Lương
Thư Trung
Thử
đọc lại thi phẩm Đứng dưới
trời đổ nát của Phan Xuân Sinh
Nói đến thơ là nói
đến tiếng nói tận trong đáy ḷng của con
người được đan dệt qua những
vần điệu. Dù thơ được làm theo thể
loại nào, người làm thơ đều muốn
gởi những cảm xúc của ḿnh qua từng câu
chữ. Và người đọc thơ có cảm nhận
được những rung cảm của người
nghệ sĩ hay không là tuỳ vào sự đồng
cảm của chính người thưởng ngoạn. Khi
người đọc đồng cảm, rung động
và có cùng cảnh ngộ th́ họ sẽ cảm nhận
được dễ dàng; bằng không, dù những vần
thơ sâu sắc thế nào đi nữa, người
đọc cũng sẽ không hiểu nổi và không cảm
nhận nổi những điều mà thi nhân gởi
gắm. V́ vậy, đọc thơ khó hơn đọc
văn và có lẽ, cũng v́ đó mà ngày nay nhiều
người làm thơ nhưng số người
thưởng ngoạn lại không nhiều bằng.
Nhưng có một điều chắc chắn rằng, thi
nhân làm thơ là làm cho chính ḿnh, và những vần thơ hay
nào cũng thường phủ đầy cái chất lăng
mạn cùng nỗi bi thiết của cuộc đời mà
người làm thơ đă trải qua và gánh chịu.
Đôi lúc cái bi thiết ấy là những chất liệu
ẩn giấu tận trong tâm can người nghệ sĩ
rồi bật lên thành những tiếng thở dài,
những tâm sự bời bời bất tận... Và chính v́
muốn gởi những tâm sự ấy, nên thi nhân mới
cầm bút đề thơ. Những vần thơ
được sáng tác như vậy bao giờ cũng thành
thực và dễ cảm người đọc. Nh́n
trở lại nền thi ca Việt Nam qua bao thời
kỳ, chúng ta có lẽ dễ nhận ra những bài thơ
hay và nổi tiếng của các thi nhân tên tuổi
đều bao hàm những điều vừa kể.
Nhắc điều này, chúng tôi cũng muốn nh́n lại
thi phẩm Đứng dưới trời đổ nát của
nhà thơ Phan Xuân Sinh, do tạp chí Văn phát hành vào
tháng 7 năm 2000, cùng nói đến nguyên do v́ sao thi phẩm
này đă được nhiều người nhắc
nhở sau khi phát hành. Chẳng hạn, những bài viết
về thi phẩm Đứng dưới trời
đổ nát của nhà văn Vương Trùng
Dương nói về chữ "Ta" của Phan Xuân Sinh,
của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh về cảm
nhận của người làm thơ được
đọc thơ của bạn hay của Bùi Công Nguyên,
một bạn đọc, nói về cái đặc sắc
của những dấu chấm trong những câu thơ
lục bát qua bài viết "Giai thoại văn nghệ
ở làng tôi", của nhà thơ Tuệ Chương nói
về cái "hào khí Quảng Nam" của Phan Xuân Sinh.
Ngoài ra, c̣n một loạt bài phỏng vấn tác giả
của đài phát thanh, của tạp chí Hồn Quê
trên liên mạng do Trường Đinh thực hiện và
của một tờ báo Mỹ lớn nhất Boston, Boston
Globe, cũng đă phỏng vấn tác giả. Và
để t́m kiếm những nguyên do của sự quan tâm
vừa rồi, cũng như sự đón nhận nồng
nhiệt của người đọc khắp nơi,
kể cả trong nước, chúng tôi nghĩ cách thiết
thực nhất là thử đọc lại thi phẩm này
của Phan Xuân Sinh.
Trước nhất, phải chăng Phan Xuân Sinh đă
tạo được cho ḿnh một phong cách, đề
tài, cách dùng chữ nghĩa cùng với âm vận riêng, không
trùng lặp với những người làm thơ đi
trước hoặc đồng thời, nên thơ Phan Xuân
Sinh là điều mới mẻ và mời gọi
người đọc? Đặc biệt về cách
chọn đề tài, Phan Xuân Sinh đă chọn những
đề tài không mới nhưng lạ. Những nhân
vật như Ngũ Tử Tư, Nguyễn Trăi, Tào Tháo là
những nhân vật ai cũng đă hơn một lần
nghe tên tuổi, nhưng nhờ tạo được cho
ḿnh cách diễn đạt ư tưởng rất đặc
biệt qua những vần thơ như vừa tâm sự,
vừa phân trần và vừa giải bày nỗi bất
hạnh của chính ḿnh với các bậc tiền nhân trong
lịch sử mấy trăm năm trước mà thơ
của Phan Xuân Sinh đă gây được một ấn
tượng lạ. Những bài thơ tiêu biểu trong
loại này là "Hầu chuyện cùng Ngũ Tử
Tư" (trang 19), "Đêm nằm nhớ Ức
Trai" (trang 69), "Giải oan cho Tào Tháo" (trang 97) là
những bài thơ được nhiều bạn
đọc quan tâm. Chính những điều tưởng
chừng đă quá cũ kỹ này, nhưng với bút pháp
riêng, Phan Xuân Sinh đă làm cho những câu chuyện cũ
trở thành tân thời, hiện đại, vừa nghiêm
nghị vừa dí dỏm, vừa chua chát, vừa như
để nói chơi cho vui mà giải toả
được bao nhiêu tâm tư u uất của ḿnh.
Với người xưa th́ vậy, c̣n với
người đương thời và những
người trẻ bây giờ, th́ sao? Dĩ nhiên, nói
chuyện với người đồng thời có cái thú
riêng của nó. Phan Xuân Sinh cũng muốn thân thiết chia
sẻ, giải bày tâm sự với những người
trẻ hôm nay trong những bài thơ như “Nói chuyện
với những người sinh vào thiên niên kỷ mới”
hay “Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm Hai
ngàn”. Với nỗi ḷng man mác buồn về sự mạt
vận của chữ nghĩa thánh hiền, về đà mai
một dần của bao điều được
gọi là “văn hoá” của dân Việt ḿnh nơi xứ
người, với tâm tư luôn muốn được
mọi người chia sẻ và chia sẻ với mọi
người, nhất là với các bạn trẻ, Phan Xuân
Sinh lúc nào cũng mang mang trong ḷng một nỗi ray rứt,
khắc khoải về mọi giá trị của ông cha
rồi sẽ chẳng c̣n ǵ với sự lấn áp của
đời sống văn minh nơi xứ lạ:
“c̣m lưng. Đẩy cổ xe thấm mệt
từ phương Đông ́ ạch đến đây
mấy ngàn năm văn vật chất đầy
cũng đành bỏ bên lề quư quốc.”
(Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm hai ngàn,
trang 107)
Chúng ta thử nghe Phan Xuân Sinh giải bày tâm sự của
kẻ đứng giữa ḍng sống của xă hội
mới, rồi nghĩ lại thân phận ḿnh như
những kẻ lạc loài ngơ ngác nh́n ḍng đời trôi
nhanh đến chóng mặt :
"bước qua đây. Mặt mày xanh ngắt
thịt da c̣n bám chặt phèn nâu
lên con tàu chẳng biết về đâu
với những đường thênh thang xa thẳm.
mắt nhắm. Mà thấy c̣n chóng mặt
chữ nghĩa xứ người vật vă từng
cơn
có vội vàng, cũng thành đứa chậm chân
giữa phố lạ bơ vơ ngờ nghệch ."
(Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm hai ngàn,
trang 107)
Cái nét "bơ vơ ngờ nghệch" ấy không riêng
Phan Xuân Sinh vấp phải, nó là nét chung của những
người phải đặt chân lên xứ sở này vào
những năm tháng hoàng hôn của cuộc đời. Khi
đề cập đến một đời sống
mới với người di cư, "hội
nhập" luôn là từ được nhiều
người nhắc đến, nhưng nó có lẽ chỉ
đúng với trường hợp các bạn trẻ,
những thanh niên sanh trước hoặc sau năm 1975 không
xa, c̣n với những người ở tuổi trung niên
hoặc lớn hơn th́ khó mà "hội nhập" vào
đời sống mới nơi xứ người. Chính
v́ vậy, giữa ḍng đời tất bật, nhà thơ
của chúng ta lại "thèm" bắt gặp một
chiếc xe trâu đi qua con đường làng dịu
nắng, hay một chút rượu đế ngồi
đối ẩm với những người bạn nghèo
dưới gốc mận, gốc xoài để nghe sao ḷng
ḿnh ấm lại:
"ta thèm chiếc xe trâu, thủng thẳng
trên đường làng ngất ngưởng chiều
về
nghèo triền miên đâu thiếu bạn bè
ly rượu đế buổi chiều đủ
ấm."
(Người lữ hành lỡ chuyến tàu năm hai ngàn,
trang 107)
Sự thiếu vắng một vài cảnh cũ đến
phát "thèm" ấy, chợt nhận lại ḿnh, với
thân phận nghiệt ngă của những người sanh ra
vào thế kỷ trước, Phan Xuân Sinh tâm sự với
người trẻ sau này của thiên niên kỷ mới:
"thời của bọn ta chẳng biết về
đâu
chạy lung tung, mặt hăi hùng thất tán
nh́n về núi sông ruột đau như cắt
bài học này xin gửi lại các người"
Và để nói rơ hơn về nỗi ḷng muốn nhắn
gởi của ḿnh, Phan Xuân Sinh tha thiết kêu gọi
thế hệ mai sau hăy đến với nhau bằng
tấm ḷng bao dung hơn để cuộc đời này
bớt đi những oán hờn, đau khổ một cách vô
ích:
"ta muốn các người sống phải thực
ḷng
đem sở học để b́nh thiên hạ
mang tâm huyết dựng nên nghiệp cả
cớ sao phải động đến đao binh?"
Và rồi t́nh thương đồng loại như tràn
dâng, qua nỗi đau của chính ḿnh, Phan Xuân Sinh đă phân
trần, mời gọi những lớp đàn em mai sau:
"Chúa hay Phật cũng lấy điều nhân ái
đăi với nhau bằng độ lượng từ
tâm..."
hoặc:
"thật b́nh yên sống vơi non sông
bữa cháo bữa rau, của rớt ngoài đàng không
lượm
cần chi phải màu mè cách sống
mà gây nên tội lỗi ngập đầu."
(Nói chuyện với những người sinh vào thiên niên
kỷ mới, trang 87)
Nhưng có lẽ, với Phan Xuân Sinh, cách hay nhất
để vơi bao nỗi buồn là nói chuyện với
bạn. Ngoài các bài thơ vừa dẫn ở trên, Phan Xuân
Sinh c̣n nhiều bài thơ "nói chuyện" hoặc
mời bạn uống rượu. Những bài thơ
thuộc loại này khá nhiều như “Gặp lại
bạn ta” (trang 64), “Chén rượu tạ ḷng bạn
hiền” (trang 77), “Nói chuyện với bạn hiền”
(trang 102), “Uống rượu với bạn cũ bên
bờ vịnh Half Moon Bay” (trang 122)...
Tóm lại, với Phan Xuân Sinh, làm thơ là để
giải bày nỗi u - uẩn trong ḷng của ḿnh với
một người nào đó theo cách riêng của tác giả.
Và rồi, ngoài đời cũng như trong thơ, tác
giả chơi thân và đem hết tấm chân t́nh
đối đăi tận t́nh với bạn ḿnh, không bao
giờ so đo hơn thiệt. Chúng tôi xin ghi lại vài
đoạn thơ tiêu biểu, nói lên cái t́nh bạn thân
thiết ấy của Phan Xuân Sinh đối với
bằng hữu:
"bạn kể đời bao năm lưu lạc
ta kể đời ngày tháng tù đày
tha phương hồ dễ người tri kỷ
gặp lại nhau chừ ta phải say"
(Uống rượu với bạn cũ bên bờ vịnh
Half Moon Bay, trang 122 )
Hai cảnh đời tuy có hai phần số khác nhau,
người th́ "lưu lạc", kẻ th́ "tù
đày" nhưng giờ đây, họ có chung cảnh
"tha phương", và gặp nhau nơi chốn này
nếu không thương yêu nhau th́ c̣n ǵ đáng sống
ở cơi đời này: "gặp lại nhau chừ ta
phải say". Chẳng những thi nhân mừng quá
muốn say với bạn ḿnh đêm gặp gỡ này, mà qua
đó Phan Xuân Sinh c̣n ngầm nhắn nhủ cùng mọi
người rằng khi chúng ta v́ hoàn cảnh ĺa quê bỏ
xứ ra đi, và được gặp lại nhau nơi
xứ người này, chúng ta đều là bè bạn
với nhau, nên hăy “say” với nhau đi; không chỉ say
rượu mà c̣n say t́nh bạn bè thân thiết, say t́nh đồng
hương, say t́nh giống ṇi máu đỏ da vàng với
thân phận phải lưu lạc khắp cùng. C̣n ǵ đâu
để chúng ta tranh hơn thiệt cho thêm buồn ḷng.
Giờ đây, ai cũng đă già hết rồi, hăy mở
ḷng ra mà đến với nhau, rồi chúng ta sẽ
thấy ấm ḷng biết dường nào:
"Chén rượu đượm chút t́nh thân cũ
ta thấy đời đang dậy mùi hương
nh́n nhau hai đứa đâu c̣n trẻ
mái đầu điểm bạc tóc pha sương."
(Uống rượu với bạn cũ bên bờ vịnh
Half Moon Bay, trang 122)
Qua những ḍng thơ trên, Phan Xuân Sinh đă làm chúng tôi
nhớ lại mấy câu thơ lục bát "Mời
rượu" của Giản Chi Nguyển Hữu Văn,
người cùng viết với Nguyễn Hiến Lê
nhiều tác phẩm triết học Trung Hoa, đặc
biệt cùng dịch tác phẩm bất hủ Sử kư của
Tư Mă Thiên. Xin ghi lại một trích đoạn sau
đây, để thấy thơ của Giản Chi có mang
cái chất lăng mạn của thời đó, nhưng
cũng để thấy cái chân t́nh, tha thiết với
bằng hữu của Phan Xuân Sinh hôm nay nữa:
"... Uống đi, nào bạn uống đi,
Lênh đênh ngày tháng, mấy khi xum vầy !
Uống cho ḷng ấm đêm nay,
T́nh suông suốt kiếp thả say một giờ .
Có đôi trong cơi mơ hồ
Hoạ khuây dĩ văng, bớt ngờ tương lai .
Thời gian hoạ có bớt dài,
Không gian hoạ rút trong vài tấc li ..."
(“Mời rượu” của Giản Chi, trích trong Đời
viết văn của tôi của Nguyễn Hiến Lê,
trang 281))
Về chữ dùng, phải nh́n nhận rằng, những
từ ngữ b́nh dân khi đem vào thơ thật khó vô cùng
để khoác cho chúng những âm điệu có hồn.
Thế nhưng, Phan Xuân Sinh lại sở trường trong
cách biến những từ ngữ này thành những âm
điệu có hồn trong các câu thơ của ḿnh. Ví dụ
như câu thơ sau đây:
"ta với em, một thứ như nhau
t́m miếng ăn, tủi hờn ngập mặt
ruột gan bời bời như dao cắt
ôm cái đau của kẻ cùng đường"
(Chào New Orleans, trang 45)
Có lẽ không chữ nào b́nh dị hơn chữ
"một thứ như nhau" để chỉ hai
người cùng cảnh ngộ khốn cùng, cùng thân
kiếp bèo trôi giạt... nghe đơn sơ, rơ nghĩa
nhưng khó gieo thành vần trong một đoạn thơ...
Hoặc nhóm chữ "tủi hờn ngập mặt" để
chỉ cái tủi nhục đến cùng tận, trên
gương mặt dường như chỗ nào cũng
chai ĺ, không c̣n chút ngượng ngùng của người
mới thất bại lần đầu. Và tự nhóm
chữ này cũng không có chút chất thơ nào. Thế
nhưng, qua đoạn thơ vừa chép lại, chúng ta
phải nh́n nhận rằng, chính những từ ngữ quá
b́nh dân vừa rồi đă lột tả hết cảnh
đời lưu lạc giang hồ của những
người bi đời hất hủi, bi xă hội coi
khinh, ruồng rẫy và đang kiếm t́m một
đời sống nơi xứ người mà lúc nào
cũng chua chát, đoạn trường...
Hoặc như đoạn thơ sau đây:
"ôi, cái thuở của mấy thằng phiêu bạt,
nhớ làm chi ba cái chuyện tử sinh
nó nhỏ nhoi như đầu tăm ngọn cỏ
của một thời trai. Sông núi đao binh."
(Gặp lại bạn ta, trang 64)
Những từ ngữ "của mấy thằng",
"ba cái chuyện", "đầu tăm ngọn
cỏ" là những chữ thường dùng ngoài
đời, nơi cửa miệng mọi người khi
người ta nói với nhau về một điều ǵ
quá bé nhỏ, tầm thường, không đáng phải quan
tâm. Và dưới ng̣i bút của Phan Xuân Sinh, tác giả
đă mang cho những từ ngữ ấy sự nhịp
nhàng, ăn khớp với vần điệu của
mạch thơ và với cảnh đời chẳng
đáng giá ǵ, dù rằng đó là chuyện sống chết
của một đời người. Chỉ là
"của mấy thằng", chỉ là "ba cái
chuyện", chỉ là "đầu tăm ngọn
cỏ" mà thôi... để nói lên việc coi nhẹ cái
chết, như "nhẹ tựa lông hồng" của
người xưa. Thực ra, chúng ta đâu biết
"lông hồng" là ǵ, và chỉ biết mang máng trong
sử sách có giống "chim hồng", "chim
hộc"; nó có vẻ mơ hồ, mường
tượng, và không thể gần gũi bằng
"đầu tăm ngọn cỏ" là những
vật bé nhỏ, có thật; chúng ta không cần h́nh dung
cũng đă nhận ra cái khinh bạt trong tứ thơ
rồi...
C̣n nhiều lắm những từ ngữ được
dùng như vậy trong tập thơ. Đây chính là nét
rất đặc sắc của Phan Xuân Sinh trong việc
đưa những từ ngữ mộc mạc, b́nh dị
vào thơ. Và nhờ vậy, so với nhiều tác giả
khác, thơ anh có được nét riêng. Dĩ nhiên, muốn
có được cái nét riêng đó không phải là
điều dễ làm. Sở dĩ chúng tôi nói như vậy
v́ càng dùng từ ngữ b́nh dị trong thơ bao nhiêu th́
để có những vần thơ hay lại càng khó
bấy nhiêu. Đó chẳng khác nào việc người có
tâm hồn nghệ sĩ có thể biến những cây tre,
cây trúc với lá tranh, vách đất thành một mái cḥi hay
một căn nhà khang trang thơ mộng ... Biết đâu,
chính những cái b́nh dị như vậy lại bền
chắc?
Nhắc về các chữ dùng trong thơ của Phan Xuân Sinh
chẳng khác nào nhắc đến tấm áo ngoài của
người con gái. Có những người ăn mặc
lộng lẫy, sang trọng nhưng tâm hồn th́ khô khan,
vô tâm, hời hợt, chai sạn nên không hấp dẫn cho
lắm. Ngược lại, có những người nét
mặt chỉ xoàng xoàng, không đẹp, nhà lại nghèo
với chiếc áo bà ba loại vải xoàng, đơn
giản nhưng sao lại quá dễ thương... Như
những bài thơ bóng bẩy cầu kỳ mà không thực
nên khó gợi cảm được. Ngược lại,
có những bài thơ rất b́nh dị, đơn sơ mà
chứa đầy cảm xúc chân thực nên dễ làm rung
động tâm hồn người đọc. Thơ Phan
Xuân Sinh đạt được cái b́nh dị, đơn
sơ mà chan chứa ấy!
Nhưng khi đọc lại thi phẩm Đứng
dưới trời đổ nát xong, rồi xếp
tập thơ lại, ngồi ngẫm nghĩ về
mọi ư tưởng của người thơ mà tôi nghe
ḷng ḿnh cũng mang mang đâu đây một tiếng thở
dài đến năo ḷng. Qua những bài tâm bút và qua các bài
trả lời phỏng vấn, chúng tôi được
biết Phan Xuân Sinh vốn là một đứa bé mồ côi
mẹ từ lúc ấu thơ, sống côi cút bên thân phụ
với cảnh gà trống nuôi con, thiếu thốn t́nh
thương yêu ấp ủ của mẹ hiền quả
là một nỗi bất hạnh lớn lao của anh.
Đến khi vào đời, lúc thời chiến chinh, Phan
Xuân Sinh đâu có con đường nào để chọn
ngoài đời lính đầy hiểm nguy. Khi vừa tṛn
hai mươi bốn tuổi, tuổi lính chưa
được bao năm, một tai hoạ khác lại
vội ập lên đứa bé bất hạnh ngày nào thêm
một lần. Năm ấy, chiến trường Vùng I
Chiến thuật sục sôi bom đạn. Từ gốc
cây, vách núi cho đến cái giếng nước, con
đường ṃn, cọng rau, ngọn cỏ đâu
đâu cũng bao trùm nỗi hiểm nguy chết chóc... Trên
bước đường hành quân dưới làn
đạn rền trời, tiếng ḿn nổ xé đất
giữa buổi trưa im vắng của rừng già;
một miểng ḿn vô t́nh đă bay lạc vào thân thể
người thiếu uư trẻ Phan Xuân Sinh ấy như
một định mệnh khắc khe, cay nghiệt cứ
theo bám riết đời anh... Thế nhưng, anh vẫn
b́nh tĩnh và hy vọng đời ḿnh sẽ không
đến nỗi nào khi chiếc phi cơ trực thăng
chở anh về Tổng Y viện Duy Tân ở Đà
Nẵng để cấp cứu vào một chiều
tắt nắng... Tiếc thay, vết thương máu ra
nhiều quá và anh ngất xỉu sau vài phút ngắn ngủi
khi mới vừa nhập viện. Thời gian trôi qua,
chẳng biết là anh đă mê man như vậy bao lâu,
nhưng chắc khá dài v́ sau đó phải trải qua
một ca giải phẫu vết thương đầy
máu nữa. Khi tỉnh lại, anh bàng hoàng, hốt hoảng
khi biết rằng bàn chân mặt của ḿnh từ nay
vĩnh viễn không c̣n nữa:
"cúi xuống nh́n lại ḿnh băng hoại
xót thương thay mầm sống ra rời."
(Sớm chiều lặn lội, trang 51)
Chính v́ cận kề với cái chết như vậy, mang
trên ḿnh vết thương suốt đời và trong ḷng
luôn tê tái buốt đau nên Phan Xuân Sinh mới dám mạnh
dạn, tự hào mà sánh cái nguy của ḿnh với cái nguy
của Ngũ Tử Tư trong một lần "hầu
chuyện":
"Ngài vượt qua cửa ải thoát thân
ta cũng trốn chạy năm lần bảy
lượt
cái nguy của ta Ngài đâu sánh được
rừng thẳm bể sâu tan xác như chơi ..."
(Hầu chuyện với Ngủ Tử Tư, trang 19)
Nỗi đau thương kinh hoàng đă ùa chụp lên thân
phận một người thanh niên c̣n quá trẻ với
nhiều ước vọng như Phan Xuân Sinh, bảo sao
trong thơ anh không bàng bạc những tiếng thở
dài... Thở dài cho thân phận ḿnh, thở dài cho những
cuộc t́nh bỏ đi, thở dài cho những ước
mơ không thực hiện được, thở dài cho
kiếp đời ba ch́m bảy nổi, lưu lạc ngàn
trùng...
Chúng tôi xin mượn vài đoạn thơ tiêu biểu
để nói lên tâm tư của Phan Xuân Sinh, như
tiếng vọng lại từ bao nhiêu tầng bậc rung
cảm ẩn giấu trong ḷng của thi nhân này suốt
những năm tháng dài vương mang một nỗi bất
hạnh và đặc biệt, có lần, Phan Xuân Sinh đă
than như vậy khi mỗi lần đêm vắng về:
"Cũng quẩn quanh mấy thằng lưu lạc
Sớm chiều nghề ngỏng chẳng hơn ai
Trong ḷng lịm tắt bao chí lớn
Đêm về se sắt tiếng thở dài."
(Gặp lại bạn ta, trang 64)
"Tiếng thở dài" trong thơ Phan Xuân Sinh nó "se
sắt" là phải. Nó se sắt v́ thi nhân đă cảm
nhận bao nhiêu đớn đau, mất mát ngay trong tâm
hồn ḿnh và trên thân thể ḿnh. Đó là những vết
thương hằn lại suốt đời, không phai
được khi mỗi lần nghĩ lại vào những
lúc "đêm về". Nhưng đâu phải Phan Xuân
Sinh chỉ thở dài cho riêng ḿnh, anh dường như lúc
nào cũng nhớ đến những người bạn,
kẻ mất, người c̣n, mà nay đang siêu tán thất
lạc khắp mọi phương trời, nên với
một tâm hồn dạt dào t́nh thân ái thương yêu dành
cho bè bạn, anh không sao khỏi ngậm ngùi mỗi lần
nhắc nhở. Dù rằng nhiều lúc thi nhân coi việc
tử sinh chỉ là "đầu tăm ngọn
cỏ", nhưng Phan Xuân Sinh đă phải nén lại
tiếng khóc, "cầm ḷng" khi nhắc lại
từng tên bạn cũ với đôi mắt lúc nào cũng
"cay xé":
"vẫn biết thế . Sao mắt ta cay xé
cố cầm ḷng nhắc nhở từng tên
bạn ta . Kẻ đầu non cuối chợ
đứa mất, đứa c̣n đâu dễ ǵ quên
."
(Gặp lại bạn ta, trang 64)
Và rồi nh́n ra chung quanh, hướng về mọi
nẻo, Phan Xuân Sinh chợt nhận lại ḿnh, anh đa
cảm nhận ra thân phận của kẻ "sa
cơ", lỡ vận:
"Nốc cạn ly bỗng nhiên buồn lạ
Ngẫm ḿnh thân phận buổi sa cơ
Đẩy đưa với chút t́nh mờ nhạt
Ta sợ ta thành kẻ bơ vơ."
(Ly rượu đầu xuân, trang 82)
Với một tâm hồn tràn đầy lăng mạn, Phan Xuân
Sinh cũng làm cho ta xao xuyến bồi hồi:
"Có một chút ǵ xôn xao rất lạ
Để hồn ta bay theo lá vu vơ ..."
(Lời tỏ bày cùng quê nhà, trang 92)
"Một chút ǵ xôn xao" đó để hồn thi nhân
"bay theo lá vu vơ" là nỗi ḷng nhớ cố
hương vào một giây phút chạnh ḷng, trong đó, có
những cuộc t́nh cũng đành bỏ ta đi theo
những chiếc bóng chập chờn. Nhưng với
một người vốn đa nặng t́nh với
đất, với người như Phan Xuân Sinh, những
buồn vương không giữ nổi một sự
trở về t́m kiếm lại những bóng h́nh, một
lần nữa, như một tiếng thở dài trong ḍng
sông đời nơi bến bờ xa lạ này :
"giờ ở đây. Ḷng se sắt lạnh
nhớ phố, nhớ người . Đôi mắt long
lanh
bên trời xa, bên đời hiu quạnh
chim lạc bầy, chim moi cánh tim quanh ."
(Lời tỏ bày cùng quê nhà, trang 94)
Chất lăng mạn cùng với thân phận ấy đă mang
đến cho thơ anh một tiếng ngân vọng
đến nao ḷng. Với nhiều nhà phê b́nh văn học,
thơ Phan Xuân Sinh rực rỡ những hào khí của
một kẻ sĩ xứ Quảng không gặp thời.
Nhưng xét về phương diện mộng mị
cuộc đời, cái chất lăng mạn ấy đă tô
điểm cho thơ Phan Xuân Sinh thêm chút khắc khoải,
chua xót của một lần phụ bạc đến
dễ thương. Ta thử nghe lại mấy ḍng lục
bát cho một cuộc t́nh dù nay đă "mờ phai"
nhưng c̣n chút ǵ gờn gợn trong ḷng mỗi khi nhớ
lại và c̣n đó cái buồn man mác của một lần
lỡ hẹn:
"ta bâng khuâng đứng bên đường
xa em c̣n chút vấn vương bên ḷng
qua rồi bao nỗi băo dông
chuyện xưa trầm tích dưới ḍng quạnh hiu
là đời vây phủ rong rêu
là em vàng vỏ bên chiều nắng phai
nh́n nhau chi để thờ dài
gặp nhau chi để một mai ngậm ngùi
th́ thôi em cố gượng vui
chút t́nh ngày cũ cố vùi lắng sâu"
(Mờ phai, trang 81).
Thi nhân th́ vỗ về, khuyên nhủ người
thương rằng "th́ thôi em cố gượng vui,
chút t́nh ngày cũ cố vùi lắng sâu" nhưng chính trong
ḷng ḿnh lại khắc khoải những tiếng
"thở dài" đứt ruột... Đâu phải
chỉ một lần, Phan Xuân Sinh c̣n gợi nhớ cho chúng
ta một nỗi đau nữa khi ngồi trên đồi
nghe tiếng chim hót, tiếng súng rền mà ở bên kia con
phố, cuộc t́nh đă đi sang bến khác tự lúc
nào:
"trên đồi trọc, cỏ không kịp mọc
sống chết một đời có nghĩa chi
khi tỉnh giấc, ngó bên đồi chim hót
ḷng ta đau, nh́n măi cuộc t́nh đi
như thỏi son môi. Không c̣n thắm
nên em quên một thứ chẳng cần
ta bấn loạn, cơn đau cùng cực
chào thua. Em trong cơi trầm luân."
(Nghe chim hót trên đồi 55, trang 32)
Có một lần thi nhân trở lại bến sông xưa,
ḷng vương vấn một bầu trời thương nhớ
cũ:
"ta nhớ đ̣, người qua thuở ấy
nước mắt c̣n ướt đẫm bến sông
oan khiên ụp xuống đời con gái
tiễn người đi. Ta nát cả ḷng ...
bao năm ta trở về chốn cũ
ngồi bên sông chờ chuyến đ̣ qua
cây với ta một màu ủ rủ
người có hay ta lệ nhạt nhoà ..."
(Qua sông nhớ người, trang 143-145)
Những vần thơ với bao tâm sự dạt dào
được trải ra như thế đă cảm hoá
hồn tôi biết dường nào! Đến một hôm
t́nh cờ gặp lại người cũ giữa thành
phố lạ, nhà thơ của chúng ta cũng không khỏi
bàng hoàng chua xót cho một lần lỡ hẹn với hai
câu thơ lục bát làm mềm ḷng người đọc :
"em về chia nửa vầng trăng
khóc giùm ta giữa gối chăn bạc t́nh."
(Gặp lại người xưa giữa phố Boston,
trang 44)
Đọc hai câu thơ này của Phan Xuân Sinh, có lẽ
sẽ có người chợt nhớ lại những
dấu chân trên cát, tiếng sóng vỗ vào bờ đá
nơi vùng biển xanh nào đó, những màn sương
lạnh phủ ngập rừng thông nơi một thành
phố núi, hay dưới gốc phượng vĩ
đỏ bông vào mùa băi trường của một thời
xa lắm mấy mươi năm và nhớ những
cuộc t́nh thơ dại tuổi học tṛ đă qua đi
và không bao giờ chúng ta trở lại để nói cùng
"người xưa": "em về chia nửa
vầng trăng, khóc giùm ta giữa gối chăn bạc
t́nh" như Phan Xuân Sinh đă có được. Tôi
rất mê hai câu thơ này v́ cái ư thơ không chỉ vừa
thật, lăng mạn, chua chát, bẽ bàng mà c̣n đẹp
nữa...
Vốn đa t́nh, đa cảm, nhưng Phan Xuân Sinh vẫn
nhận ra người đă cứu độ ḿnh ra
khỏi cơn đau buốt đến tê tái một
kiếp đời côi cút bi thảm của ḿnh. Và
người ấy chính là hiền thê của anh bây giờ.
Lúc c̣n thơ ấu, anh đă có một tuổi thơ
bất hạnh. Đi vào đời, anh lại gặp
nhiều điều bất hạnh khác khi tuổi
đời c̣n quá trẻ, giữa lúc bao mơ ước
đang tran trề. Một bàn chân của người lính
trẻ đă để lại trên rừng rậm giữa
tiếng bom đạn rền vang nóng bỏng là một
chuỗi ngày kinh hoàng măi ám ảnh một kiếp
người. Chúng ta thử nghe Phan Xuân Sinh kể về
chị Thiên Nga, hiền thê của anh trong thơ:
"em vất vả đắng cay chồng chất
gió sớm mưa chiều phủ lên đầu
lặn lội đơn thân ngoài cơi vắng
âm thầm quay quắt suốt đêm thâu ..."
(Tạ lỗi với vợ hiền, trang 119)
Như một người cứu rỗi giữa ḍng
đời, t́nh yêu của chị đă thấm vào hồn
thơ của chồng:
"ta mệt lả mắt mờ chân mỏi
những lằn roi hằn nỗi đoạ đày
em chia sớt cơn đau cùng khó
lời em như mật rót bên tai
cúi xuống nh́n lại ḿnh băng hoại
xót thương thay mầm sống ră rời
em v́ ta lao ḿnh cứu rỗi
trải ḷng ra, phơi giữa đất trời ."
(Sớm chiều lặn lội, trang 53)
Có lẽ không lời nào ca ngợi t́nh chồng vợ
thuỷ chung, cao quư hơn những ḍng thơ này nữa. Và
cũng để đáp lại cái t́nh yêu thiêng liêng ấy,
Phan Xuân Sinh c̣n muốn gởi gắm một tấm chân t́nh
như một lời "cám ơn em, cám ơn
đời" c̣n cho anh có được một
người vợ hiền bao dung, đă đến với
đời anh giữa buổi khốn cùng, cay nghiệt và
nhờ vậy mà anh đă gượng dậy nổi sau
biết bao lần muốn ngă quỵ :
"cám ơn em, cám ơn đời
t́nh sau, nghĩa trước. Một trời bao dung
giữa bấy nhiêu cái khốn cùng
c̣n cho nhau chút thuỷ chung giữ ḿnh."
(Bài thơ cho vợ hiền, trang 9)
Đọc lại thơ Phan Xuân Sinh, chúng tôi cảm
nhận được những tâm sự của nhà thơ,
man mác buồn nhiều hơn vui với những trăn
trở, những chia cách, những bất hạnh, những
phủ phàng trong cuộc đời mà tác giả đă
từng hứng chịu, trải qua. Những tâm sự
được gói ghém trong hơn 145 trang thơ đă là
tiếng thở dài năo nuột làm cay xé ḷng tác giả và làm
rưng rức con tim những người đọc cùng
cảnh ngộ. Đọc lại thi phẩm Đứng
dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh là
dịp để chia sẻ những tâm sự ấy
với tác giả và cũng là dịp để nghe lại
tiếng nhịp đập của trái tim ḿnh, đôi lúc nó
cũng năo nuột tương tự. Thơ chứa
nhiều tâm sự và thành thực như vậy bao giờ
cũng gần gũi và dễ cảm ḷng người.
Người nghệ sĩ làm thơ vốn dĩ là
viết cho ḿnh bằng những cảm xúc, những tâm
sự riêng nhưng thi nhân làm thơ cũng muốn viết
cho người là vậy!