Năm Canh Dần 2010 Thất Sơn Châu Đốc Xin Kính Chúc Thầy Cô và Quí Bạn An Khang Thịnh Vượng

Trang Chính    Hình Ảnh    Bút Ký    Truyện Ngắn    Truyện Thật Ngắn    TG & Tác Phẩm    Thơ    Di Tích Lịch Sử và Danh Nhân    Đời Sống: Phong Tục & Khoa Học    Sân Khấu/Nghệ Thuật    Hộp Thư    Nhắn Tin    Tin Tức Thân Hữu    Tin Vui    SK và Gia Đình    Lá Lành Đùm Lá Rách    Vui Cười    Ẩm Thực/Gia Chánh    Cùng Tác Giả   
Xuân Bính Tuất 2006    Xuân Đinh Hợi 2007    Xuân Mậu Tý 2008    Xuân Kỷ Sửu 2009    Trang Xuân   



Lương Thư Trung

 

Gần giáp Tết, nhìn lại những tháng ngày qua

 

Dường như trong kiếp người, ai ai cũng có một lúc nào đó nhìn về những năm tháng cũ, những năm tháng làm nên đời sống mình, làm nên suy nghĩ mình, và nhất là những ghi dấu về những bến bờ trong dòng sông đời trôi mãi như những nỗi nhớ khôn nguôi và chính những nỗi nhớ ấy vào những ngày gần Tết ở vào tuổi ngoài sáu mươi, bảy mươi như những nỗi niềm làm tâm trí mình luôn gẫm suy và lưu luyến mãi…Là một con người sống trong trời đất này như mọi người, tôi cũng không  ra ngoài cái thông lệ ấy được và hôm nay ở tuổi ngoài sáu mươi như những vạt nắng chiều hiu hắt bóng, tôi không làm sao không nhớ về những bóng dáng mình qua những ngày tháng qua đi sáu bảy mươi năm về trước được !

 

Nhớ lại thời ấu thơ, tôi sống nơi làng quê tôi vùng Tân Bình, Lấp Vò, Long Xuyên cũ. Những năm tháng bé bỏng ấy làng quê tôi lâm vào cảnh loạn lạc rồi chạy loạn, tản cư. Có khi chạy giặc gần thì chun vô đám lác, đám sậy khuất mình trong lùm cây bụi cỏ trên miệt Cái Nai, Cái Hố; còn tản cư xa thì cả nhà bồng chống nhau xuống xuồng, xuống ghe hè nhau bơi chèo về những nơi an bình hơn, đành bỏ lại nơi chôn nhau cắt rún cảnh nhà hoang vườn trống.  Nhớ có lần tía má tôi đã tản cư qua Cái Sắn, nơi nhà của bác ba tôi, mà mỗi chiều nào anh chị em chúng tôi cũng cùng nhau giăng mùng dưới vườn tre để ngủ.. Trên ngọn tre thì các loài chim, cò, vạc, diệc về ngủ đầy vườn, do vậy mà cảnh cứt chim rơi trên nóc mùng hằng đêm là việc hết sức bình thường. Sở dĩ có cảnh ngủ ngoài bờ tre như vậy vì nhà bác ba tôi nghèo, nghèo đến độ nói là nhà nhưng tình thiệt chỉ như cái chòi nho nhỏ cất bên mé lộ xe hơi đường đi Cần Thơ - Rạch Giá. Cứ mỗi sáng chúng tôi cùng nhau lên đồng mót lúa, những bông lúa rớt ngoài đồng hồi ấy rất nhiều nhưng ít có ai mót thành ra việc mót lúa bông thật là dễ dàng như trẻ nhỏ chơi đùa ngoài đồng ruộng. Trưa trưa, mấy chị tôi thường đi ra những miếng ruộng bỏ hoang chặt bố rừng về phơi khô làm củi nấu cơm, nhưng cơm ngon nhứt lúc bấy giờ không gì bằng nấu với lửa rơm cháy hoả- hào hoả- đế…Chiều chiều nhìn về phía Núi Sập, Ba Thê xa xa về hướng Tây Nam với dáng núi in một màu xanh đậm nơi chân trời, lòng trẻ thơ chúng tôi thấy núi quả là cái gì hung vĩ mà thâm u bí hiểm vô cùng… Hồi ấy loạn lạc, nhiều phe phái kình chống nhau nên cảnh thằng chổng chết trôi tấp vô đống chà dưới bến nhà bác ba tôi, thì ôi thôi, ngày nào cũng có vài ba xác trôi sông như vậy. Và cứ mỗi lần có thây ma tấp vô đống chà, bọn con nít chúng tôi được người lớn cấm không cho xem vì sợ tối ngủ bị giựt mình do hồn ma hốt hồn. Giờ nhắc lại cảnh thây ma chết trôi cách nay sáu bảy mươi năm vùng sông cái Hậu Giang, rạch Cái Sắn và nhiều bến sông khác thuộc miệt vườn nghe còn thấy ớn một thời kỳ!

 

Tản cư như vậy cũng chưa yên. Sau này chiếc ghe cui của Tía má tôi còn chèo ngược lên hướng Long Xuyên và rồi cặp bến nhà thương Long Xuyên lánh nạn. Lúc bấy giờ Tây còn nhiều và sắp nhỏ tụi tôi thì rất sợ Tây. Ở bến nhà thương Long Xuyên độ vài ba tháng, các anh chị tôi người bán mía ghim, người bán cốc ổi quanh nhà thương lây lất qua ngày. Biết tình trạng gia đình tôi tản cư như vậy, nên  cậu hai tôi cho mấy anh con cậu tôi xuống rước gia đình tôi lên Mặc Cần Dưng tá túc vì đây là quê ngoại. Gia đình tôi được mấy cậu chia cho ruộng đất, bò trâu để làm ruộng kiếm lúa gạo sống qua ngày. Vậy mà rồi gia đình tôi tá túc với gia đình của cậu mợ tôi cũng trên mười hai năm trời, mãi cho tới năm 1955 mới hồi cư về lại làng Tân Bình cũ, nơi quê nội tôi hồi trước với cảnh “lối xưa bít ngõ, thềm rêu phủ, nhà trống, vườn hoang cỏ mịt mù..”

 

Những ngày tản cư và tá túc bên ngoại vậy mà rồi có lúc lại phải tản cư lai rai vài ba ngày, thường chạy lên miệt Năng Gù thuộc xã Bình Thủy khi có tàu Tây vô hoặc những lúc vùng Mặc Cần Dưng không được yên vì có vài nhóm thường lén vô làng bắt cóc dân quê có chút đỉnh lúa thóc đòi chuộc tiền. Thường thường nhóm người chuyên bắt cóc này ở rất xa, miệt Luỳnh-Quỳnh, Láng Linh, Kinh Tám Ngàn hoặc vùng Tri Tôn, Bảy Núi… Những năm tháng tản cư ấy, tôi còn nhớ vùng Vĩnh Hanh, Cần Đăng, Hang Tra, Trà Kiết, Măc Cần Dưng dân chúng sống dưới thời của các lãnh chúa một vùng. Bình hòa có các đại đội 82, 116, 126 hùng cứ vùng mương Hội Đồng; còn Vĩnh Hanh, Hang Tra, Trà Kiết thì có Đại Đội 91 cai quản. Hồi nhỏ mỗi lần đi học qua các đồn bót này chúng tôi sợ xanh mặt

 

Nhưng cũng nhờ sống bên ngoại những lúc ấu thơ ấy mà anh em tôi được học lớp Năm với thầy Cầm, lớp Tư với thầy Ngân, lớp Ba với thầy Trang, lớp Nhì với thầy Nhì, và lớp Nhứt với thầy Nguyễn Văn Chánh kiêm Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Bổ Túc Hổn Hợp Bình Hòa… Các vị ân sư mà tôi vừa kể dù mỗi thầy tánh ý khác nhau, khó dễ khác nhau nhưng chung qui các thầy cũng nhằm mục đích khai mở tâm trí non nớt của học trò làng quê Bình Hòa ngày xa xưa ấy để các học trò chúng tôi sau này biết chút ít chữ nghĩa với đời. Cũng chính nhờ thời kỳ tản cư này và với những mùa lúa mùa  của tía má tôi trên những cánh đồng bên quê ngoại đằng đẵng mười hai năm trời như vậy mà tôi biết thế nào là một đứa bé thật sự là người nhà quê khi lớn lên sau này và ngay như khi ở tuổi già hôm nay, tôi vẫn cảm nhận ra rằng cái chất chân quê của mình ngày nay nó thấm đượm từ những năm tháng đồng khô nắng gắt cũng như mưa dầm nước lên qua những mùa màng vùng lúa mùa Mặc Cần Dưng ngày xa xưa sáu bảy mươi năm ấy…Tôi lúc nào cũng chìm vào đó, và được vây lấp bởi những ký ức của thời kỳ ấu thơ đó với biết bao nhung nhớ về một đoạn đời. Và cũng chính nhờ lúc còn nhỏ chạy giỡn trên những ruộng đồng vùng lúa mùa ấy đã cho tôi chất liệu để viết về những mùa màng ngày cũ với nỗi nhớ thiết tha biết bao…

 

Sau này, khi về lại làng Tân Bình, lúc bấy giờ chưa có lúa thần nông, nên ruộng lúa mùa vùng Tân Bình quê tôi cũng giúp cho tôi có một đời sống chơn chất quê mùa như khi còn trên quê ngoại. Lúa vẩn sạ, nước tới mùa thì bò lên đồng để tháng tám, tháng chín nước ngập đầy đồng, tháng mười cá đầy trong nước và tháng mười một âm lịch cá lại tìm đường nước, ngọn mương, ngọn rạch để trở về sông. Những chu kỳ ấy dường như quá quen thuộc đến độ dân quê làng tôi ai ai cũng biết vào lúc nào mình sinh sống bằng cách nào, vào mùa nào mình sắm câu lưới loại nào và cái cảnh khói nấu cơm chiều, thả bò cho ăn lúc trời còn tờ mờ hơi sương như một sắp đặt sẵn tự lúc nào, rất tự nhiên mà ung dung hít thở cùng thiên nhiên cái tinh khiết của trời đất giao hòa…

 

Trở về làng sau những năm tháng tản cư là một bắt đầu lại của người lớn với những khai mở lại ruộng hoang cỏ dại, bồi đấp lại những vườn tược hoang phế một thời, chăm nom lại những ao hồ đầy cá he, cá dảnh, cá mè lúc nào cũng lên giỡn mồi lội xanh mặt nước của những năm tháng cũ trước lúc tản cư. Còn bọn trẻ nhỏ nhà quê như chúng tôi có đứa thích theo nghề làm ruộng của cha ông để vui với bầy trâu, đàn bò cùng cái cày thong dong theo từng đàn cò trắng bay rợp trên những cánh đồng xanh lúa tốt rì rào đong đưa theo từng ngọn gió mát trong lành. Ngoài ra, còn có đứa tiếp tục rời làng ra quận, rồi lên tỉnh học tiếp các lớp trên để góp nhặt thêm vài ba chữ nghĩa hầu góp phần làm cho làng quê vốn lấy Minh Tâm Bửu Giám làm chánh nay có thêm con em biết thêm được vài ba chữ quốc ngữ nữa vậy.

 

Tôi vốn là một trong vài ba đức bé nhà quê ấy, nhưng cái học của tôi thì cũng chẳng đi tới đâu vì mới hồi cư về nên nhà còn rất nghèo. Thành ra khi lên tỉnh học, tôi lại phải cơm gạo mang theo vừa nấu cơm ăn, vừa học. Có nhiều bận tôi lại phải ngủ giữ trâu ban đêm nơi cái chòi trâu bên vệ đường xe chạy và đêm đêm học bài dưới ánh đèn điện lờ mờ bên vệ đường nơi ngã tư đèn bốn ngọn rẽ về bốn hướng  núi Sâp, Long Xuyên, Cần Thơ, Châu Đốc.

 

Một trong những ngôi trường mà tôi đã theo học có trường Trung học Thoại Ngọc Hầu đã ghi khắc trong tôi nhiều nỗi nhớ. Theo nhà văn Nguyễn Hiến Lê thì trường được ông tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ thành lập, và theo lời mời của ông Nguyễn Ngọc Thơ vào tháng 11 năm 1950 chính Nguyễn Hiến Lê đã nhận dạy các môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục và về sau thêm môn Hán văn nữa (1). Theo Tự Điển Bách Khoa toàn thư Wikipedia tiếng Việt thì :” Ngày 12 tháng 11 năm 1948, với sự cho phép của tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ, trường trung học mang tên Collège de Long Xuyên khai giảng khóa đầu tiên, gồm 76 học sinh. Tháng 2 năm 1952, trường được đổi tên thành Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu.”(2).  

 

Với bức ảnh chụp bên trên, mà tôi còn giữ được, gồm mười lớp học, đó là dãy trường nằm về phía đường Gia Long, quay lưng về hướng lên Toà Hành Chánh tỉnh. Ngoài ra, trường còn một dãy giống y như vậy nằm đối diện với dãy này mà giữa sân cỏ là cột cờ với bồn bông mười giờ luôn tươi tốt, lưng quay hướng đường Đinh tiên Hoàng cặp bờ sông Long Xuyên với những hàng cây nín, cây dái ngựa già nua cao chót vót rì rào theo những ngọn gió lùa từ bờ sông lướt qua những tàn lá um tùm. Ngay sau cổng chánh hướng về đường Gia Long, hồi ấy có một dãy nhà trệt quay mặt về phía đường Gia Long, nối liền giữa hai dãy lầu chánh làm lớp học được dùng làm văn phòng hiệu trưởng, phòng giám học, phòng giám thị và phòng giáo sư. Trường tôi trải qua nhiều thầy Hiệu Trưởng và những năm tôi theo học tại đây tôi nhớ các thầy Hiệu Trưởng lúc nào cũng hiền từ và nhân cách vô cùng mẫu mực như thầy Nguyễn Văn Kế, thầy Hồ Văn Kỳ Trân, thấy Từ Chấn Sâm… Tôi còn nhớ các vị ân sư một thời trung học của tôi qua các bài viết “Nhớ thầy cũ”, “Gặp lại thầy cũ” và tôi còn nhớ ở những năm học nầy tôi có vài bạn học rất thân, nay thì vài người đã không còn trên cõi đời này như các anh Nguyễn Văn Tưởng quê ở Mỹ Luông, quận Chợ Mới, anh Nguyễn Văn Chà quê ở làng Nhơn Mỹ, quận Chợ Mới, cả hai anh mất trước năm 1975 vì chiến tranh; anh Huỳnh Giáo Sư quê làng Bình Mỹ (Năng Gù) mới mất mấy năm gần đây vì bịnh tim. Còn phần đông các bạn học khác, mãi tới hôm nay dường như tôi chưa có lần nào gặp lại bất cứ bạn nào sau hơn bốn mươi bảy năm xa mái trường thân ái ấy! Nhớ về trường cũ, chợt dưng tôi lại nhớ câu thơ của nhà văn Trần Hoài Thư mà lòng mang mang nỗi nhớ :

 

“Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa

Để tôi về đếm những đám mây

Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ

Những con chim từ xa vắng lạc bầy.

 

Tôi sẽ đứng như một người thiên cổ

Lớp học buồn, như từ cõi cô đơn

Thầy ngồi đó, đôi vai gầy tóc bạc

Chút ngậm ngùi, cơn nắng đọng hoàng hôn…”(3)

 

Và rồi, qua những lớp học này, lớp học khác mà tuổi đời cũng xua nhau chạy như không dừng lại để các đứa bé thế hệ tôi vào đời một cách quá nhanh đến độ chúng tôi không kịp khước từ hay chọn lựa. Do vậy, vào những năm của thập niên 1960, 1970 là những năm tháng làng quê tôi có chiến tranh trở lại viếng làng. Những đứa bé nhà quê thời tản cư thập niên 1940 nay lại xa quê vì binh lửa nữa. Tôi vào đời bằng những ngày tháng xa nhà, xa quê, xa làng và lang bạt khắp mọi miền vào lúc ấy. Từ Sài Gòn, rồi xuống Cần Thơ, lên Pleiku, KonTum, ra Nha Trang, rồi lại trở lại Sài Gòn như một vòng khép kín một thuở thanh niên ngày ấy.

 

Scan10087

Hình chụp bên bờ Biển Hồ (Pleiku), năm 1969.

 

Scan10093Scan10096

Nha Trang, năm 1970                      Tháp Chàm Phan Rang, năm 1970

 

Scan10097Scan10098

Cầu Xóm Bóng, Nha Trang, 1970                          Cam Ranh, năm 1970

 

 

Scan10094

Scan10102

Chợ hoa Nguyễn Huệ, Sài Gòn, Tết 1971

 

Mãi cho đến cuối tháng Tư – 1975, đúng là chặng dừng lại một quãng đời, một thay đổi bất chợt vào lúc ấy và là một lối mở cho những năm tháng hiện tại hôm nay nơi chốn xa xăm này. Giai đoạn này của cuộc đời, nhất là cuộc đời tôi, tôi không lấy gì làm vinh mà cũng chẳng lấy gì làm nhục.  Bởi lẽ tôi đã làm tròn trách vụ của một công dân thời ly loạn và tôi biết chắc một điều là lúc nào tôi cũng biết trân trọng đời sống này, dù hôm qua hay hôm nay, và cuộc sống này luôn luôn có ý nghĩa tự chính nó…

 

Kể từ những ngày sau tháng Tư-1975, tôi có cả thảy mười bảy năm sống bằng chính sức lực của mình. Một thời thanh niên tôi dùng sức lực ấy cho giai đoạn này nhiều nhất. Những năm tháng phải dùng len đào kinh, đào mương, phải dùng búa, dùng dao phá rừng, phải dùng phãng phát cỏ và phải dùng tay cấy lúa trên những miếng rừng tràm, rừng ráng làm chổi vừa mới phá ngày trước còn đầy rể cây nhọn chi chit lú lên từ mặt đất . Tôi cũng biết xới đất ủ nước cho mềm để in gạch. Tôi cũng biết cách xây lò gạch bằng cát với bùn non . Vậy mà rồi cũng mất bảy năm trường với nhiều mệt mỏi! Nhưng với mười năm còn lại trên những cánh đồng lúa nơi làng quê cũ, dù có cực vì những mùa màng, dù có lo về những gió mưa bất chợt, dù có sợ vì những bão tố phong ba  nơi vùng quê gió mùa vào những mùa gió chướng, tôi vẫn nhận đây là giai đoạn ý nghĩa nhật của đời sống qua những ngày mùa nơi vùng làng quê heo hút ấy. Nếu ai có hỏi giai đoạn nào tôi mê nhất trong đời tôi? Không phải suy nghĩ gì, tôi sẽ nói rằng tôi mê mười năm chìm vào những cánh đồng lúa chín vàng sau thời kỳ giã từ rừng tràm về lại ruộng vườn vùng mình.

Scan10037

Giăng lưới cá rô tháng 9 âm lịch, cánh đồngTân Bình.

 

Thử hỏi, tôi làm sao quên được những mùa bắt cá tháng nước lên! Làm sao tôi quên được những đêm trăng ngủ giữa cánh đồng bên đống lúa vừa mới ra hột vào buổi chiều lòng vui vui sau một mùa khổ cực ! Làm sao tôi quên được tiếng gió rít nơi bờ tre khi những con chim gõ kiến cố gượng dậy qua một nhánh tre gai đong đưa theo tiếng gió ! Làm sao tôi quên được những lúc mệt gần như ngất ngư với những vạt đất vừa mới bừa trục cho nhừ để bắt đầu một mùa sạ lúa mới sau này ! Tôi nhớ lắm những lúc cá lên đồng rồi cá lội ra sông như một chu kỳ của những mùa nước lên rồi nước giựt ! Nhiều và nhiều lắm những vui lo lẫn lộn của những năm tháng trở về làng với mười năm an phận thủ thường ấy! Đây quả thật là tài sản của đời tôi và chính những năm tháng lăn lóc giữa những mùa màng ấy làm nên cái phong cách nhà quê nơi tôi mãi mãi cho tới hôm nay và cả trong những năm tháng sau này của đời sống riêng tư của tôi nữa. Thế mới biết mỗi con người có một thời để nuôi lớn mình là thế!

 

Giai đoạn gần nhất của hôm nay, kể cũng đã khá dài với mười tám năm sống nơi chốn này, tôi không mong mỏi gì hơn với đời sống như hiện tại. Mỗi ngày tôi có thể ngồi kể cho bạn qua vài ba dòng chữ về những cánh đồng nhà quê nơi làng quê mà tôi đã rời xa nó . Tôi viết như kể chuyện đời xưa cùng bạn về những mùa màng ngày cũ. Tôi viết vì tôi nhớ cái thuở lúa mùa còn đang là những mùa màng chính yếu của vùng đất phương Nam ngày xa xưa đó như không ai có thể dời đổi được. Tôi không có ý làm văn chương học thuật gì và tôi cũng không có khả năng làm được những việc mang tính cao sang ấy, nên bạn đừng hy vọng tìm ở những bài viết đó dáng vẻ của văn chương học thuật. Viết với tôi như một nỗi niềm của một người nhà quê nhớ quê. Chỉ có vậy và đơn giản chỉ có vậy.

 

 

Hôm nay đây, lại thêm một năm nữa sắp trôi qua và Tết lại về gần, tôi ngồi nhớ lại những tháng ngày xa xưa cũ, trong đó có những năm tháng của thời cận đại, lòng tôi thấy xót xa cho chính mình với ý nghĩ nhiều lúc mình chẳng làm nên điều gì hữu ích. Thế hệ những người lớn tuổi hơn tôi ngay như nơi làng quê tôi, những người có một thời họ đố kỵ nhau, thù nghịch nhau đến đổi không muốn nhìn mặt nhau, nay phần lớn dường như họ đã không còn trên cõi đời này. Những nhà Nho mẫu mực lớp trước, mấy năm sau này còn được vài vị, nhưng nay thì đã trở về với cát bụi hết rồi, chẳng còn ai. Thế hệ tôi nay cũng đã ở tuổi xế chiều với bóng hoàng hôn vàng hiu hắt.

 

Scan10044

Hình chụp tại một trại nuôi gà đẻ trứng nơi vùng Tây Bắc Texas, tháng 12-2009

 

 

Thế hệ con cháu tôi thì còn quá trẻ và tương lai nào cũng vậy, bao giờ cũng do thế hệ trẻ họ làm nên tương lai cho chính họ sau này…

 

 

Scan10052

 

phuongmai 1phuong mai 2

Tuổi trẻ hôm nay và tương lai của con cháu họ

 

 

Do vậy, gần bảy mươi năm qua, những lãnh chúa của một vùng vào những năm thập niên 1930, 1940, 1950, những dư âm của một thời binh lửa 1960, 1970, những cơ cực của một buổi trở về và những gian truân của một mùa gió bão rồi ra chỉ còn lại những tiếng thở dài với những mồ chôn lây lất bên con đường làng lầy lội cùng lớp lớp cỏ dại mấp mé bên thềm những nấm mồ hiu quạnh ấy…Cỏ đôi lúc còn muốn lấn lướt con người là vậy !  Được và mất những gì với mấy chữ sống chết, hơn thua !?!

 

 

Houston, vào những ngày giáp Tết Canh Dần, 2010

 

 Phụ chú:

1/Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê, tập II, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ, năm 1989, trang 32.

2/ Theo Tự Điển Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia

3/ Trích bài thơ Ô Cửa trong thi phẩm Ô Cửa của Trần Hoài Thư do Thư Ấn Quán ấn hành, Hoa Kỳ, năm 2004, trang 14.