Lương
Thư Trung
Thơ
Nguyễn Hải Thệ, nỗi buồn lặng lẽ …
Nguyễn
Hải Thệ còn ký bút hiệu Ngy Do Thái, sanh năm 1940, quê làng Long Sơn,
quận Tân Châu tỉnh Châu Đốc, làm thơ từ những năm 1958, 1959, tức là vào các
năm ông đang theo học lớp Đệ Ngũ, Đệ Tứ tại trường trung Học Thủ Khoa
Nghĩa tỉnh Châu Đốc.
Từ
những năm tháng học trò đó, người đọc bắt gặp trong thơ ông có chút gì ưu tư
trong mắt của một thư sinh chập chững nhìn đời :
“Vung
tay quăng đi hòn sỏi
Chờ
tiếng dội lại bâng quơ
Buổi
chiều tàn như gạch ngói
Dòng
sông xanh trôi bơ vơ…”(1)
Bốn
câu thơ trên, trong bài “Bên sông Hậu”, tác giả sáng tác vào một đêm tháng 10
năm 1959 bên bờ sông Châu Đốc. Ý thơ cho ta thấy tuổi đời tác giả
mới tròn 19 tuổi mà đã biết chờ mong “tiếng dội lại” từ một hòn sỏi nhỏ
chìm vào dòng sông ... Tuổi học trò ở một tỉnh lẻ vùng biên giới Việt Miên mà
tâm hồn không bé bỏng chút nào :
“Một
mình ta trên ghế đá
Ngồi
chờ ai không chờ ai
Mười
ngón chân buồn mỏi lả
Làm
biếng duỗi theo chiều dài
Con
mắt trời cao ngó mỏi
Chân
mây không tím không hồng
Vòng
tay hoàng hôn chết đuối
Không
ôm bắt được dòng sông…”
(Bên sông Hậu)
Với
tám câu thơ vừa trích trong bài thơ cách nay gần năm mươi năm, tác giả đã mang
đến cho người đọc một bóng dáng thanh niên còn quá trẻ mà đã biết suy tư
bằng chính những chữ dùng để nhân cách hóa thiên nhiên thành những hình tượng
gần gũi với con người càng làm cho tứ thơ phong phú biết dường nào !
Tả
cảnh hoàng hôn trên sông tác giả dùng những chữ “con mắt trời cao”, rồi “chân
mây không tím không hồng” để “vòng tay hoàng hôn chết đuối”, “không ôm chặt
được dòng sông” quả là quá tài tình. Người đọc không khỏi liên tưởng đến cảnh
hoàng hôn năm xưa “Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn” của Bà Huyện Thanh
Quan… Nhưng Nguyễn Hải Thệ đã làm mới câu thơ bằng những chữ dùng vừa kể khi
tuổi đời chưa tròn hai mươi tuổi quả là một tài thơ không dễ tìm…
Kết
thúc cảnh hoàng hôn trên bến sông, tác giả viết:
“khi
ta rời băng đá trống
Bật
diêm điếu thuốc sau cùng
Bất
ngờ, lòng tràn xúc động
Ngó
xuống bóng mình rưng rưng…”
Bốn
câu thơ kết vừa gọn mà trào dâng xúc cảm ấy đã cho ta thấy cả tâm hồn và
bóng dáng thi nhân giữa “buổi chiều tàn” bên bến sông là một hình bóng cô
đơn tột cùng …
Nguyễn
Hải Thê. khi còn là học sinh những năm học lớp Đệ Ngũ, Đệ Tứ đã bắt đầu làm thơ
về nỗi cô đơn của mình như thế đấy. Năm 1961, ông học hết năm Đệ Nhị tại Trường
trung học Thủ Khoa Nghĩa, tác giả tiếp tục theo học tại trường Sư Phạm Sài Gòn
(hệ 1 năm) và năm 1962 ra trường về dạy tại trường quận Phụng Hiệp, tỉnh Phong
Dinh (Cần Thơ). Năm 1966, tác giả bị động viên và phục vụ tại Sư Đoàn 9 Bộ
Binh, đồn trú tại tỉnh Sa Đéc. Năm 1970 được giải ngũ và về lại quê nhà dạy học
tại trường Long Sơn (Tân Châu) cho tới những ngày tóc bạc.
Có
lẽ qua những giai đoạn trong dòng đời của tác giả mà chúng tôi mò tìm được, với
tâm hồn dạt dào lãng mạn của Nguyễn Hải Thệ, chắc hẳn tác giả đã sáng tác rất
nhiều thơ vì qua thi tập “Ảo Ảnh”, chúng tôi đọc được trên trang nhà “Thất Sơn
Châu Đốc” là một bằng chứng về thời gian trước tác liên tục của một hồn thơ
không bị gián doạn; chỉ có điều tác giả không ghi lại ngày tháng năm nào ở cuối
bài thơ của mình ngoại trừ các bài mới viết sau này vào những năm 1988, 1999,
2000, 2002 vân.. vân…
Nhưng
điều đó không quan trọng bằng cái tứ thơ vừa phản ánh nỗi cô đơn trong đời thực
mà dường như không thiếu cái vị ảo của kiếp nhân sinh cùng cách dùng chữ tài
tình mà tác giả đã mang đến cho người đọc một cái nhìn về cuộc đời rất lạ và đó
là điều chúng ta cảm nhận được.
Có
thể nói thơ của Nguyễn Hải Thệ từ thuở học trò đến tuổi gần thất thập là một
dòng sông cô đơn chảy dài bất tận với những uẩn khúc chập chùng, cùng nỗi buồn
lặng lẽ trong lòng. Có lẽ cái bóng dáng cô đơn ấy nó khởi đi từ chàng học
trò 19 tuổi biết nhận ra:
“một
mình ta trên băng ghế đá
ngồi
chờ ai không chờ ai…”
(Bên
sông Hậu)
“Ngồi
chờ ai, không chờ ai”!?! Một tâm hồn đầy suy tư và lãng mạn của tuổi học trò
như thế với những nỗi buồn trống vắng xa xăm và rồi nó cứ vận vào hồn thơ của
thi sĩ suốt đời.
Để
dẫn chứng về điều này thiết nghĩ không lấy gì làm khó khăn lắm bởi lẽ bạn đọc
mở ra bất cứ trang thơ nào trong tập thơ “Ảo Ảnh”, chúng ta cũng sẽ thấy tâm
trạng cô đơn dạt dào ấy của tác giả. Chẳng hạn trong bài thơ “Khúc tiễn” nghe
ra nỗi buồn man mác biết dường nào qua mấy câu thơ :
“Em
về che nón thơ nghiêng
Chân
son bước lệch xa miền thương yêu
Ta
bơ vơ đứng trong chiều
Ngó
mây vàng hắt, bóng hiu quạnh trời…”
Hoặc
như một ngư ông ngồi “Quăng câu trên Núi Rồng” , tự thân lão ngư ông ấy đã tìm
kiếm cho mình cái vị thế cô đơn tột cùng bởi mấy ai ngồi câu trên núi.
Ngay như Khương Tử Nha câu cá không có lưỡi nhưng cũng còn ngồi câu bên
bờ sông Vị Thủy nữa là …
Những
hình ảnh “con dế le te”, “khói sương chiều lảng đảng”, “nàng cá vàng cô đơn
quẫy sóng”, “chợt hồn ta tịch mịch”, “đêm rỗng không”, “ta lại một mình”, “lang
thang trên bãi vắng”, “con rắn nước bò ra mé sậy”, “Thu đi. Bỏ lá lấp con
đường”, “Núi Rồng cô quạnh”, “nga sậy bên bờ im nín nghe”, “lối cũ, mòn”,
"bàn chân đất hụt”, “đèn le lói” vân vân… trong bài thơ “Quăng Câu Trên
Núi Rồng” là những hình ảnh của chính tác giả vào những ngày tháng sống hẩm hiu
nơi cái làng quê có tên Long Sơn mà tác giả gọi là “Núi Rồng” :
“Thuyền
về chỗ đậụ bến quê hương
Gió
thổị. Lạnh khung trời viễn phương
Con
dế le tẹ rậm bụi cỏ
Khói
sương chiều lảng đảng hoàng hôn”
“Đêm
Long Sơn. Nước chảỵ Mông lung
Quăng
lưỡi câu trên sông Cái Vừng
Nàng
cá vàng cô đơn quẫy sóng
Chợt
hồn ta tịch mịch hư không”
“Đêm
rỗng không. Ta lại một mình
Lang
thang trên bãi vắng thân quen
Lắng
nghe. Cây lá rì rào thở
Và
giọt sương đằm thắm đất đen”
….
“Nghi
ngút quê nhà. Đất ứa sương
Thu
đi. Bỏ lá lấp con đường.”
….
“Núi
Rồng cô quạnh. Nhớ nguồn khe
Nga
sậy bên bờ im nín nghe
Lối
cũ. Mòn. Bàn chân đất hụt
Chốn
xưa giờ đã tắt đường về.”
….
“Trên
cầu sương. Thoáng tiếng chim qua
Ai
thấp đèn le lói bến xa
Ngọn
hải đăng trong đêm biển động
Gọi
buồm về giữa tối bao la “.
Được
biết bài thơ trên tác giả trước tác vào mùa nước nổi năm 2002, ngày 9 tháng 9,
cùng với những năm tháng hoàng hôn của cuộc đời tác giả, người đọc sẽ đồng cảm
với ông hơn. Một làng quê Long Sơn, một dòng sông Cái Vừng, và một mùa nước
tháng chín dâng cao với “Trăm ngàn âm sắc vụt qua” cùng không gian mịt mờ khói
sương hòa quyện đã là một cảnh sắc mênh mông "nghi ngút quê nhà”…. vẫn
không che giấu nổi một “Núi Rồng cô quạnh”…
Thơ
Nguyễn Hải Thệ mang mang nỗi cô quạnh như thế nhiều vô số kể. Ở một bài thơ
khác, bài thơ “Bỗng thấy ta”, thi nhân tâm sự:
“Bây
giờ về đây làm ông giáo già
Ngày
ngày giảng thánh hiền cho con nít
Ngày
rao giảng lời cũ rích
Thánh
thủ thì cao. Con nít thì ngu
Rồi
một lũ đâm vào lẩn quẩn
Tan
trường. Về chơ.. Quán nhỏ. Một mình
Đám
thanh niên ta bỏ sau lưng
Ly
rượu đế giờ thơm như mật ngọt
Nhớ
bọn bạn bè. Đứa còn đứa mất.
Ta
cụng ly ta. Chợt rưng rưng….”
Cảm
động biết bao một tấm lòng thi sĩ. Thi nhân cô đơn không phải vì không có bạn
mà chính vì nhớ bạn thiết tha khi nhìn lại dòng đời trôi nhanh không còn lại
mấy người.
Nguyễn
Hải Thệ có cái thú thích về đề tài ngồi bên sông như bài thơ “Bến sông”, tác
giả ký tên Ngy Do Thái có hai câu vô cùng thâm thúy:
“Hỏi
nhà ? Xa bóng mây đưa
Hỏi
quê ? Trăng đã bao mùa tang thương”
Hoặc
bài “Ngồi bên sông” dưới đây giống như một bài kệ của một vị thiền sư một đời
tu khổ hạnh, quạnh quẽ một mình :
“Mươi
năm rồi mươi năm ngồi bên sông
Âm
thầm chiếc bóng cô đơn lặng lẽ
Ta
lắng nghe đời ta quạnh quẽ
Bụi
hoàng hôn cháy đỏ ráng trời quê
Sông
dạy ta: “Trôi chảy trôi chảy đi”
Cỏ
nói:”Hãy lên đường như dòng suối”
Và
giọt sương đêm thì thầm nhắn gởi:
“Hãy
rời yên dâng bỏ buông không”
Tuổi
già theo dòng biền biệt biển đông
Còn
lũy tre làng sương che bảng lảng
Sông
lấp lánh đèn nhà ai thắp sáng
Cây
vừng gie đom đóm lập lòe
Sông
không đi không ở mà tới kia
Chiều
không đầy không vơi mà man mác
Thu
không tăng không giảm mà bàng bạc
Sương
không động không khởi mà trùng trùng
Tiếng
chuông chùa tĩnh mịch mông lung
Trời
thanh tịnh đêm “Giồng Thành Cỗ Tự”
(Động
lòng kiếp vô thường sinh tử
Rưng
rưng nhớ cố Hòa thượng Chơn Như!)
Bên
sông lá vàng xao xác mùa thu
Tòa
cổ tháp chong đèn le lói
Con
đường làng im lên tiếng gọi
Lời
muôn trùng hun hút vọng đưa
Trời
đất vô biên không cõi không bờ
Ta
nghe ta cô đơn vòi vọi
Hay
ra : Ta còn lại … cái còn lại :
“Một
cõi lòng già tịch mịch trăng không…”
Cơn
gió thoảng thoáng mùi nhãn lồng
Mùi
mang mang của thơi gian vào tối
Mùi
mát lành của sương chiều giăng lối
Bụi
sông trắng bồng bềnh dưới trăng
Ta
ngồi ru ta ngàn năm:
“Yết
đế yết đế ba la yết đế
Ba
la tăng yết đế….”
Quả
thật là một bài kệ với lời kết bằng câu kinh nhật tụng để tự sữa mình. Đặc biệt,
chữ “không” mà tác giả dùng trong bài thơ này nó có thể hiểu ra hai nghĩa; một
nghĩa thông thường là “không” như là một trạng từ dùng thể phủ định để đối lại
với cái “có” và một nghìa thứ hai , theo giáo sư Nguyễn Văn Phú, tác giả
quyển Phật Giáo Yếu Lược:“Trong đạo Phật, chữ “không” có những nghĩa sau này, từ
thấp lên cao: a/ trước nhất, là “không” có tự thể, do nhiều duyên kết hợp lại,
mang cái ý không thật, tức là giả; b/ và nghĩa thứ hai cao hơn, đó là bản thể
của vạn pháp, một thứ tuyệt đối, duy nhất trong vũ trụ, không thể mô tả được,
không thể so sánh được với bất cứ cái gì cả. Bất cứ chỗ nào, bất cứ lúc nào nó
cũng hiện diện. Nó thấm nhuần vạn pháp, mọi chúng sinh. Nó mới là cái Ta thật
sự, là cái Tâm thật sự . Nó chẳng phải là cái thân xác vô thường, chẳng phải là
cái tâm lăng xăng hàng ngày. Nó là chân ngã, chân tâm.”(2)
Thành
ra, với nghĩa nào, câu thơ của Nguyễn Hải Thệ cũng có thể được hiểu là một lời
trần tình tha thiết về một lẽ nhân sinh ….
Nhưng
có lẽ sau những chuyến đi hoang như lời tác giả tự thuật trong bài thơ “Ngậm
Ngùi” để rồi trở về làng cũ với “gió bụi đường bạc phếch hồn phiêu lãng”:
“Chào
ta một kiếp đi hoang
Về
đây dừng gót lang thang tang bồng”
Nguyễn
Hải Thệ có cái chung tình với làng quê Long Sơn và bè bạn cũ. Và dường như đó
chính là cái tâm không tan không diệt, không đổi khồng dời của một ông giáo vốn
là chàng thanh niên hơn năm mươi năm trước đã làm thơ ca tụng những cuộc tình
đã đi qua đời với chất men đắm say lãng mạn một thời…
Chúng
tôi xin mời các bạn ngồi bên tách trà nóng toả hương thơm ngào ngạt hoa lài,
khói bay nghi ngút và thả hồn theo âm điệu mấy vần thơ của tác giả để nhớ lại
những ngày chơi giỡn sân trường :
“Đêm
nay cửa khép thiên niên kỷ
Bay
vèo một chiếc lá trăm năm
Dưới
đèn giở lại “Lưu Bút Ngày Xanh”
Nhớ
có một thời xa nhỏ dại
Cánh
phượng hồng ép khô bỏ lại
Màu
máu tim cành hoa học trò
Đỏ
tấm lòng chị gái năm xưa
Đỏ
nụ cười lặng yên rưng rức
Đỏ
mắt nhìn nghiêng nghiêng muốn khóc
Dấu
thời gian lớp lớp hoen mờ …”
(Ngậm ngùi)
Thơ
Nguyễn Hải Thệ dù là thơ kỷ niệm. Kỷ niệm tuổi thanh xuân. Kỷ niệm một
dòng sông, một bến nước. Kỷ niệm những ngày phiêu bồng, những ngày về làng cũ,
quê cũ. Kỷ niệm về bè bạn, về thầy cô và kỷ niệm về những phút giây quạnh quẽ
bên đời trôi chảy mãi… Nhưng đó cũng chính là những kỷ niệm của bao ngưới … Bài
thơ “Đem theo” là một ví dụ . Dù tác giả đề tặng anh chị Đoàn Đông &
Lộc Tưởng vào một buổi chia tay sau mấy mươi năm gặp lại, nhưng tác giả làm tôi
chợt dừng lại một ngày vui để ngẫm lại những bước chân lang thang của mình qua
nỗi niềm của tác giả :
“Chiều
nay ngồi bên sông Cái Vừng
Trùng
trùng sương trắng bờ lau sậy
Con
đò về lênh đênh nước nổi
Ta
lơ thơ ngó đất trời mênh mông
(Đất
trời biết có ngó ta không?)
Ta
ngồi chờ đợi không chờ đợi
Con
đường đang lên tiếng gọi
Những
dòng sông cũng đã mang mang
Những
đứa con của mặt đất lang thang
Dăm
khách quê người thân lữ thứ
Con
tim nương dâu chôn tình cố xứ
Tại
chốn xưa như ở trên đường
Ba
mươi năm bất ngờ gặp lại
Thoáng
bồi hồi nhìn nhau bạc tóc
Tiếng
cười ngọc vỡ vẫn long lanh đáy mắt
Rồi
mai em trở lại Boston
Nguồn
cội mịt mờ. Bàn chân viễn phương
Có
tiếng tiêu, sầu ai bên sông vắng ?
Con
nước rì rào. Đôi bờ tịch lặng
Đám
lau già quạnh quẽ âm thầm
Một
chút sương bay vướng khói lam
Một
chút hoàng hôn tan bàng bạc
Một
chút ngậm ngùi. Lầu Hoàng Hạc
Một
chút tình đau. Cõi phù vân
Một
chút tàn phai vát tóc phong trần
Một
chút phôi pha hoa vàng mùa cũ
Một
chút bâng khuâng bóng mây cổ độ
Một
chút rưng rưng hồn thu không
Đêm
chơi vơi rung giọt hồ cầm
Âm
sắc vỡ chân không tĩnh mịch
Rỗng
rãng thái hư. Chẳng sinh chẳng diệt
Dường
như chẳng có. Dường như chẳng không
Chẳng
phải hiểu qua. Chẳng phải vô thường
Chẳng
phải hồ nghi. Chẳng phải suy nghĩ
Chẳng
phải thu phân. Chẳng phải hạ chí
Trôi
chảy đi. Khúc “Lưu thủy hành vân”
Trong
ngôi nhà đổ Thái Thanh hát “Tình hoài hương”
Những
vô thanh rạo rực hồn viễn xứ
Làm
rúng động con tim cố thổ
Tấm
lòng đêm lẩy bẩy ánh trăng
Một
thoáng quê nhà. Em trở lại Boston
Đem
theo hồn tiếng gà trưa xao xác
Một
chút mây trắng đỉnh Thất Sơn xanh ngắt
Một
chút mai hồng lấp lánh sông xưa
Bình
yên cho đôi cánh chim giang hồ ….
(Đem theo, Long Sơn, ngày sương gió)
Qua
những vần thơ vừa ghi lại cùng các bạn, riêng tôi cảm nhận ra rằng, Nguyễn Hải
Thệ không chỉ gởi tặng anh chị Đoàn Đông & Lộc Tưởng, mà còn gởi tặng cho
anh, cho chị, cho tôi và cho các thế hệ mai sau của những người xa cố hương mịt
mù trời nước… Mỗi lần đọc lại mấy mươi câu thơ trên, lòng kẻ già và xa
quê như tôi, tôi rưng rưng muốn khóc… Thơ mà làm người đọc cảm động là
thơ đạt đến nghệ thuật tuyệt diệu rồi vậy !
Thật
thế, chúng ta thử ngồi nhìn ngắm lại từng chữ dùng vô cùng khéo léo và chính xác
của tác giả, chúng ta không khỏi nễ phục một tài thơ đang lẫn khuất giữa rặng
tre làng Long Sơn bên bờ Cửu Long sóng vỗ rì rào … Những chữ “lênh đênh”,
“lơ thơ”, “mang mang”, “lữ thứ”, “cố xứ”, “long lanh”, “mịt mờ”, “viễn phương”,
“sông vắng”, “đám lau già quạnh quẽ”, ”khói lam”, “hoàng hôn tan bàng bạc”,
“Lầu Hoàng hạc”, “phù vân”, “vát”, “phong trần”, “mùa cũ”, “giọt hồ cầm”, “tĩnh
mịch”, “rỗng rãng”, “thái hư”, “hồ nghi” , “suy nghĩ”, “Lưu thủy hành vân”,
“hồn viễn xứ”, “cố thổ”, “lẩy bẩy”, “tiếng gà trưa xa xác”, “xanh ngắt”, “lấp
lánh sông xưa”, “cánh chim giang hồ”, tất cả làm thành một tấu khúc vừa bịn rịn
vừa thương yêu mà trao cho những người thân rời dòng sông cũ trôi với lời chúc
lành không kềm được giọt nước mắt mặn đang lăn trong khóe mắt ….
Thơ
Nguyễn Hải Thệ còn nhiều bài hay như thế, những bài thơ phải trải một dòng sống
với gần bảy mươi năm sống hết mình với đời, với thơ như hơi thở một kiếp người…
Dù nay tuổi đời của ông đã cao, sức khoẻ lại mỏi mòn, ánh mắt trời cho cũng đã
mờ vì thế nhân và tuổi tác (do chứng bệnh “mắt cườm nước”) nhưng
tác giả vẫn sống một đời an phận với vài chun rượu giải sầu mỗi buổi chiều về.
Thi nhân lấy cái vui của thân nhân, gia đình làm lẽ sống, lấy cảm thông của
bằng hữu làm niềm vui, lấy thiên nhiên làm chất liệu giải bày tâm sự. Âu đó
cũng là một tài thơ bạc phận giữa bao mùa mưa nắng chốn cố hương… Xin được có
mấy dòng từ một nơi xa xôi này của một người không còn trẻ trung gì và cũng đã
nhiều bận đi qua làng Long Sơn, Long Phú, Long Thuận với con song Tiền chảy quaTân
Châu vào những mùa nước nổi như một lời cảm ơn và chia sẻ với tác giả với lòng
nễ phục vô bờ… Và, dịp này, cũng xin phép như một lời hồi đáp để trả lời một
câu hỏi của nhà văn Nam Dao cách nay gần môt năm, đại ý : “Sao miệt vườn không
thấy ai làm thơ giống như thơ Lục Vân Tiên mà cứ bắt chước miền ngoài ?” Xin thưa:
Ở miệt vườn Long Sơn (Tân Châu) ngày nay có một người làm thơ như thế : thi sĩ
Nguyễn Hải Thệ, một ông giáo già nhà quê đã làm thơ hơn năm mươi năm và tuổi đời
xấp xỉ bảy mươi . Ông làm thơ không cầu danh mà chỉ cầu an, không mong có nhiều
người đọc mà chĩ đễ một mình mình đọc, như một chút gì còn lại ở tuổi xế chiều
hầu an ũi tuổi già vào những ngày sống âm thầm lặng lẽ dưới rặng tre xanh rì rào
của xã Long Sơn (Tân Châu), một chỗ quê hương từ lúc mới chào đời cho đến ngày
bạc tóc, không rời xa được !!!
Houston ngày 04 tháng 12 năm 2007
Phụ Chú: