Lương Thư Trung
Nhơn câu hỏi “Thơ đến từ đâu?”
nhớ về thơ ở làng quê tôi
mấy mươi năm trước.
Trong loạt bài phỏng vấn trên
trang nhà Talawas, Nguyễn Đức Tùng đã lập lại nhiều lần câu hỏi “Thơ đến từ
đâu?” với nhiều tác giả làm thơ và dĩ nhiên, mỗi người trả lời mỗi cách khác
nhau.
Với Nguyễn Viện:
Bài thơ của tôi bắt đầu bằng một hình ảnh, có khi bắt đầu bằng một từ, một khái
niệm... Nhiều khi, nó cũng bắt đầu bằng một sự trống rỗng, hoặc một khao khát
bày tỏ. Nhưng chắc chắn nhất là tôi thường không biết bắt đầu từ đâu.
Inrasara: Thường thì tôi bắt đầu một bài thơ qua gợi hứng từ
chữ. Tôi thấy một chữ hay, nắm lấy nó, tìm tứ và hình ảnh rồi khi bắt được nhịp
thì bài thơ trào ra
Thận Nhiên: Bấy lâu nay tôi vẫn thở ra hít vô đều đặn, như vậy
gọi là sống. Tôi không phân biệt thế nào là “sống trong thơ” và “sống ngoài
thơ”. Chỉ sống thôi và thỉnh thoảng có hứng thì làm thơ, chừng đó cũng đã mệt
lắm rồi.
Đỗ Quyên: Đây là lần thứ một triệu chúng ta nói: thơ giống như tình yêu,
làm thơ giống như làm tình ở chỗ không sao quy định được quá trình của nó. Tức
là không thể trả lời nổi “Bài thơ của anh bắt đầu ra sao?” trừ khi người đó làm
được đúng một bài thơ, rồi dọt thẳng!
Nguyễn Thế Hoàng Linh: Bắt đầu từ một câu đột nhiên xảy đến khi đang không
hoặc có ý định làm thơ. Câu thơ đó có thể được dùng làm câu đầu bài thơ hoặc ở
một phần nào đó
Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Không hiểu tại sao nhiều người cũng có câu trả lời
như tôi: tập tành làm vè trước rồi mới ziết zăng sau.
Lý Đợi: Làm sao tôi biết được! Bởi nếu nhìn theo quan điểm sẵn
có trong cộng đồng văn học, văn hoá và tư tưởng tại Việt Nam thì tôi là người
hoàn toàn không có đủ thẩm quyền đề trả lời. Nếu nhìn theo quan điểm ấy thì tôi
không làm thơ.
Còn hiện nay, thơ đến từ đâu ư? – Anh nên hỏi thêm những người khác vậy.
Ngô Tự Lập: Thoạt
tiên, một cảm giác lạ lùng nào đó xuất hiện. Một cảm giác khó diễn tả, nhưng
phải mới mẻ, ít nhất là với tôi. Thế rồi tôi cố tìm trong ký ức một hình ảnh,
một giai điệu, một cốt truyện, một màu sắc hay bất cứ thứ gì tương ứng với nó
Lê Vĩnh Tài:. Và tất nhiên, cả những gì đang diễn ra hàng ngày mà
tôi “cảm hứng” được, những cái làm cho anh nhận thấy trong thơ tôi “có những
vấn đề xã hội” chăng?
Trần Hữu Dũng: Bài thơ gần đây nhất tôi mới làm vào ngày 29 tháng 10
năm 2006, chưa chỉnh sửa gì cả, viết thẳng trên máy vi tính trong một đêm trằn
trọc khó ngủ. Lâu lâu tôi vẫn có những cơn hoảng loạn như thế,
Nam Dao:
Đó là bài “Tiễn bạn” qua ba tấu khúc năm 1995.. Tôi đành tự nhủ, thôi, không
làm thơ nữa, vì cứ thế này chắc rồi tôi sẽ quay ngược lại về thời Sở từ của
Khuất Nguyên mất
Ngoài ra, còn nhiều thi sĩ được
hỏi và trả lời như vậy, nhưng ở đây, trong chừng mực của một đúc kết gọn, nên
chúng tôi chỉ xin ghi lại các câu trả lời vừa dẫn để qua đó thấy được điều gì đã
được các tác giả bắt gặp và làm ra thơ cho mình.
Với mỗi người mỗi hoàn cảnh
khác nhau mà làm ra thơ, nhưng dường như các tác giả bị người phỏng vấn đẩy vào
cái thế phải trả lời câu hỏi “thơ đến từ đâu?” mà thao thao bất tuyệt về
cái hứng của mình. Nhưng có một điều chắc chắn còn thiếu và làm nền cho mọi bài
thơ chính là thơ bắt đầu từ con người, nói như Lâm Ngữ Đường, “thơ là kết tinh
tình cảm của con người”(1). Điều này dường như là một điều hiển nhiên, không cần
phải lý giải dong dài.
Từ xưa đến nay chỉ có con người
mới làm thơ, còn mọi sinh vật khác không một ai có thể đẻ ra thơ được. Chim chóc
hót rất hay nhưng tiếng hót thánh thót của các loài chim không phải là thơ. Tiếng
kêu ồ ề của loài voi, tiếng gầm rú của loài cọp lại càng phản cảm hơn nữa. Và
loài rắn không kêu thành tiếng, nên khó hiểu rắn muốn nói gì? Loài giạt sành,
ve sầu rả rít mùa hè, loài ếch nhái ễnh ương rền vang khi mưa dầm cũng chỉ được
con người ca ngợi như khúc nhạc đồng quê là cùng, chưa thể nào là thơ. Đến các
vật vô tri như đá, núi, cỏ cây, trăm thứ đều có đời sống riêng của mỗi loài nhưng
không thể chế biến ra thơ được, mà phải nhờ con người tả cảnh núi sông làm lung
linh hồn người …
Nhưng con người làm thơ do đâu
lại là một lối rẻ khác của từng cá nhân mỗi người. Người dốt thì họ làm thơ qua
câu hò câu hát “nghêu ngao mặt nước, vui say giữa trời”. Họ ứng khẩu thành thơ
khi trong lòng tràn ngập niềm vui cùng trời nước bao la giữa cánh đồng nước nổi,
hay giữa miếng ruộng vàng bông trĩu hột đang theo gió rì rào làm thành những lượn
sóng nhấp nhô trên biển lúa mênh mông. Thơ của họ chạy nhảy theo tiếng dế dưới
lớp đất vừa cày trở. Có khi thơ của họ miên man trong trại ruộng, trong lùm cây
trốn nắng đụt mưa hay trên thềm đìa, bờ kinh, bờ đập… Có người đi giữa rừng già
nơi cao nguyên làm thơ. Tiếng thơ của họ là hứng khởi từ cái nét trầm mặc của rừng
già. Có người đi trên sông làm thơ. Tứ thơ của họ là tiếng nước trôi, dòng sông
sóng vổ vào be xuồng, là những bến bờ đất bồi, đất lở từng mùa qua, là con nước
chảy qua cầu với màu thời gian đong đầy rong rêu đu đưa theo con nước lên nước
xuống cùng trăng già, trăng xế.
Thơ đối với họ là nỗi niềm
rung cảm, không bị gò ép bởi chữ bởi vần miễn sao ngâm nga lên nghe nó êm tai và
quấn quýt bên hồn như một khúc nhạc, một lời ru, một lời tình tự làm cho thiên
nhiên và con người hòa vào nhau thành một. Đối với họ thơ không có tính toán,
không có bàn thảo, không có chê khen mà tất tất chỉ nhằm làm cho đời thêm chút
niềm vui với cảnh đời mà họ nhận ra mình đang hạnh phúc cùng mùa màng và thiên
nhiên, cây cỏ.
Thêm vào đó, có một lớp người
khác, cũng sống nơi miền quê và ưa làm thơ, đó chính là các bậc biết chữ Nho,
không hề đi dự khoá thi nào ở trường ốc, nhưng là các bậc được người đời trong
làng xóm kính nể. Những bậc này làm thơ ngâm vịnh cuộc đời. Mỗi mỗi tiếng chim
kêu, tiếng gà gáy, tiếng chuông chùa công phu mỗi sáng, mỗi chiều họ đều ngẫu hứng
làm thơ đề vịnh. Thơ của các bậc này là thơ viết về cuộc đời, nó cao hơn thơ cũa
giới ít biết chữ một bậc và có nhiều bài lưu lại hậu thế nhiều đời bằng những bức
tranh thơ khắc ghi lên đá, lên tường nơi chùa đình miếu miễu. Và nhiều bài thơ
trở thành những bài kệ trên các bảo tháp của các vị chân tu đã viên tịch.
Ở làng tôi, cách nay sáu bảy
mươi năm, những bậc nho sĩ nhà quê ấy thường làm thơ ngâm vịnh với nhau như món
ăn tinh thần giữa chốn quê mùa mà tao nhã. Chẳng hạn hai bài thơ xướng họa dưới
đây của ông Sáu Khiêm nhơn ngày giỗ nhà bạn, ông Thầy Bảy Hiển, mà bạn không mời:
“ Tai nghe đám giỗ tại
nhà thầy,
Muốn đến chung vui sợ nỗi
rày.
Chưa thỉnh nếu đi coi cũng
ngặt,
Không mời nên phải nín làm
khuây.
Anh già lụm cụm mà quên
đó,
Chị yếu lăng xăng chẳng
nhớ đây.
Rượu thảo một ve xin gởi
cúng,
Vật khinh tình trọng tưởng
lòng này.”
Và Thầy Bẩy Hiển họa lại:
“Rượu một ve kia cảm nghĩa
thầy,
Lễ xin dưng lại buộc đừng
rầy.
Bởi đương cơn túng mà sơ
sót,
Dẫu gặp ngày chay dám lảng
khuây.
Lạt lẽo tạm dùng dưa với
muối,
Mặn nồng chi bẵng đó cùng
đây.
Kiền thành nguyện trước
ông bà chứng,
Thiếu hụt xin thương cái
phận này.”
Đó là một trong vô số bài thơ
xướng họa giữa các bậc nhà Nho miệt nhà quê, nhưng có lẽ sáu bài thơ trên bảo
tháp của ông Yết Ma Trụ Trì chùa Tân Phước Tự tại làng Tân Bình là sáu bài thơ
tuyệt bích của cụ Bùi Xuân Hòa ở chợ Cái Tàu Thượng (Lấp Vò) làm, và đây có lẽ
là cái phần cao quý nhứt của các nhà Nho của làng tôi còn lưu lại tới ngày nay
dù làng quê tôi đã phải trải qua biết bao mùa hưng phế trong vòng gần bảy tám
chục năm qua .
Xin trích lại đây một trong sáu
bài tiêu biểu:
Bài thứ sáu:
“Thế gian tứ khổ kỷ nhơn
tri,
Đặc đạt phương năng hối
ngộ chi.
Lục độ ân cần vô thiểu
giải,
Tứ đề miễn lệ bất dung
khuy.
Kim cang bất hoại thiên
thu tại,
Bửu tháp trường tồn vạn cổ
thùy.
Viễn cận đàn na giai
ngưỡng mộ,
Bổn sư xuất thế dĩ tây
qui.”
Người xưa ở quê tôi làm thơ là
thế. Thơ về cuộc đời, về tình người, về tấm gương, về đạo hạnh, về bằng hữu, về
lễ giáo.. Và đây là thơ của một người chưa già lắm mà cũng không còn trẻ ký tên
là Nguyễn Minh Thoại, một người làm thơ hôm qua cũng đong đầy trong trí nhớ mỗi
khi khi có dịp tôi nhớ về:
Qua chợ Lấp Vò
Sáng qua chợ vẫn đông
người
Lầu cao áo lụa sáng ngời
phố vui
Gặp em trong ánh mắt đời
Cười nhau một chút cũng
hời hợt thôi
Thấy em nhan sắc tuyệt vời
Tóc bay thơm cả một trời
quê hương
Anh về giữ chút yêu thương
Nghìn năm nào đó . khói
hương cũng buồn
Thôi rồi mấy chuyện yêu
đương
Cho anh xin chút mộng bình
thường lãng du.”
Và một bài thơ khác cũng viết
về Lấp Vò của Nguyễn Minh Thoại, gồm bốn đoạn mà tôi chỉ còn nhớ được :hai đoạn
1 và 3 :
Lấp Vò
Lấp Vò có mấy con kinh nhỏ
Xuôi ngược trong lòng con
ấu thơ
Đò dọc Tân Bình xuôi mấy
ngã
Từ con xa xứ sở quê mùa…
Trầu vàng mới hái em ngồi
liểng
Anh chợt thèm thương những
ngón tay
Bán cuộc đời anh mua chưa
nổi
Mớ trầu và môi mắt chân
mày…”
Làng quê tôi ngày nay bị đô
thị hoá hơi nhiều, đường làng bùn lầy ngày trước nay thay bằng đường nhựa, cầu
ván thay cầu khỉ bắc qua sông và người làm thơ cũ không còn ai nhưng mỗi lần có
một thầy giáo từ Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Tấn Hưng, ghé lại thăm chòm xóm, rồi vô
vài ly rượu đế với cá lóc nướng trui chấm nước mắm bằm xoài, ông cũng khoái đọc
thơ cho mấy người nhà quê khá bộn tuổi cỡ tôi nghe thơ của ông dịch từ nhũng bài
thơ cổ. Điều đó cho thấy thơ không chỉ thưởng thức nơi văn minh đô hội mà nó được
ngâm nga nơi làng quê, dưới bụi tre gai hay gốc xoài, gốc mận vườn tôi, một nơi
chốn có một thời thơ đã ra đời và được trân trọng lâu rồi qua nhiều thế hệ trải
dài gần cả trăm năm…
Sau những năm ở trại cải tạo
về , do ngẫu hứng, có lần tôi cũng đọc bốn câu thơ của đời tôi cho ông nghe dưới
bóng xoài :
“Mười năm trở lại căn nhà
cũ
Tía má mười năm đã ngủ vùi
Nghi ngút khói hương nhà
vẫn lạnh
Mấy mùa mưa nắng, mấy
sương rơi !”
Có lẽ bài thơ sau đây, có lần
Nguyễn Tấn Hưng đọc trong buổi nhậu sau vườn nhà tôi rất hợp với câu hỏi “Thơ đến
từ đâu?” của Nguyễn Đức Tùng, bài “Ngẫu Thành” của Nguyễn Trãi mà ông dịch là
“Tình cờ làm nên bài thơ”(2) như sau:
Ngẫu Thành
Thế thượng hoàng lương
nhất mộng du
Giác lai vạn sự tổng thành
hư
Như kim chỉ ái sơn trung
trú,
Kết ốc hoa biên độc cựu
thư.”
Nguyễn Trãi
Tình cờ làm nên bài thơ
Là thôi! Tỉnh giấc kê vàng
Mới hay muôn sự thảy toàn
hư không
Dựng nhà trong núi mà ưng,
Sách xưa ngồi đọc nghe
rừng nở hoa.”
(Bản dịch của Nguyễn Tấn
Hưng)
Thơ không cần biết nó đến từ đâu,
miễn làm sao thơ làm cho người đọc thơ mà cảm được là thơ đó có người mê và nhớ
nó. Thơ không làm giàu nhà thi sĩ bởi thi sĩ làm thơ chắc không nhằm mục đích đem
thơ ra chợ để bán như rau cà mà chỉ để làm cho mình. Nếu nhà thi sĩ nào định làm
thơ cho người khác thì thơ đó chưa làm, tôi tin chắc thơ đó khi ra đời sẽ ít hấp
dẫn người đọc…
Lấp Vò ngày 27-4-2008
Ghi chú:
1/”Nhân Sinh Quan và Thơ Văn
Trung Hoa” của Lâm Ngữ Đường, do Nguyễn Hiến Lê dịch, Ca Dao xuất bản, Sài Gòn,
năm 1970; nhà Xuân Thu tái bản, Hoa Kỳ, năm 1991, trang 90..
2/ Giáo sư Nguyễn Tấn Hưng là
rể làng tôi, nên mỗi bận về quê vợ, ông đều ghé lại thăm anh em tôi và lai rai
vài ba xị đế nếp than. Ông có thơ in chung với 17 tác giả , có tựa “Trước sân
nhà”, nhà xuất bản Trẻ, Việt Nam, năm 2000. Trong cuốn thơ này ông có 11 bài thơ
dịch gồm: “Giang Hồ Tự Thích” của Trần Tung (Tuệ Trung Thượng Sĩ), “Giang Thôn
Thu Vọng” của Bùi Tông Quán, “Quá An Long” của Trần Quang Triều, “Địa Lô Tức Sự”
của Huyền Quang, “Cúc Hoa Vịnh” cuả Trương Hán Siêu, “Thôn Cư” của Nguyễn Sưởng,
“Bạch Đằng Giang” của Trần Mạnh (Trần Nhân Tông), “Thu Dạ Khúc” của Phạm Tông
Ngộ, “Thán Bần” của Trần Danh Án, “Ngẫu Thành” của Nguyễn Trãi, “Mậu Tý Nguyên
Đán Cảm Tác” của Phan Đình Phùng.( từ trang152 đến trang 176)