Lương Thư Trung
Người đọc và Người viết
Riêng tặng các bạn
tôi, những người đọc thầm lặng.
Là một người thích đọc sách, tôi cứ tự hỏi mình là ai? Một câu hỏi hết sức giản
dị, thế mà nhiều lúc tự mình, mình không có lời giải đáp nào cho thật gọn và vừa
lòng, bởi nó không nói hết nỗi trăn trở về một sở thích do đời sống mang lại
cho một người bình thường như mình, vốn học không nhiều, tiếng Tây tiếng u
không rành, sanh ra rồi hoà quyện vào đời sống ruộng rẫy quê mùa và sống nhiều
bằng chính cái chất quê làm thành những tình cảm nồng nàn, thương dòng kinh,
con rạch, khúc sông theo con nước lớn nước ròng mỗi ngày, thương cánh cò trắng
mỗi chiều về ngủ lại trên các đọt tre làng, thương mùa nước ngập qua bao lần
mùa gió chướng vườn cây chìm vào biển nước bao la làm cả một vùng quê vàng xơ
xác và nhiều lắm những tình cảm khác dường như ấp ủ tha thiết lắm và bị các tác
giả cho rằng chính cái lớp người đọc mang"tính đại chúng" ấy là
"kẻ thù của văn chương"[1]!
Ngoài ra, trên các tạp chí văn chương, các tác giả không quên phân chia lớp người
đọc chúng tôi ra làm hai loại: "cảm tính" và "lý tính", một
cách nhìn người đọc với nhiều kỳ thị và bỉ thử. Cách nào đó hạng người đọc do
"cảm tính" là hạng bình dân ít học, đọc sách chỉ thoả mãn cái rung động
của trái tim, của cõi lòng và tâm hồn bằng những nhạy cảm của một con người
bình thường mà thôi. Còn hạng người đọc "lý tính" lại được các tác giả
nể trọng hơn vì các nhà ấy cứ mường tượng giới người đọc này có học rộng hơn,
biết lẽ hơn lẽ thiệt trong cách dàn dựng tác phẩm theo thời thượng và theo lối
cách tân mới mẻ hơn, với các triết lý, tư tưởng thâm thâm viễn viễn được gửi gắm
trong đó chứ không chỉ ê a theo cái vốn cũ ngàn năm lỗi thời do cái học thiên
niên vạn đại còn rớt lại...
Nhắc lại sự phân biệt đối xử ấy, có lần chúng tôi lại đọc được một nhà kinh điển
dùng toán học và khoa học tiến bộ đem truyện Kiều của Nguyễn Du ra mổ như làm
thịt một con bò, nào là trong Kiều có bao nhiêu ngàn dấu chấm, dấu phẩy, mấy
ngàn chữ này chữ kia theo cái nhìn "lý tính" thật mới mẻ thời vi tính
và toán học hiện đại.
Thử hỏi, với các nhà toán học đem phân tích truyện Kiều theo phép toán xác suất
như vậy có cần không? Và nếu cần thì cần cho ai? Và điều ấy có mang lại giá trị
bội phần cho Nguyễn Du không? Và đặc biệt hồi sinh tiền Tố Như tiên sinh có mơ
ước một ngày nào đó sẽ có đoàn hậu bối sẽ tìm ra cái dụng công của tiên sinh
trong việc phải sử dụng mấy chục ngàn dấu chấm dấu phết trong tác phẩm của mình
không!?! Hay là niềm mơ ước của tiền nhân qua lời lẽ khiêm nhường mộc mạc mà gần
gũi:
Lời quê góp nhặt
dong dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh."
Thành ra, từ ngàn xưa cho chí đến truyện Kiều, thời Nguyễn Du, cũng như về sau
này, việc đọc sách ngoài cái học hỏi thêm được các ý tưởng đạo lý cao siêu
trong các tác phẩm bất hủ của tiền nhân, nó còn một mục đích rất thực, rất gần
là chỉ để "mua vui" mà thôi!
Nói như vậy có lẽ không quá hàm hồ, nông nổi như hạng người đọc "cảm
tính" chúng tôi. Vì không phải chỉ "mua vui" thì trong dân gian
qua nhiều thời kỳ biến thiên của trời đất, người ta quan niệm đọc sách có mục
đích duy nhất là chỉ để giải trí mà thôi. Như một món ăn, sách vở mang lại cho
người đọc nhiều loại hình khác nhau, món nào ngon và hợp khẩu vị, hợp văn hoá,
hợp trình độ hiểu biết thì người đọc cứ "ăn ngon" thôi. Chứ các tác
giả cứ trách cứ chúng tôi sao không đọc sách này sách kia cao hơn, triết lý
hơn, giá trị hơn vân vân và vân vân... Mà không đọc như vậy chẳng khác nào là
"kẻ thù của văn chương", thì cũng hơi khe khắt lắm!!!
Văn chương hay, tác phẩm giá trị đừng lo không có người đọc, mà chỉ sợ không có
nhiều món ngon để cung ứng cho các thực khách nặng phần "cảm tính"
trong đại chúng. Và người đọc đại chúng chúng tôi không là kẻ thù của bất cứ
tác giả nào, khuynh hướng văn chương nào, mà còn hơn thế, chúng tôi còn là người
mang ơn các tác giả đã bỏ công mang lại cho hạng độc giả cỡ như chúng tôi nhiều
lời hay ý đẹp. Mà người biết mang ơn những người có công trong dòng văn học, chắc
chắn họ không phải là kẻ thù của các tác phẩm văn chương rồi!
Trở lại một chút về hạng người đọc tầm tầm bậc trung trong đại chúng qua các
sách sử xưa nay, chúng tôi chỉ thấy các giới ấy chính là những người mang các
tác phẩm văn chương của tiền nhân truyền lại cho dòng sống bất tận của con người
và đã trở thành các danh phẩm bất hủ xưa nay. Và ai dám phủ nhận những tác phẩm
ấy không phải là tác phẩm văn chương. Chẳng hạn như truyện Kiều của Nguyễn Du,
Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, bà Đoàn Thị Điểm dịch, Cung Oán Ngâm Khúc của
Ôn Như Hầu, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu còn lưu truyền mãi mãi trong dân
gian đâu chỉ do các nhà viết văn học sử ghi chép lại bằng bút lục sách vở, mà
trước đó trong dân gian đã được người đời truyền khẩu với nhau rồi.
Trên bất cứ nơi thôn xóm nào của phần đất miền Nam bên dòng Cửu Long giang, người
ta cũng có thể nghe văng vẳng tiếng nói thơ Lục Vân Tiên, thơ Cậu Hai Miêng của
các bà nội, bà ngoại nằm võng ru cháu ngủ hay của các bà mẹ hoặc các chị các em
ầu ơ nói thơ dỗ giấc cho trẻ thơ. Đó là chưa kể nơi bến đò, bến bắc qua sông
nhiều người mù ngồi bên cây đàn độc huyền với tiếng đàn dìu dặt khoan thai mà
ai oán đến não lòng qua giọng nói thơ Lục Vân Tiên đầy truyền cảm...
Những người mang thơ Lục Vân Tiên vào trong đời sống khắp mọi nẻo đường như vậy,
họ là những người của đại chúng, khi mang thơ văn của tiền nhân ra truyền khắp
trong dân gian như vậy họ có làm mất giá trị văn chương hay phẩm giá của tiền
nhân không? Chúng tôi nghĩ giới bình dân đó, trong đó có ông bà cha mẹ chúng
tôi, không làm điều gì xúc phạm đến giá trị văn chương của tiền nhân, mà còn muốn
thuộc nằm lòng những câu thơ quen thân của tiền nhân qua mọi hoàn cảnh sống với
nhiều cơ cực nơi đồng quê hầu làm giàu thêm nếp sống đạm bạc của mình.
Đi xa thêm một chút, qua các truyện tích của Tàu, mà nơi nhà quê coi là những
quyển sách gối đầu giường, nhà nào cũng có năm ba bộ như Tam Quốc Chí, Đông Chu
Liệt Quốc, Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng, Liêu Trai Chí Dị, Tây Du Ký... chẳng hạn,
cũng đã là một trong những cách làm cho truyện Tàu khó bị xiêu lạc trong dân
gian. Nhưng đâu phải các tác phẩm ấy chỉ thuần là truyện kể, không có tính cách
văn chương. Các nhà kinh điển, có lẽ hiểu biết hơn hạng người đọc chúng tôi về
giá trị và bảng xếp hạng các pho tiểu thuyết cổ điển này trong nền văn học cổ
Trung Hoa. Tiện đây xin ghi lại theo cụ Vương Hồng Sển: "Người Trung Hoa
đã long trọng chọn mỹ danh "Tứ Tài Tử" để phong cho bốn bộ tiểu thuyết
trường thiên hay nhứt trong kho tàng văn học Trung Quốc. Đó là:
·
Hồng
Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần.
·
Thủy
Hử của Thi Nại Am.
·
Tây
Sương Ký của Vương Thực Phủ.
·
Tam
Quốc Chí của La Quán Trung." [2]
Nói như Lâm Ngữ Đường: "Có thể rằng quan niệm của chúng ta đã khác xa quan
niệm của cổ nhân. Nhưng chúng ta không nên coi thường yếu tố nhân bản của cổ
nhân, những nỗi vui buồn của cổ nhân, và chúng ta biết rằng, phía sau những tác
phẩm làm cho ta thất vọng đó, còn có con người của cổ nhân, đời sống cá nhân,
hoài bão của mỗi người, và chính ở điểm đó mới thú vị, đáng cho ta lưu ý tới. Sống
ở thời đại mới thì chúng ta khó mà không phán đoán theo quan niệm của thời đại
được..." [3]
Từ đó, chúng tôi mới nghĩ, cái được gọi là văn chương, văn học tựa hồ như là những
dòng nước làm cho một dòng sông luôn đầy và chảy hoài bất tận mà không ai dễ gì
cắt lìa giữa cổ điển và hiện đại, giữa lãng mạn trữ tình và hiện thực tả chân,
giữa triết lý và đời sống thường, giữa người đọc và tác giả. Thành ra, tự đặt
ra một giới hạn giữa những thành phần người đọc vào một nhóm văn chương nào đó
rồi qui tội cho họ là "kẻ thù của văn chương", không khéo các tác gia
tự cô lập chính mình, tự làm nghèo ý tưởng của mình, tự huỷ hoại tác phẩm của
mình bằng chính tấm lòng không được bao dung rộng lượng mà một nhà tư tưởng lớn
cần có.
Về phương diện người đọc, chúng tôi vừa mê thơ văn xưa mà cũng thích văn chương
ngày nay miễn nó hay. Còn hay như thế nào là tùy từng tâm hồn của mỗi người.
Nhưng có điều, chúng tôi tự khe khắt với chính mình dù đọc sách là để giải trí,
một cách giải trí với cái giá không rẻ, cũng tốn kém nhiều thứ lắm như tiền bạc,
thời giờ, không lẽ lại tìm đọc những tác phẩm không ăn nhập gì tới đời sống
mình đang sống.
Thành ra, chúng tôi cũng phần nào ảnh hưởng lời khuyên của Lâm Ngữ Đường trong
cách tìm tòi một giá trị nào đó trong sách vở:
"Nếu độc giả
muốn kiếm những tư tưởng, tình cảm tự do, khoáng đạt, một bút pháp hào hùng,
phóng túng, thì phải đọc những tác giả không thuộc phái chính thống, tư tưởng
hơi ngược đời, kì cục mà trí tuệ, tài năng trác việt, khinh thường tất cả những
cái thiên hạ gọi là thuật viết văn." [4]
Dẫn về điều này, Lâm Ngữ Đường có nêu tên các tác gia tên tuổi như Tô Đông Pha,
Viên Trung Lang, Viên Mai, Lý Lạp Ông, Cung Định Am. Riêng đối với các nhà kia
chúng tôi chưa từng đọc, chỉ riêng Tô Đông Pha thôi, người đọc thời nào mà
không mê. Ước gì các bậc văn nhân của mình được một gốc nhỏ của Tô Đông Pha
thôi, văn học Việt Nam đã mừng lắm rồi, nói gì tác phẩm lớn nhỏ cho bận lòng.
Nói như thế, không phải nhà văn nào cũng coi hạng người đọc bình dân trong đại
chúng là kẻ thù của văn chương. Bên cạnh các tác phẩm thuần tiểu thuyết của các
tác giả tên tuổi như bộ tiểu thuyết lịch sử "Sông Côn Mùa Lũ" của
Nguyễn Mộng Giác dành cho giới trí thức qua tâm sự của các sĩ phu thời Tây Sơn,
tác giả đâu có ngăn cấm người đọc đại chúng chúng tôi không được đọc. Và đặc biệt,
người viết bài này được cái vinh hạnh được tác giả chiếu cố qua lá thư tác giả
gởi cho chúng tôi, đã nói lên phần nào Nguyễn Mộng Giác không những không coi
người đọc hạng bình dân như chúng tôi là kẻ thù của văn chương, mà tác giả còn
đề nghị một cuộc trao đổi như là "tâm sự giữa LTT-NMG người đọc-người viết...".
Nhận thấy với lá thư của tác giả mang giá trị văn học, là một tài liệu vô cùng
quí cho bất cứ nhà viết văn học sử, các nhà viết phê bình văn học và cả các bạn
đọc thầm lặng khi cần xem lại hoàn cảnh sáng tác Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng
Giác, chúng tôi xin phép tác giả được giới thiệu nơi đây tài liệu quí ấy, để chứng
minh một điều là nhà văn Nguyễn Mộng Giác luôn muốn chia sẻ với người đọc hơn
là phân chia người đọc ra thành nhiều hạng:
"Thư gửi
Anh Lương Thư Trung
California
23 tháng Tư 2001
Thưa Anh,
Làm xong Văn Học số tháng Năm 2001, đưa cho nhà in, rảnh trí, mới ngồi vào máy
điện toán bình tâm viết thư cho Anh. Và thay vì gửi theo đường bưu điện như đã
thưa trước với Anh, tôi xin đánh chữ có dấu rồi gửi attach theo e-mail cho tiện
và nhanh hơn.
Công trình Anh đọc Sông Côn Mùa Lũ cả hai năm như thế, với thì giờ và tâm huyết
bỏ ra để đọc một bộ sách dày 2000 trang, cũng đã đủ để tác giả không thấy hối
tiếc đã bỏ công viết ra. Những người đọc như thế ngày càng hiếm, khiến như có một
lần tôi viết cho tờ Việt, tác giả luôn luôn có cảm giác bẽ bàng là mình đã uổng
công làm một chuyện chẳng đi tới đâu, viết cho cực rồi tác phẩm lại rơi vào hư
vô và sự thờ ơ của ngay người trong giới. Lâu lâu có những bài phê bình trên
báo, thì những bài ấy lại chỉ chú trọng tới những vấn đề "ngoài văn
chương". Nay được có một người đọc như Anh, may mắn lắm. Thử làm một cuộc
đối thoại trao đổi ngắn giữa người viết và người đọc, xem sao.
Tôi có dự định viết bộ truyện này từ tháng 10.1977. Trang đầu bản thảo cuốn I
SCML, tôi có chép:
Nhật ký
4.10.1977: Quyết định: Bắt đầu tìm tài liệu để viết một cuốn tiểu thuyết về thời
Tây Sơn. Thời hạn: 2 năm. Dài: 1000 trang.
Quán cà phê đường Duy Tân, với Nguyễn Thành Hải, gần Tết 1978:
Chiều đẹp. Đêm xuống dần, ánh đèn thủy ngân rọi lên màu sương lãng đãng dưới
hai hàng cây cao đường Phan Đình Phùng. Trong một lúc cao hứng, hứa với Hải sẽ
viết một cuốn tiểu thuyết thật dài về tâm trạng trí thức thời loạn. Chọn thời
Tây Sơn của các nho sĩ thời xưa.
24.5.1978: Bắt đầu viết chương 1 của bản thảo.
1.9.1980: viết xong chương cuối của Phần VI.
1.3.1981: Viết xong chương cuối phần Kết từ.
Như vậy ý định ban đầu của tôi là viết về tâm trạng trí thức thời loạn, và vì
không thể viết về tâm trạng của mình và bạn bè mình sau thời gian sống dưới chế
độ mới, tôi phải di chuyển thời gian qua hai thế kỷ trước, vào thời Tây Sơn, vì
như thế sẽ an toàn về chính trị.
Vì phải tìm hiểu xem trí thức nho sĩ thời Tây Sơn ứng xử thế nào trước một thời
thế đổi thay cùng cực như hồi ấy, nên tôi tìm đọc hầu hết sách vở tài liệu về
nho sĩ thời Tây Sơn, và vui mừng khám phá ra rằng tâm trạng của họ rất phức tạp,
đủ dạng đủ vẻ y như tâm trạng trí thức văn nghệ Miền Nam sau 1975, từ cực hữu
quyết liệt "không thèm ăn thóc nhà Chu" cho đến những tay cơ hội đa
tài như Nguyễn Hữu Chỉnh. Có được một ý chính làm mục tiêu cho bộ truyện rồi,
tôi mới nghĩ đến cấu trúc tổng thể của bộ truyện: có hai giàn truyện đi song
song với nhau, một giàn có thể gọi là sự vươn lên và suy tàn của một triều đại,
qua diễn tiến của triều Tây Sơn; một giàn là diễn tiến mối tình giữa Nguyễn Huệ
và một nữ nhân vật nào đó lấy trong dân gian và không có trong sử sách để làm
"màu mè" cho tiểu thuyết, và cho mình có cơ hội "tự do" vẽ
vời những gì mình muốn vẽ (vì sử sách có sẵn không thể tự do biến đổi được). Kết
quả: từ đôi ba dòng sử sách dành cho giáo Hiến thầy học của Nguyễn Huệ Nguyễn Lữ,
tôi nâng giáo Hiến lên thành một trong những nhân vật chính, đại diện cho
khuynh hướng trung quân cực đoan; còn gia đình giáo Hiến là phần hư cấu đại diện
cho những tầng lớp dân chúng thời loạn: Kiên là mẫu người thụ động "trôi nổi
theo lịch sử" như đám đông dễ uốn nắn dễ sai khiến của mọi thời đại; Chinh
như một người tham gia lịch sử vì thích bạo động, Lãng đại diện cho giới nghệ
sĩ nhạy cảm yếu đuối nhưng sống trung thực, An là người phụ nữ thời loạn với tất
cả sự thông minh quả cảm mà theo tôi, Việt Nam qua bao tai ương chiến tranh mà
vẫn còn tồn tại là nhờ những người phụ nữ này.
Trên đây là những gì tôi phác họa trước khi bắt đầu viết, từ bản phác họa này
tôi đặt tên cho các nhân vật, làm lý lịch của họ, cho mỗi người một nhân dáng,
tính tình chung chung (chung chung vì cả nhân dáng lẫn tính tình sẽ phải thay đổi
theo thời gian và hoàn cảnh sau này).
Khi bắt đầu đặt bút viết những dòng đầu tiên, tôi bị khựng lại vì câu hỏi đột
ngột đến: Viết cách sao đây? Vì mình sắp viết về những người sống cách đây hai
thế kỷ, thì họ ăn nói, yêu buồn giận hờn như bây giờ, liệu có được không? Hỏi
xong tôi hỏi lại: Nếu không cho họ ăn nói và sống như bây giờ, thì họ ăn nói cư
xử như thế nào? Chẳng lẽ họ ăn nói như trong tuồng hát bội? Viết thế nào mới là
viết theo lối cổ? Cuối cùng, tôi tìm ra câu trả lời: Cách ăn nói ngày xưa có lẽ
không khác với ngày nay bao nhiêu, vì đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta thấy tiếng
Việt hồi đó không khác nhiều so với bây giờ. Vả lại, viết là viết cho người
ngày nay đọc, và ai cũng biết tuy truyện xảy ra ngày xưa nhưng tác giả chỉ
"mượn xưa để nói nay", thì việc gì phải cố gắng tồn cổ. Ngôn ngữ tiếng
Việt dùng trong truyện cũng không cần phải khai thác cách nói của địa phương,
chẳng hạn Nguyễn Huệ nói theo cách nói người Bình Định, Trần văn Kỷ thì phải mô
tê răng rứa, còn Nguyễn Hữu Chỉnh phải nói giọng Bắc, Nguyễn Thiếp đối đáng
đúng kiểu ông đồ Nghệ. Tôi nghĩ cách tận dụng địa phương ngữ chỉ thích hợp cho
những tiểu phẩm, còn một bộ trường thiên dung lượng lớn, vấn đề vốn đã phức tạp,
đừng nên làm cho độc giả rối đầu bằng địa phương ngữ. Tôi dùng một thứ "tiếng
Việt chuẩn thông dụng" cho toàn bộ truyện, không khai thác địa phương ngữ.
Còn nhân vật thì xem tất cả nhân vật từ bậc vua chúa đến thường dân đều là những
con người bình thường, như đã trình bày trong bài "Nhìn lại những trang viết
cũ" anh đã đọc trên Việt và Văn Học.
Lúc bắt đầu viết SCML, tôi làm công cho tổ hợp sản xuất mì sợi Dân Sinh dưới quận
11 Chợ Lớn. Thời khóa biểu hằng ngày là sáng 6 giờ dậy, đạp xe đạp xuống Phú
Lâm mang theo lon Guigoz chứa chén gạo và hũ chao, làm việc (phụ trách đưa vỉ
mì sống vào lò hấp và đem vỉ mì đã chín ra cho người khác vắt thành vắt nhỏ) từ
8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, nghỉ trưa đem lon Guigoz gạo bỏ vào lò hấp nấu cơm,
ăn cơm, xong ngồi viết SCML cho đến 2 giờ chiều, lại tiếp tục công việc hấp mì
cho đến 6 giờ chiều, xong việc đạp xe về Thị Nghè, cơm tối, rồi ra đầu ngõ mua
một ly cà phê để ngồi viết tiếp SCML từ 9 giờ đến 12 giờ khuya. Tôi làm việc đều
đặn như thế, viết hết chương này đến chương khác, viết một lần thôi, không sửa
chữa gì nhiều trừ vài chữ vài câu sai. Khi viết tiếp, đọc chương vừa viết trước
đó để ý tưởng liên tục. Cũng may tôi có một khả năng đặc biệt về bố cục, nên cả
hai bộ trường thiên, tuy "đến đâu viết đấy" không có bố cục trước,
nhưng ít có những lỏng lẻo hay nhầm lẫn lớn trong cả hai bộ truyện. Việc xuất
hiện của nhân vật ở các chương, tôi phải tính toán để không có nhân vật nào bị
bỏ quên quá lâu. Chẳng hạn trước khi viết chương nào, tôi phải ghi trong chương
đó nhân vật nào sẽ xuất hiện, nhờ thế biết được lúc nào nên thôi nói về nhân vật
nào, lúc nào phải cho nhân vật kia xuất hiện trở lại. Lần xuất hiện của nhân vật
nhiều hay ít tùy thuộc vai trò nhân vật đó quan trọng hay không trong hoàn cảnh
của truyện.
Một vấn đề khác tôi gặp phải khi viết SCML, là cái nền tư tưởng phải có của một
bộ truyện trường thiên. Tác phẩm bình thường chỉ cần "kể", hay
"tả" về một cảnh đời. Một bộ truyện phải có tư tưởng. Nhưng tư tưởng
làm nền cho bộ truyện là gì? Phải công nhận Việt Nam chúng ta không có một nền
tảng tư tưởng triết học nào rõ ràng, rốt ráo cả. Chỉ vay chỗ này một ít, chỗ kia
một ít, chắp vá lại thành một thứ mà chúng ta thường gượng gạo mặc cho nó cái
áo hoa "tam giáo đồng nguyên". Cổ nhân thì cái gì cũng biện minh được,
ham ra làm quan thì bảo vì nghĩa vụ theo đạo Nho, chán làm quan về đuổi gà thì
bảo noi gương Đào Tiềm, vuốt râu tự khen mình biết thạo cả hai lẽ xuất xử. Thói
quen làng nhàng đó kéo dài cho tới bây giờ, không có công trình gì đến nơi đến
chốn. Tôi lúng túng không biết lấy gì làm nền cho bộ truyện, sau mới lấy tạm chủ
đề: Thế nào là chính thống? Còn khi các nhân vật bị đối diện với những vấn đề
siêu hình như cái chết cái sống, tôi đành đặt ra một thứ "tôn giáo lơ mơ
pha lẫn chút thiền" như anh đã đọc qua cách hành đạo của Kiên và Nguyễn Lữ.
Có thử viết những gì lớn rộng một chút, mới thấy các hạn chế của văn hóa dân tộc
mình, mới thấy cái mỏng của chiều dày tư tưởng Việt Nam. Dân mình khôn vặt,
đánh du kích giỏi nhưng đi đường dài thì dở lắm. Càng thấy dở càng ưa khoa
trương, đại ngôn, lộng ngôn, kiểu các mệ hoàng tộc ở Huế đòi "đưa củ khoai
cho mệ chém thử dao mệ có sắc không".
Tôi trình bày với anh những điều tôi băn khoăn và lo tìm một giải pháp khi viết
bộ truyện trường thiên đầu tay, một việc tôi chưa từng làm nên không biết phải
làm thế nào, phải hỏi kinh nghiệm của ai, phải theo một mẫu mực nào. Có người
tò mò hỏi, họ không tin khi tôi trả lời tôi cứ viết một mạch từ chương đầu tới
chương cuối, không có những kế hoạch sơ đồ qui mô như bộ tham mưu một quân đoàn
soạn thảo kế hoạch hành quân (vì tầm rộng không gian, thời gian, số nhân vật
cũng tương đương cuộc hành quân cỡ quân đoàn). Đưa cho coi bản thảo viết tay có
ghi ngày viết từng chương với nét chữ nét mực khác nhau, họ mới tin.
Từ những kinh nghiệm viết lách của riêng tôi (chẳng có qui củ nào cả), tôi thường
hoài nghi những suy diễn lớn lao từ các sự kiện nhỏ nhặt, e dè trước những lời
"lớn lối" kiểu tuyên ngôn tuyên cáo. Như tôi vừa viết ở đoạn thư
trên, văn hóa dân tộc ta mỏng lắm, sức sáng tạo và suy tưởng yếu lắm, ra chiêu
vài lần là hụt hơi, sau đó toàn là nói càng, viết rán, giọng "thằng
mõ" hay là giọng "trương tuần" chỉ ánh ỏi trong khuôn khổ làng
xã thôi.
Ham tâm sự với anh, giật mình xem lại thấy thư đã dài. Lại "hụt hơi"
hay là "quá đà" rồi! Anh muốn trao đổi như thế này như là "tâm sự
giữa LTT-NMG người đọc-người viết" nhiều kỳ không?
Thân mến,
Nguyễn Mộng Giác"
Hoặc vả như nhà văn Ngô Thế Vinh qua tác phẩm mới nhứt của ông, Cửu Long Cạn
Dòng, Biển Đông Dậy Sóng, khi ông viết hoàn tất với gần 700 trang sách qua
hình thức "tiểu thuyết biên khảo", mà tác giả gọi là "dữ kiện tiểu
thuyết" hay "tiểu thuyết tư liệu"(faction) [5], tác giả luôn
mơ ước tác phẩm của mình được đến với bà con nông dân sống dọc theo hai bên bờ
sông Cửu Long với tất cả tấm lòng của một nhà văn kiêm thầy thuốc luôn nghĩ về
một dòng sông sắp cạn về mọi lãnh vực đang là mối nguy của môi trường sống với
hằng mấy chục triệu người, qua lời dặn mà tôi may mắn nhận được: "Thân gửi
anh mấy cuốn sách, nếu có dịp để gửi về tặng bà con bên nhà..." Qua lời
căn dặn ấy, chúng tôi nghĩ rằng tác giả đâu phải chỉ mơ có "Nhóm Bạn Cửu
Long" là những người đáng được đọc sách của ông.
Một ví dụ khác, tập bút ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, tác
giả tự xuất bản năm 2003, với lời văn bình dị của một người chưa bao giờ viết
văn, mà ai đã có dịp cầm quyển sách trên tay rồi, chúng tôi nghĩ không thể
không đọc hết một mạch gần 700 trang sách của một người vốn được sanh ra và lớn
lên một làng quê nhỏ ở miệt Vĩnh Long. Và ai dám quả quyết rằng quyển bút ký ấy
không phải là tác phẩm văn chương.
Nhắc qua ví dụ này, để thêm vào nhận định của Lâm Ngữ Đường về một tác giả
không thuộc phái "chính thống" trong trường văn bút như linh mục Nguyễn
Hữu Lễ, mà vẫn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc như truyện thần kỳ mà rất gần với đời
thường của những người đọc bình thường. Ở đó không có tính triết lý cao mà nhân
bản rất mực. Nó cho người đọc thấy được bức tranh thật của một đời người mà đầy
lòng nhân ái, không nhận ra ai là kẻ thù của mình cho dù hạng người đọc "cảm
tính" dễ rung động trước bao nghịch cảnh...
Cụ Vương Hồng Sển, trong lời tựa tập Hiếu Cổ Đặc San số 2 vừa dẫn ở trên >[6]
cũng chỉ nói lên cái mơ ước của cụ là muốn đi tìm những người đồng điệu dù họ
"chưa biết chơi" khi nhắc đến thú xem truyện Tàu:
"Chúng tôi
nhấn mạnh 10 bài nầy không viết cho người sành điệu. Người sành điệu, để đọc,
tham khảo hoặc tra cứu, đã có đầy đủ sách bằng Pháp văn, Anh văn, Hán văn, mà
phần đông đồng bào ta không có. Chúng tôi chỉ muốn viết một cách hết sức tầm
thường gọi để phổ biến những gì gặt hái trong sách kể trên, gọi để dễ gần những
người "chưa biết chơi" nhưng có chí ham học, họa may dẫn dắt được phần
nào vào con đường mới "học chơi chơi mà bổ ích về sau. Chúng tôi chỉ muốn
tìm người đồng điệu."
Nhưng đọc qua hết các bài viết trong tập Hiếu Cổ Đặc San này, ai dám bảo tập
san này không phải là văn chương. Và bậc lão luyện như cụ Vương Hồng Sển chẳng
những không nghĩ rằng hạng người đọc "chưa biết chơi" là kẻ thù của
sách vở văn chương, mà còn là "người đồng điệu" mà cụ Vương dày công
đi tìm.
Nhân đây, chắc các tác gia cũng biết rành về việc chọn lựa người đọc của cụ
Phan Bội Châu trong lời "Phàm Lệ" cuốn Khổng Học Đăng. Theo
đó, hạng người đọc bình dân đại chúng lại là lớp độc giả mà Phan tiên sinh muốn
mang lời giáo huấn của Người gởi gắm qua cuốn sách được đến với họ:
1.
Mục-đích
người làm bản sách nầy là cốt phù-trì nhân-đạo; nếu ai không để lòng vào nhân-đạo
thời xin chớ đọc.
2.
Lại
cốt phát-huy chân-lý để duy-trì nhân-tâm; bởi vì nhân-tâm còn xấu thời thế-đạo
chẳng bao giờ tốt. Vậy nếu ai đã mất hết nhân-tâm thời chắc không muốn đọc bản
sách nầy, mà tác giả cũng xin chớ đọc.
3.
Tác
giả lại muốn cho người ta biết học cũ vẫn không phải trần-hủ, mà học mới vẫn
không phải phù-hoa.(.....)
Nếu ai chưa để mắt vào bản sách nầy mà trước đã có một ý-kiến sẵn: hoặc bài-bác
học cũ, hoặc công kích học mới hễ có ý ấy thời xin chớ đọc.
4.
(.....)
Cái danh từ học cũ chẳng phải là cái đồ để đánh cắp áo mũ cân đai đâu! Cái danh
từ học mới chẳng phải là cái mồi để gạt mề-đay kim-khánh đâu! Vậy nên tác giả
xin thề trước với ba hạng người:
o Hạng người chỉ
tranh ngôi thứ xôi thịt trong đình làng;
o Hạng người muốn
lòe-loẹt khoe-khoang, lấy om cơm túi bạc làm mồi hạnh phúc;
o Hạng người xu-quyền
phụ-thế, lấy đồng bào chủng-tộc làm mồi vinh-thân.
Ba hạng người ấy, tác giả xin chớ đọc đến quyển sách nầy.(...)
5.
(....)
Nếu ai chưa đọc quyển sách nầy mà trước đã có ý kiến sẵn: định làm nô-lệ cho
người đời xưa, hay làm nô-lệ cho người đời nay thời xin chớ đọc. [7]
Thông thường các tác giả bao giờ cũng nghĩ người đọc không hiểu ý mình, không
hiểu những tư tưởng mà mình gởi gắm trong tác phẩm và không chịu nghe bất cứ
người đọc nào nêu ra những điều không hay trong tác phẩm. Tiện đây cũng xin bàn
lướt qua một vài cảm nhận về mối giao tiếp giữa tác giả và người đọc từ đời xưa
khắn khít vô cùng.
Dẫn về nhận xét này, có lẽ không gì bằng trích lời của Trần Trọng Kim trong bài
trả lời Phan Khôi bàn về quyển Nho Giáo:
"Người mình
xưa nay vẫn chưa quen chịu người ta phê bình. Ai làm được quyển sách quyển vở
nào, đem ra giới-thiệu với công chúng, thì chỉ muốn khen, chứ không muốn người
ta chê, rồi hễ thấy người ta bẻ-bắt điều gì là mích lòng, và không hiểu rằng:
Người dạy ta mà phải là thầy ta, người trách ta phải là bạn ta.
Bởi vậy người phê bình cũng không muốn phê bình, mà sự học cũng không tiến-bộ
được.
Nay Phan quân không theo thói thường, cứ tự mình sở kiến thế nào, thì nói ra
như thế, để người bàn đi có người bàn lại, khiến cho sáng rõ cái chân-lý ra. Ấy
là một cách phê-bình chính đáng mà tôi rất lấy làm kính phục vậy."[8]
Đến như Trần Trọng Kim mà còn cần người đọc và phê bình sách của mình như vậy,
thử hỏi các nhà văn hiện đại không cần người đọc đại chúng thật là một điều
đáng tiếc biết bao!!!
Tóm lại, từ xa xưa cũng như ngày nay giới người đọc lúc nào cũng muốn đi tìm
cái chân-thiện-mỹ trong các tác phẩm giá trị nên không tác giả nào nỡ lòng qui
tội cho họ là kẻ thù nếu họ chịu đọc những gì các tác gia viết ra mà thật sự
giá trị và hay.
Có lẽ các tác giả muốn chê trách chúng tôi không hiểu những tác phẩm của quí vị
rồi làm cho văn chương không ngóc đầu lên nổi, thành ra vô tình là kẻ làm vướng
bận mọi cách thế làm mới văn chương của quí vị mà đâm ra lâm vào trạng huống
"kẻ thù của văn chương" hồi não hồi nào!!! Thật oan uổng và tội nghiệp
cho hạng người đọc mang "tính đại chúng" biết là bao!!! Các tác giả đừng
lo người đọc mang "tính đại chúng là kẻ thù của văn chương", mà hãy
lo viết những tác phẩm thật giá trị trước đã, rồi tự nhiên sẽ có người tìm đọc.
Có như vậy, mới hy vọng văn chương Việt Nam mỗi ngày mỗi mới hơn, phong phú hơn
và hay hơn với nhiều tác phẩm bất hủ để đời.
Người đọc, dù là đại chúng hay bất cứ ai chăng nữa, họ là bạn của văn chương.
Cho dù họ có dốt nát đi chăng nữa, họ không biết lên tiếng khi cảm nhận một
công trình sáng tác, hoặc biên khảo nào đó của các nhà văn, hoặc họ không đọc
được các tác phẩm giá trị của quí vị, cách nào đó, qua mồ hôi họ đã đổ trên các
cánh đồng bùn lầy qua các mùa màng mưa nắng vất vả trăm bề, trong các hãng xưởng,
trên các đường phố, khắp mọi nẻo đường đầy cơ cực, mặc dù họ làm việc cho chính
đời sống thiết thân của họ nhưng họ cũng làm việc vì nhân quần, nên chính họ là
những người thầm lặng đã mang đến cho văn học những nhà văn tên tuổi. Nhờ họ dốt
nên mới biết ai là người trí; nhờ kẻ hèn nên mới biết người sang trọng; nhờ hạt
gạo no đầy nên nhà văn mới no ấm thư nhàn viết lách; nhờ thợ dệt thợ may các
tác giả có những bộ áo quần làm dáng vẻ sang trọng; và còn nhiều thứ lắm mà
"đại chúng" đã mang đến cho nhà văn, vì thế họ không phải là kẻ thù của
bất cứ tác phẩm văn chương nào của bất cứ tác giả nào qua mọi thời đại !
Các tác gia thử nghĩ lại mà xem, có phải chúng tôi, những người đọc mang tính đại
chúng, là những người làm cho văn chương lụn bại không hay do chính các tác giả
chịu phần trách nhiệm về những đứa con tinh thần do chính mình đẻ ra chúng !?!
Lương Thư Trung
[1]
Các
chữ "tính đại chúng: kẻ thù của văn chương" là chữ dùng của Nguyễn
Hưng Quốc.
[2] Theo
"Thú Xem Truyện Tàu" trong Hiếu Cổ Đặc San số 2, năm 1970, trang 99,
Xuân Thu tái bản, Hoa Kỳ (1989)
[3] Trích
"Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa" của Lâm Ngữ Đường, trang 83,
Nguyễn Hiến Lê dịch, Ca Dao xuất bản, Sài Gòn (1970) và Xuân Thu tái bản, Hoa Kỳ
(1991).
[4] Trích
trang 84, sđd chú thích 3.
[5]
Trích trả lời phỏng vấn của tác giả với nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh, trang 712 trong"Cửu
Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng" của Ngô Thế Vinh, Văn Nghệ (Hoa Kỳ) tái
bản lần thứ nhứt (2001).
[6]
Trích lời Tựa "Đặc San Hiếu Cổ" số 2 của Vương Hồng Sển, Xuân Thu tái
bản(1989).
[7]
Trích "Khổng Học Đăng" của Phan Bội Châu, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản,
phần "Phàm Lệ", trang 9 và 10.
[8]
Trích "Nho Giáo" của Trần Trọng Kim, (quyển hạ), bản in lần thứ tư,
Tân Việt (Sài Gòn) xuất bản, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản, trang 400.