Lương
Thư Trung
Gần
giáp Tết, nhìn lại những tháng ngày qua
Dường
như trong kiếp người, ai ai cũng có một lúc nào đó nhìn về những năm tháng cũ,
những năm tháng làm nên đời sống mình, làm nên suy nghĩ mình, và nhất là những
ghi dấu về những bến bờ trong dòng sông đời trôi mãi như những nỗi nhớ khôn nguôi
và chính những nỗi nhớ ấy vào những ngày gần Tết ở vào tuổi ngoài sáu mươi, bảy
mươi như những nỗi niềm làm tâm trí mình luôn gẫm suy và lưu luyến mãi…Là một
con người sống trong trời đất này như mọi người, tôi cũng không ra ngoài cái
thông lệ ấy được và hôm nay ở tuổi ngoài sáu mươi như những vạt nắng chiều hiu
hắt bóng, tôi không làm sao không nhớ về những bóng dáng mình qua những ngày tháng
qua đi sáu bảy mươi năm về trước được !
Nhớ
lại thời ấu thơ, tôi sống nơi làng quê tôi vùng Tân Bình, Lấp Vò, Long Xuyên cũ.
Những năm tháng bé bỏng ấy làng quê tôi lâm vào cảnh loạn lạc rồi chạy loạn, tản
cư. Có khi chạy giặc gần thì chun vô đám lác, đám sậy khuất mình trong lùm cây
bụi cỏ trên miệt Cái Nai, Cái Hố; còn tản cư xa thì cả nhà bồng chống nhau xuống
xuồng, xuống ghe hè nhau bơi chèo về những nơi an bình hơn, đành bỏ lại nơi chôn
nhau cắt rún cảnh nhà hoang vườn trống. Nhớ có lần tía má tôi đã tản cư qua Cái
Sắn, nơi nhà của bác ba tôi, mà mỗi chiều nào anh chị em chúng tôi cũng cùng
nhau giăng mùng dưới vườn tre để ngủ.. Trên ngọn tre thì các loài chim, cò, vạc,
diệc về ngủ đầy vườn, do vậy mà cảnh cứt chim rơi trên nóc mùng hằng đêm là việc
hết sức bình thường. Sở dĩ có cảnh ngủ ngoài bờ tre như vậy vì nhà bác ba tôi
nghèo, nghèo đến độ nói là nhà nhưng tình thiệt chỉ như cái chòi nho nhỏ cất bên
mé lộ xe hơi đường đi Cần Thơ - Rạch Giá. Cứ mỗi sáng chúng tôi cùng nhau lên đồng
mót lúa, những bông lúa rớt ngoài đồng hồi ấy rất nhiều nhưng ít có ai mót thành
ra việc mót lúa bông thật là dễ dàng như trẻ nhỏ chơi đùa ngoài đồng ruộng. Trưa
trưa, mấy chị tôi thường đi ra những miếng ruộng bỏ hoang chặt bố rừng về phơi
khô làm củi nấu cơm, nhưng cơm ngon nhứt lúc bấy giờ không gì bằng nấu với lửa
rơm cháy hoả- hào hoả- đế…Chiều chiều nhìn về phía Núi Sập, Ba Thê xa xa về hướng
Tây Nam với dáng núi in một màu xanh đậm nơi chân trời, lòng trẻ thơ chúng tôi
thấy núi quả là cái gì hung vĩ mà thâm u bí hiểm vô cùng… Hồi ấy loạn lạc, nhiều
phe phái kình chống nhau nên cảnh thằng chổng chết trôi tấp vô đống chà dưới bến
nhà bác ba tôi, thì ôi thôi, ngày nào cũng có vài ba xác trôi sông như vậy. Và
cứ mỗi lần có thây ma tấp vô đống chà, bọn con nít chúng tôi được người lớn cấm
không cho xem vì sợ tối ngủ bị giựt mình do hồn ma hốt hồn. Giờ nhắc lại cảnh
thây ma chết trôi cách nay sáu bảy mươi năm vùng sông cái Hậu Giang, rạch Cái Sắn
và nhiều bến sông khác thuộc miệt vườn nghe còn thấy ớn một thời kỳ!
Tản
cư như vậy cũng chưa yên. Sau này chiếc ghe cui của Tía má tôi còn chèo ngược lên
hướng Long Xuyên và rồi cặp bến nhà thương Long Xuyên lánh nạn. Lúc bấy giờ Tây
còn nhiều và sắp nhỏ tụi tôi thì rất sợ Tây. Ở bến nhà thương Long Xuyên độ vài
ba tháng, các anh chị tôi người bán mía ghim, người bán cốc ổi quanh nhà thương
lây lất qua ngày. Biết tình trạng gia đình tôi tản cư như vậy, nên cậu hai tôi
cho mấy anh con cậu tôi xuống rước gia đình tôi lên Mặc Cần Dưng tá túc vì đây
là quê ngoại. Gia đình tôi được mấy cậu chia cho ruộng đất, bò trâu để làm ruộng
kiếm lúa gạo sống qua ngày. Vậy mà rồi gia đình tôi tá túc với gia đình của cậu
mợ tôi cũng trên mười hai năm trời, mãi cho tới năm 1955 mới hồi cư về lại làng
Tân Bình cũ, nơi quê nội tôi hồi trước với cảnh “lối xưa bít ngõ, thềm rêu
phủ, nhà trống, vườn hoang cỏ mịt mù..”
Những
ngày tản cư và tá túc bên ngoại vậy mà rồi có lúc lại phải tản cư lai rai vài
ba ngày, thường chạy lên miệt Năng Gù thuộc xã Bình Thủy khi có tàu Tây vô hoặc
những lúc vùng Mặc Cần Dưng không được yên vì có vài nhóm thường lén vô làng bắt
cóc dân quê có chút đỉnh lúa thóc đòi chuộc tiền. Thường thường nhóm người chuyên
bắt cóc này ở rất xa, miệt Luỳnh-Quỳnh, Láng Linh, Kinh Tám Ngàn hoặc vùng Tri
Tôn, Bảy Núi… Những năm tháng tản cư ấy, tôi còn nhớ vùng Vĩnh Hanh, Cần Đăng,
Hang Tra, Trà Kiết, Măc Cần Dưng dân chúng sống dưới thời của các lãnh chúa một
vùng. Bình hòa có các đại đội 82, 116, 126 hùng cứ vùng mương Hội Đồng; còn Vĩnh
Hanh, Hang Tra, Trà Kiết thì có Đại Đội 91 cai quản. Hồi nhỏ mỗi lần đi học qua
các đồn bót này chúng tôi sợ xanh mặt
Nhưng
cũng nhờ sống bên ngoại những lúc ấu thơ ấy mà anh em tôi được học lớp Năm với
thầy Cầm, lớp Tư với thầy Ngân, lớp Ba với thầy Trang, lớp Nhì với thầy Nhì, và
lớp Nhứt với thầy Nguyễn Văn Chánh kiêm Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Bổ Túc Hổn
Hợp Bình Hòa… Các vị ân sư mà tôi vừa kể dù mỗi thầy tánh ý khác nhau, khó dễ
khác nhau nhưng chung qui các thầy cũng nhằm mục đích khai mở tâm trí non nớt của
học trò làng quê Bình Hòa ngày xa xưa ấy để các học trò chúng tôi sau này biết
chút ít chữ nghĩa với đời. Cũng chính nhờ thời kỳ tản cư này và với những mùa lúa
mùa của tía má tôi trên những cánh đồng bên quê ngoại đằng đẵng mười hai năm
trời như vậy mà tôi biết thế nào là một đứa bé thật sự là người nhà quê khi lớn
lên sau này và ngay như khi ở tuổi già hôm nay, tôi vẫn cảm nhận ra rằng cái chất
chân quê của mình ngày nay nó thấm đượm từ những năm tháng đồng khô nắng gắt cũng
như mưa dầm nước lên qua những mùa màng vùng lúa mùa Mặc Cần Dưng ngày xa xưa sáu
bảy mươi năm ấy…Tôi lúc nào cũng chìm vào đó, và được vây lấp bởi những ký ức của
thời kỳ ấu thơ đó với biết bao nhung nhớ về một đoạn đời. Và cũng chính nhờ lúc
còn nhỏ chạy giỡn trên những ruộng đồng vùng lúa mùa ấy đã cho tôi chất liệu để
viết về những mùa màng ngày cũ với nỗi nhớ thiết tha biết bao…
Sau
này, khi về lại làng Tân Bình, lúc bấy giờ chưa có lúa thần nông, nên ruộng lúa
mùa vùng Tân Bình quê tôi cũng giúp cho tôi có một đời sống chơn chất quê mùa
như khi còn trên quê ngoại. Lúa vẩn sạ, nước tới mùa thì bò lên đồng để tháng tám,
tháng chín nước ngập đầy đồng, tháng mười cá đầy trong nước và tháng mười một âm
lịch cá lại tìm đường nước, ngọn mương, ngọn rạch để trở về sông. Những chu kỳ ấy
dường như quá quen thuộc đến độ dân quê làng tôi ai ai cũng biết vào lúc nào mình
sinh sống bằng cách nào, vào mùa nào mình sắm câu lưới loại nào và cái cảnh khói
nấu cơm chiều, thả bò cho ăn lúc trời còn tờ mờ hơi sương như một sắp đặt sẵn tự
lúc nào, rất tự nhiên mà ung dung hít thở cùng thiên nhiên cái tinh khiết của
trời đất giao hòa…
Trở
về làng sau những năm tháng tản cư là một bắt đầu lại của người lớn với những
khai mở lại ruộng hoang cỏ dại, bồi đấp lại những vườn tược hoang phế một thời,
chăm nom lại những ao hồ đầy cá he, cá dảnh, cá mè lúc nào cũng lên giỡn mồi lội
xanh mặt nước của những năm tháng cũ trước lúc tản cư. Còn bọn trẻ nhỏ nhà quê
như chúng tôi có đứa thích theo nghề làm ruộng của cha ông để vui với bầy trâu,
đàn bò cùng cái cày thong dong theo từng đàn cò trắng bay rợp trên những cánh đồng
xanh lúa tốt rì rào đong đưa theo từng ngọn gió mát trong lành. Ngoài ra, còn có
đứa tiếp tục rời làng ra quận, rồi lên tỉnh học tiếp các lớp trên để góp nhặt
thêm vài ba chữ nghĩa hầu góp phần làm cho làng quê vốn lấy Minh Tâm Bửu Giám làm
chánh nay có thêm con em biết thêm được vài ba chữ quốc ngữ nữa vậy.
Tôi
vốn là một trong vài ba đức bé nhà quê ấy, nhưng cái học của tôi thì cũng chẳng
đi tới đâu vì mới hồi cư về nên nhà còn rất nghèo. Thành ra khi lên tỉnh học, tôi
lại phải cơm gạo mang theo vừa nấu cơm ăn, vừa học. Có nhiều bận tôi lại phải
ngủ giữ trâu ban đêm nơi cái chòi trâu bên vệ đường xe chạy và đêm đêm học bài
dưới ánh đèn điện lờ mờ bên vệ đường nơi ngã tư đèn bốn ngọn rẽ về bốn hướng núi
Sâp, Long Xuyên, Cần Thơ, Châu Đốc.
Một
trong những ngôi trường mà tôi đã theo học có trường Trung học Thoại Ngọc Hầu đã
ghi khắc trong tôi nhiều nỗi nhớ. Theo nhà văn Nguyễn Hiến Lê thì trường được ông
tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ thành lập, và theo lời mời của ông Nguyễn Ngọc Thơ vào
tháng 11 năm 1950 chính Nguyễn Hiến Lê đã nhận dạy các môn Pháp văn, Việt văn,
Đức dục và về sau thêm môn Hán văn nữa (1). Theo Tự Điển Bách Khoa toàn thư Wikipedia
tiếng Việt thì :” Ngày 12 tháng 11 năm 1948, với sự cho phép của tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ, trường trung học
mang tên Collège de Long Xuyên khai giảng khóa đầu tiên, gồm 76 học sinh. Tháng
2 năm 1952, trường được đổi tên thành Trường Trung
học Thoại Ngọc Hầu.”(2).

Với
bức ảnh chụp bên trên, mà tôi còn giữ được, gồm mười lớp học, đó là dãy trường
nằm về phía đường Gia Long, quay lưng về hướng lên Toà Hành Chánh tỉnh. Ngoài
ra, trường còn một dãy giống y như vậy nằm đối diện với dãy này mà giữa sân cỏ
là cột cờ với bồn bông mười giờ luôn tươi tốt, lưng quay hướng đường Đinh tiên
Hoàng cặp bờ sông Long Xuyên với những hàng cây nín, cây dái ngựa già nua cao
chót vót rì rào theo những ngọn gió lùa từ bờ sông lướt qua những tàn lá um
tùm. Ngay sau cổng chánh hướng về đường Gia Long, hồi ấy có một dãy nhà trệt
quay mặt về phía đường Gia Long, nối liền giữa hai dãy lầu chánh làm lớp học được
dùng làm văn phòng hiệu trưởng, phòng giám học, phòng giám thị và phòng giáo
sư. Trường tôi trải qua nhiều thầy Hiệu Trưởng và những năm tôi theo học tại đây
tôi nhớ các thầy Hiệu Trưởng lúc nào cũng hiền từ và nhân cách vô cùng mẫu mực
như thầy Nguyễn Văn Kế, thầy Hồ Văn Kỳ Trân, thấy Từ Chấn Sâm… Tôi còn nhớ các
vị ân sư một thời trung học của tôi qua các bài viết “Nhớ thầy cũ”, “Gặp lại thầy
cũ” và tôi còn nhớ ở những năm học nầy tôi có vài bạn học rất thân, nay thì vài
người đã không còn trên cõi đời này như các anh Nguyễn Văn Tưởng quê ở Mỹ Luông,
quận Chợ Mới, anh Nguyễn Văn Chà quê ở làng Nhơn Mỹ, quận Chợ Mới, cả hai anh mất
trước năm 1975 vì chiến tranh; anh Huỳnh Giáo Sư quê làng Bình Mỹ (Năng Gù) mới
mất mấy năm gần đây vì bịnh tim. Còn phần đông các bạn học khác, mãi tới hôm
nay dường như tôi chưa có lần nào gặp lại bất cứ bạn nào sau hơn bốn mươi bảy năm
xa mái trường thân ái ấy! Nhớ về trường cũ, chợt dưng tôi lại nhớ câu thơ của
nhà văn Trần Hoài Thư mà lòng mang mang nỗi nhớ :
“Ngôi
trường cũ có bao nhiêu ô cửa
Để
tôi về đếm những đám mây
Tôi
sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ
Những
con chim từ xa vắng lạc bầy.
Tôi
sẽ đứng như một người thiên cổ
Lớp
học buồn, như từ cõi cô đơn
Thầy
ngồi đó, đôi vai gầy tóc bạc
Chút
ngậm ngùi, cơn nắng đọng hoàng hôn…”(3)
Và
rồi, qua những lớp học này, lớp học khác mà tuổi đời cũng xua nhau chạy như không
dừng lại để các đứa bé thế hệ tôi vào đời một cách quá nhanh đến độ chúng tôi không
kịp khước từ hay chọn lựa. Do vậy, vào những năm của thập niên 1960, 1970 là những
năm tháng làng quê tôi có chiến tranh trở lại viếng làng. Những đứa bé nhà quê
thời tản cư thập niên 1940 nay lại xa quê vì binh lửa nữa. Tôi vào đời bằng những
ngày tháng xa nhà, xa quê, xa làng và lang bạt khắp mọi miền vào lúc ấy. Từ Sài
Gòn, rồi xuống Cần Thơ, lên Pleiku, KonTum, ra Nha Trang, rồi lại trở lại Sài Gòn
như một vòng khép kín một thuở thanh niên ngày ấy.

Hình chụp bên bờ Biển Hồ (Pleiku), năm 1969.


Nha Trang, năm 1970 Tháp Chàm
Phan Rang, năm 1970


Cầu Xóm Bóng, Nha Trang, 1970 Cam Ranh, năm 1970


Chợ hoa Nguyễn Huệ, Sài Gòn, Tết 1971
Mãi
cho đến cuối tháng Tư – 1975, đúng là chặng dừng lại một quãng đời, một thay đổi
bất chợt vào lúc ấy và là một lối mở cho những năm tháng hiện tại hôm nay nơi
chốn xa xăm này. Giai đoạn này của cuộc đời, nhất là cuộc đời tôi, tôi không lấy
gì làm vinh mà cũng chẳng lấy gì làm nhục. Bởi lẽ tôi đã làm tròn trách vụ của
một công dân thời ly loạn và tôi biết chắc một điều là lúc nào tôi cũng biết trân
trọng đời sống này, dù hôm qua hay hôm nay, và cuộc sống này luôn luôn có ý nghĩa
tự chính nó…
Kể
từ những ngày sau tháng Tư-1975, tôi có cả thảy mười bảy năm sống bằng chính sức
lực của mình. Một thời thanh niên tôi dùng sức lực ấy cho giai đoạn này nhiều
nhất. Những năm tháng phải dùng len đào kinh, đào mương, phải dùng búa, dùng
dao phá rừng, phải dùng phãng phát cỏ và phải dùng tay cấy lúa trên những miếng
rừng tràm, rừng ráng làm chổi vừa mới phá ngày trước còn đầy rể cây nhọn chi
chit lú lên từ mặt đất . Tôi cũng biết xới đất ủ nước cho mềm để in gạch. Tôi cũng
biết cách xây lò gạch bằng cát với bùn non . Vậy mà rồi cũng mất bảy năm trường
với nhiều mệt mỏi! Nhưng với mười năm còn lại trên những cánh đồng lúa nơi làng
quê cũ, dù có cực vì những mùa màng, dù có lo về những gió mưa bất chợt, dù có
sợ vì những bão tố phong ba nơi vùng quê gió mùa vào những mùa gió chướng, tôi
vẫn nhận đây là giai đoạn ý nghĩa nhật của đời sống qua những ngày mùa nơi vùng
làng quê heo hút ấy. Nếu ai có hỏi giai đoạn nào tôi mê nhất trong đời tôi? Không
phải suy nghĩ gì, tôi sẽ nói rằng tôi mê mười năm chìm vào những cánh đồng lúa
chín vàng sau thời kỳ giã từ rừng tràm về lại ruộng vườn vùng mình.

Giăng lưới cá rô tháng 9 âm lịch, cánh đồngTân Bình.
Thử
hỏi, tôi làm sao quên được những mùa bắt cá tháng nước lên! Làm sao tôi quên được
những đêm trăng ngủ giữa cánh đồng bên đống lúa vừa mới ra hột vào buổi chiều lòng
vui vui sau một mùa khổ cực ! Làm sao tôi quên được tiếng gió rít nơi bờ tre
khi những con chim gõ kiến cố gượng dậy qua một nhánh tre gai đong đưa theo tiếng
gió ! Làm sao tôi quên được những lúc mệt gần như ngất ngư với những vạt đất vừa
mới bừa trục cho nhừ để bắt đầu một mùa sạ lúa mới sau này ! Tôi nhớ lắm những
lúc cá lên đồng rồi cá lội ra sông như một chu kỳ của những mùa nước lên rồi nước
giựt ! Nhiều và nhiều lắm những vui lo lẫn lộn của những năm tháng trở về làng
với mười năm an phận thủ thường ấy! Đây quả thật là tài sản của đời tôi và chính
những năm tháng lăn lóc giữa những mùa màng ấy làm nên cái phong cách nhà quê nơi
tôi mãi mãi cho tới hôm nay và cả trong những năm tháng sau này của đời sống riêng
tư của tôi nữa. Thế mới biết mỗi con người có một thời để nuôi lớn mình là thế!
Giai
đoạn gần nhất của hôm nay, kể cũng đã khá dài với mười tám năm sống nơi chốn này,
tôi không mong mỏi gì hơn với đời sống như hiện tại. Mỗi ngày tôi có thể ngồi kể
cho bạn qua vài ba dòng chữ về những cánh đồng nhà quê nơi làng quê mà tôi đã rời
xa nó . Tôi viết như kể chuyện đời xưa cùng bạn về những mùa màng ngày cũ. Tôi
viết vì tôi nhớ cái thuở lúa mùa còn đang là những mùa màng chính yếu của vùng đất
phương Nam ngày xa xưa đó như không ai có thể dời đổi được. Tôi không có ý làm
văn chương học thuật gì và tôi cũng không có khả năng làm được những việc mang
tính cao sang ấy, nên bạn đừng hy vọng tìm ở những bài viết đó dáng vẻ của văn
chương học thuật. Viết với tôi như một nỗi niềm của một người nhà quê nhớ quê.
Chỉ có vậy và đơn giản chỉ có vậy.
Hôm
nay đây, lại thêm một năm nữa sắp trôi qua và Tết lại về gần, tôi ngồi nhớ lại
những tháng ngày xa xưa cũ, trong đó có những năm tháng của thời cận đại, lòng
tôi thấy xót xa cho chính mình với ý nghĩ nhiều lúc mình chẳng làm nên điều gì hữu
ích. Thế hệ những người lớn tuổi hơn tôi ngay như nơi làng quê tôi, những người
có một thời họ đố kỵ nhau, thù nghịch nhau đến đổi không muốn nhìn mặt nhau, nay
phần lớn dường như họ đã không còn trên cõi đời này. Những nhà Nho mẫu mực lớp
trước, mấy năm sau này còn được vài vị, nhưng nay thì đã trở về với cát bụi hết
rồi, chẳng còn ai. Thế hệ tôi nay cũng đã ở tuổi xế chiều với bóng hoàng hôn vàng
hiu hắt.

Hình chụp tại một trại nuôi gà đẻ trứng nơi vùng Tây Bắc
Texas, tháng 12-2009
Thế
hệ con cháu tôi thì còn quá trẻ và tương lai nào cũng vậy, bao giờ cũng do thế
hệ trẻ họ làm nên tương lai cho chính họ sau này…



Tuổi trẻ hôm nay và tương lai của con cháu họ
Do
vậy, gần bảy mươi năm qua, những lãnh chúa của một vùng vào những năm thập niên
1930, 1940, 1950, những dư âm của một thời binh lửa 1960, 1970, những cơ cực của
một buổi trở về và những gian truân của một mùa gió bão rồi ra chỉ còn lại những
tiếng thở dài với những mồ chôn lây lất bên con đường làng lầy lội cùng lớp lớp
cỏ dại mấp mé bên thềm những nấm mồ hiu quạnh ấy…Cỏ đôi lúc còn muốn lấn lướt
con người là vậy ! Được và mất những gì với mấy chữ sống chết, hơn thua !?!
Houston, vào những ngày giáp Tết Canh Dần, 2010
Phụ chú:
1/Hồi Ký Nguyễn Hiến
Lê, tập II, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ, năm 1989, trang 32.
2/
Theo Tự Điển Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia
3/
Trích bài thơ Ô Cửa trong thi phẩm Ô Cửa của Trần Hoài Thư do Thư Ấn Quán ấn
hành, Hoa Kỳ, năm 2004, trang 14.