm cho người
"bạn già" của mình vì chúng ta từ một xứ ít xe cộ, nhưng nếu so sánh
với bà vợ của ông thì bà già VN mình đáng khen thưởng hơn vì bà chẳng những
không thích lái trên xa lộ mà còn không chịu ngồi trên xe cho người khác lái,
bà thà tốn xăng đi một vòng để tránh quẹo trái. Họ có nhà nghỉ mát ở Vermont,
muốn đi tới nơi phải đi thật sớm tránh giờ cao điểm chạy "lane" trong
với vận tốc chậm nhất theo luật (lẹ nhất 65 chậm nhất 45). Còn ông sau khi
thoát chết vì chuyến máy bay ông đi bị bão tuyết lúc còn trẻ, ông không bao giờ
đi máy bay, vì thế họ chỉ đi vacation nơi nào có xe lửa hoặc du thuyền. Họ thường
đi xe lửa xuống Florida sau đó đi du thuyền tới các nước lân cận. Bà kể khi gia
đình đi Âu châu (đi xe lửa xuống New York sau đó đi du thuyền qua Âu
Châu, lần đầu đi 7 tuần khoảng năm 1976, vài năm sau đi lần thứ nhì 5 tuần,
phải mất 6 ngày đi và 6 ngày về trên tàu), khi tàu cập bến ở Anh 1 tuần, gia
đình ông ở Hotel, để tiện việc đi đó đi đây hơn nữa ở tàu lâu quá đâm ra chán,
có một lần sau khi đi chơi về, anh gác cổng Hotel không cho họ vào, yêu cầu họ
đi cửa sau. Ông hỏi tại sao, anh kênh cái mặt trả lời "cửa này dành cho
khách hạng sang". Ông yêu cầu gặp manager, khi người manager gặp họ xin lỗi
lia lịa, anh gác cổng há mồm không ngờ những người ăn mặc không "Ăng
Lê" chút nào lại dám mướn phòng gần cả ngàn đồng một đêm.
Ngày xưa mỗi năm ông bà tổ chức tiệc Noel ở nhà đãi bè bạn và nhân viên cao cấp
trong hãng, chúng tôi tiếp bà một tay trang trí nhà cửa và nấu thêm cơm chiên,
chả giò (bà đặt đồ ăn và người chiêu đãi từ nhà hàng đến phục vụ khách), khi tiệc
sắp bắt đầu chúng tôi ra về, có lần ông bà tìm mọi cách không cho chúng tôi đi.
Ông giới thiệu với mọi người chúng tôi từ VN tới, đa số Mỹ da trắng nhà giàu rất
khinh người nhưng khinh lịch sự không tỏ thái độ, thấy ông săn đón chúng tôi, bọn
họ trố mắt nhìn, nhất là người anh rể của ông, một luật sư kiêm giáo sư trường
đại học, những người làm trong hãng ông không cần giới thiệu vì ai mà không biết
vợ chồng thằng "cờ lin". Thái độ của ông làm cái mặc cảm nghèo khó của
chúng tôi không còn nữa, từ đó mỗi năm cả gia đình tôi đều dự tiệc nhà ông. Tôi
nhớ vào khoảng năm 1983 đứa con gái út của ông lúc đó học lớp 6
(bây giờ nó là luật sư) mất căn bản toán đại số, ông rước thầy về dạy, ông
thầy giỏi quá nói "thao thao bất tuyệt" càng nói con bé càng không hiểu,
nó khóc lóc đòi nghỉ học, tôi kêu nó đưa bài tôi chỉ cho. Tôi nói với nó hồi nhỏ
tôi học toán đại số, thầy không bao giờ giải thích tại sao, chỉ biết hễ bên nầy
cộng đem qua bên kia thành trừ, hễ bên kia chia đem qua bên này thành
nhơn, nó hỏi tại sao, tôi trả lời "Bây giờ mầy còn nhỏ không cần biết tại
sao chỉ cần biết kết quả đúng là được rồi, khi lớn lên sẽ hiểu tại
sao" (nói cho qua vì cả tôi cũng không hiểu tại sao), những bài toán 1, 2 ẩn
số quá dễ, hơn nữa lúc đó tôi cũng đang học toán ở trường, một công hai việc.
Nó theo phương pháp cổ truyền của người Việt, giải được bài toán khó, từ từ có
căn bản toán, không còn sợ nữa.
Đến cuối năm 1983, Đông nói với ông không đi học nữa, dự định học lái xe truck,
ông nói: "Lái xe truck mầy phải xuyên bang bỏ vợ con ở nhà cho ai, để tao
tính cho". Thế là vài tuần sau ông kêu Đông kiếm người thế chỗ
"cờ lin", vào hãng làm chính thức (ca nhì), cứ tưởng chỉ làm công
nhân thường nhưng khi nhận job ổng giới thiệu với mọi người "training
supervisor", có người than với ổng "Nó nói tao không hiểu" ông
trả lời "Nó nói mầy không hiểu nhưng tao hiểu, nghe riết rồi quen".
Sau khi Đông nhận job hãng càng ngày càng phát triển, Đông gọi một số công nhân
người Việt, người Việt mình làm việc siêng năng hơn Mỹ nên ông rất thích, tuy
nhiên Đông cũng gặp một vài bực mình, đôi khi phải đứng giữa 2 áp lực: Mỹ thì kỳ thị, Việt
Nam mình thì họ lại nghĩ nhờ có họ Đông mới có Job, thằng boss Mỹ sai thì
họ chạy như chết, Đông kêu làm thì họ ầm ừ cho qua, khi gặp khó
khăn thì năn nỉ nói dùm (cũng may số người này không có bao nhiêu), lúc Đông
nằm bịnh viện mổ phổi gần 2 tháng công nhân Mỹ đến thăm mỗi ngày, nói
dóc cười giỡn báo cáo tình hình trong kho, còn mấy anh Việt Nam không thấy người
nào tới, không chừng họ còn vái đừng trở lại để họ có cơ hội "thế chỗ". Thật
ra đó là vì mình giận nói vậy, chớ người Việt mình đâu quá tệ, có lẽ
có sợ vào bịnh viện gặp xui, chứ mấy năm gần đây đôi khi gặp
người lạ họ tay bắt mặt mừng vui vẻ nói: "anh quên tôi rồi sao, hồi đó tôi
làm với anh, thằng... đi chung với thằng... nhớ chưa cha?". Cách đây
2 tuần, có người chận vợ chồng tôi trước chợ Tàu hỏi: "Xin lỗi chú phải
chú Đông Redemco không?". Đông gật đầu, thế là ôi thôi trăm truyện đổ
ra... "Chú nhớ thằng Tuấn 'Hà Nội' không? Cái thằng mà em chút nữa là đánh
lộn với nó về chuyện Nguyễn văn Trỗi đó ... Mới gặp nó trong chợ, nó đóng sàn gỗ
giàu lắm, nó bây giờ nói "Đế Quốc Mỹ muôn năm" chớ không còn
"Bác muôn năm". Tôi chợt nhớ có lần Đông kể cho tôi nghe chuyện xảy
ra trong hãng, một công nhân Miền Nam hỏi một công nhân miền Bắc khi NVT
"lấy thân chèn pháo" anh ta nói gì. Anh Miền Bắc trả lời NVT
nói: "HCM muôn năm", anh Miền Nam cãi lại "không đâu hắn nói: Địch
mẹ thằng nào xô ông đấy", thế là 2 bên xung đột, cũng may không xảy ra
chuyện lớn. Lúc đó ông kêu Đông lên văn phòng, sau khi hỏi đầu đuôi, ông vừa cười
vừa nói: "Lần sau nhận người nên cẩn thận, chỉ nhận một bên dễ làm việc".

Ông Austin W. Burke và
Cháu ngoại (Jocelyn) trong ngày lễ lục tuần của Đông (2006)
Trong ngày lễ Anniversary 40 năm của ông bà cách đây 2 năm (2005), con ông âm
thầm mời những người bạn cũ của ông bà ngày xưa để ông bà ngạc nhiên. Đây
cũng là cơ hội vợ chồng tôi gặp lại những người quen biết của cái thời "cờ
lin". Nhìn họ xơ xác, than thân trách phận mà thấy tội. Cuộc đời đâu ai biết
được ngày mai sẽ ra sao, "Nhân định khó thắng Thiên", ai cũng có cái
số, có ai muốn nghèo, muốn khổ đâu. Tôi thường nghĩ những gì tôi có ngày hôm
nay không phải "hay" mà là "hên". Cũng như ông, hôm thứ năm
lễ "Gà Tây" chúng tôi gặp ông, thấy ông quá ốm, hình ảnh Châu văn
Xuân, thằng rể của bà suôi vừa mới qua đời làm tôi lo sợ, tôi khuyên ông đi bịnh
viện đừng để như Xuân. Ông cười nói "tụi bây lo quá, tao không sao đâu, kể
chuyện tụi bây đi VN, chuyện Uyển ở Úc cho tao nghe". Trong lòng cũng
không yên, tối chúa nhật tôi gọi ông với dự định sẽ đưa ông đi khám bịnh ở Boston
sáng thứ hai, bà trả lời điện thoại trong nước mắt, ông đang ở bịnh viện, bác
sĩ cho biết ông bị ung thư phổi và gan. Tin ông bịnh làm tôi bàng hoàng, không
ngờ điều chúng tôi lo lắng đã thành sự thật. Cũng vì bà không dám đi xa lộ, ông
không muốn bà gặp khó khăn khi thăm nuôi nên chọn cái bịnh viện gần nhà, một bịnh
viện tệ nhất ở Massachusetts vào đó thì chỉ có chờ chết thôi. Sau nhiều ngày và
nhiều người khuyên luôn cả một bác sĩ trẻ nói nhỏ với ông "Tao là mầy tao
đã rời bệnh viện này lâu rồi", ông đồng ý đi nơi khác thì lại gặp bao
nhiêu phiền phức giấy tờ. Sau cùng ông cũng rời bệnh viện địa phương hồi tối,
xe cứu thương đưa ông đến bệnh viện nổi tiếng ở Boston bằng xa lộ, chúng tôi dẫn
đường cho bà và 2 cô con gái tới nơi bằng đường nhỏ. Chúng tôi tới sau ông gần
2 tiếng đồng hồ vì đường nhỏ có nhiều đèn xanh đèn đỏ, lại ban đêm, sợ họ không
theo kịp sẽ lạc, Boston lúc này không an toàn, lạc vô vùng Mỹ đen thì rủi nhiều
may ít. Bệnh viện quá lớn muốn tìm ra chỗ đậu xe và chỗ ông nằm cũng hơn nửa tiếng.
Không hiểu sao lúc này người ta bị ung thư nhiều quá, có thể vì khí hậu ô nhiễm
hay thức ăn có nhiều hoá chất, khu trị ung thư có hơn 2 trăm giường, thế mà
không có phòng trống, luôn cả phòng đặc biệt trả thêm 350 đô một ngày, loại
phòng này có thêm giường cho người nuôi. Ông phải nằm chung phòng với bịnh nhân
khác, bà phải nằm ngủ lang thang nơi phòng thăm, dù ông bà có thật nhiều tiền
cũng phải bù lăng bù lóc trong bệnh viện như bao nhiêu người nghèo khác, đủ thấy
câu "Có tiền mua tiên cũng được" không còn đúng.
Gần 25 năm tình như ruột thịt, ông chưa từng tới Việt Nam, chưa đặt chân tới
Châu Đốc nhưng ông biết ở Châu Đốc có Trường trung học Thủ Khoa Nghĩa, có núi
Sam, có bảy núi (dù nói tên không trúng giọng), có Đại Hội Châu Đốc hằng năm
(CĐ Reunion) những đề tài nầy khi gặp nhau cứ lập đi lập lại không chán. Bây giờ
nhìn ông trên giường bệnh, đang "vật lộn" với tử thần, tôi chỉ biết cầu
trời phật phù hộ cho ông qua cơn khổ ải.
Boston ngày 03 tháng
12 năm 2007
Nguyễn thị Lộc Tưởng