Trang Chính    Hình Ảnh    Bút Ký    Truyện Ngắn    Hộp Thư    Truyện Thật Ngắn    Thơ    Góp Nhặt    Sức Khỏe và Gia Đình   
Cùng Tác Giả   

 

Lương Thư Trung

 

Về Dallas, một chuyến đi khó quên

 

Đây là lần đầu tiên tôi về thăm Dallas sau 16 năm ở Mỹ và sau hơn hai năm về định cư nơi thành phố Houston. Lúc còn ở Boston, Phạm Chi Lan và các bạn trong nhóm Ô Thước có mời tôi về Dallas để họp mặt dịp cuối năm 1999 hoặc các lần sau đó, nhưng lần nào cũng như lần nào, tôi thường viện lý do không biết đường đi để không đi chơi Dallas được. Mà quả thật là tôi cũng chẳng biết đường đi nước bước gì với một thành phố xa xôi này. Mấy lúc gần đây, tôi cũng hứa với anh Phan Xuân Sinh là tôi sẽ lên Dallas thăm anh chị và tiện dịp thăm các bạn Phạm Chi Lan, Nguyên Nhi, Đinh Yên Thảo , Ian Bùi, Phan, Thu Thuyền, Hoàng Nam, Nhật Hoàng cùng anh chị Nguyễn Xuân Thiệp luôn thể. Nhưng rồi lại ngại đường xá quá xa, có đến 300 miles, lái xe khoảng 5 tiếng đồng hồ, mà tôi lại ngại lái xe trên xa lộ, hổng biết mình có đủ sức khoẻ  để ngồi ở tay lái với đoạn đường dài và lâu như vậy không?

 

Và anh Phan Xuân Sinh lại rủ 26 tháng 7 năm 2008, có Đức Phổ, Đỗ Xuân Quang từ Atlanta qua chơi; rồi có anh chị Bùi Thạch Trường Sơn, trước cùng ở Boston, sau thời gian dời xuống Florida, nay cũng về định cư ở Dallas, anh Phan Xuân Sinh muốn tôi lên Dallas chơi, sẵn dịp anh có mời các bạn trong nhóm Ô Thước cũ hầu giới thiệu thi tập mới nhứt của anh trong vòng thân mật luôn thể .Với một người bạn hết lòng với anh em như anh chị Phan Xuân Sinh, tôi chỉ còn một lựa chọn duy nhất là đi thăm anh chị trên Dallas; nhưng còn đi bằng cách nào thì từ từ tôi sẽ tính sau.

 

Lúc đầu tôi dự định lái xe đi như đã có ý này từ đầu, nhưng lại lo đường xá xa xôi mà mình không quen lái xa lộ, nên ý này tạm gác qua. Tiếp đến là đi xe bus. Xe bus, ở Houston, phải lên khu Downtown mới có xe, nhưng không biết khi tới Dallas, xe sẽ ghé chỗ nào. Còn có cách khác là đi xe đò “Sài Gòn tốc hành”, xe khởi hành ở Hồng Kông 4  dưới này và sẽ ghé lại chợ Hồng Kông trên Dallas. Cách này coi như là tiện lợi nhất. Sau cùng, có anh chị Lê Minh Giang ở cùng xóm cũng muốn đi Dallas chơi, thế là anh chị cho vợ chồng tôi quá giang lên Dallas, vừa có bạn nói chuyện dọc đường vừa đở phải lo lạc đường…

 

Xa lộ 45 về hướng Bắc dài hun hút. Ngồi trên xe, tôi thấy hai bên đường có chỗ không có nhà, mà xa xa là bóng dáng những chú bò lang thang giữa cánh đồng cỏ khô cằn dưới cái nắng gay gắt của vùng đất bao la tận phía Nam này của Hoa Kỳ  Đi trên đường này lần đầu, nên tôi có ý so sánh nó với con đường từ Phan Thiết chạy dài ra Phan Rang, Cam Ranh, Nha Trang vì ở những chốn quê hương đó cũng có những cánh đồng cỏ khô chạy dài vùng Phan Lý Chàm, Tuy Phong; cũng có những chú bò, chú ngựa, chú dê đi lang thang vùng Tháp Chàm, Phan Rang  rẽ về Đa Nhim, Đà Lạt và ra tới Cam Ranh, người ta sẽ thấy mặt nước biển làm mát bầu trời vào trưa hè, thì ở đây, xa xa cũng có vài cái hồ lớn mang lại cảm giác trời đang dịu mát lại.dần

 

Sau khi đi hết đoạn đường xa lộ 45 N, theo chỉ dẫn của chiếc máy dẫn đường, anh Lê Minh Giang cho xe vào exit 276B của 45 N, để tẽ qua con đường 20E, rồi FM148, hướng về xa lộ liên bang 80E để qua con dường 34N và nhập vào đường 276 về hướng có hồ Tawakoni, một cái hồ thiên nhiên bao la nằm giữa một vùng quê heo hút này.

Và sau khoảng 5 giờ lái xe, xe đã đến nhà anh Phan Xuân Sinh thuộc vùng West Tawakoni.như dự tính.

 

Lúc đầu vì chưa biết đường, tình cờ chúng tôi chạy lạc tới hồ Tawakoni. Thấy cảnh đẹp, anh Giang cho xe chạy vòng quanh hồ một hồi; sau về kể lại, anh Phan Xuân Sinh nói hồ này là tên của một người da đỏ, hồ rất nhiều cá và Khoa, con trai anh Phan Xuân Sinh thường câu cá Bass ở đây, được nhiều con cá bass rất lớn.

 

Qua internet, được biết mặt hồ Tawakoni rộng 37.879 mẫu và chiều sâu tối đa 70 feet . Hình dáng của hồ giống như một thận cây toả ra thành ba nhánh mà gốc rộng nằm về hướng nam, dựa lưng vào xa lộ FM 47 với nhánh thứ nhứt tẽ về hướng tậy băng qua xa lộ FM 429 và FM 751; nhánh thứ hai tẽ về xa lộ 34 lên tận tới vùng đất của Quinlan và nhánh thứ ba chạy về hướng bắc nằm giữa vùng Lone Oak và Hunt. Con đường 276, nơi anh Phan Xuân Sinh đang ở chạy ngang qua hồ nối với xa lộ FM 35 với chiếc cầu dài gần  mấy cây số về hướng East Tawakoni bên kia hồ.

 

Hồ Tawakoni có nhiều cá và dĩ nhiên nơi đây cũng có nhiều giống chim cò, đặc biệt là rất nhiều vịt trời. Các giống cá thường thấy ở hồ này là giống Largemouth Bass, Catfish, loại  cá Crappie sống gần cầu và dựa vào các gốc cây ở đây. Ngoài ra, còn có các giống cá bass khác như White Bass, Hybird Bass, Striped Bass.

 

Theo thống kê năm 2000, thì thành phố này có dân cư khoảng 1.462 người với diện tích thành phố khoảng 5.5 km2 và phần còn lại là diện tích đồng cỏ khoảng 5.4 km2 nữa và mặt nước chiếm khoảng 0,47% toàn diện tích của vùng Tawakoni. Điều này cho thấy, giữa vùng khô cằn này, sự có mặt của hồ Tawakoni như một kỳ quan của thành phố; chẳng những nó làm đẹp thiên nhiên mà còn làm mát mẻ cho cư dân nơi này với một hồ nước bao la bát ngát giữa nội ngàn.

 

Về các sắc dân ở nơi anh Phan Xuân Sinh đang ở, cũng theo thống kê năm 2000, bao gồm người da trắng chiếm 93,30%, người Mỹ gốc Châu Phi rất ít, chỉ có 0,07%, dân bản địa là 2,39%, Asian chỉ 0,48%, Hispanic hoăc Latino chiếm khoảng 4,31%. Quả thật như vậy, sau ba ngày tôi ở chơi , tôi quan sát thử thì thấy những khách hàng của anh toàn là Mỹ da trắng, ít thấy các sắc dân khác đến mua hàng hóa, bia rượu hoặc đỗ xăng nơi cây xăng của anh . Ở tiệm tạp hóa của anh Sinh, anh có đặt hai cái bàn  với bảy tám cái ghế, sáng nào cũng vậy, vào khoảng 5, 6 giờ là có những ông bà già người Mỹ đến ngồi nhâm nhi ly cà phê nóng và tâm tình đủ chuyện giống y những quán cà phê nhà quê bên nhà. Cái không khí quen quen mà thân ái ấy dường như tôi mới gặp lần đầu nơi vùng quê của  West Tawakoni này.

 

Khái lược qua vài nét về nơi anh chị Phan Xuân Sinh đang ở, tôi và anh Giang mới thầm than phục cái quyết định của anh chị khi chọn nơi này làm quê hương thứ hai của mình. Phải bản lĩnh dữ lắm mới đến một vùng quê hoàn toàn xa lạ này để lập nghiệp là một tấm gương cho nhiều bạn trẻ còn nhiều cơ  hội chọn nơi sinh sống cho mình. Không cứ gì phải sống nơi thành phố lớn, tiếng tăm, mà nơi nào thiên thời, địa lợi, nhơn hoà là nơi đó giúp mình sống được. Anh Phan Xuân Sinh quả đã thành công khi chọn cho mình nơi định cư là đã nhằm ba yếu tố làm nền ấy vậy.

 

Buổi chiều, sau khi anh đóng cửa tiệm, anh Phan Xuân Sinh lái xe đưa chúng tôi lên Dallas ăn tối ở quan Năm Hứa. Vì trời tối và lạ nơi, nên tôi không biết quán này thuộc vùng nào của Dallas. Nhưng từ chỗ anh Sinh, West Tawakoni, cách Dallas khoảng 50 miles với gần một giờ lái xe, con đường dẫn về Dallas đi qua cái hồ rộng khác, xa xa trông như một biển rộng về phía chân trời. Vì là người từ xa đến, tôi không biết hồ tên gì, nhưng  phải công nhận hồ quá lớn và đẹp. Những chiếc ô-bo chạy rào rào trên mặt nước mang theo những người trượt nước giống như cảnh trượt nước trên bến sông nơi công viên Nguyễn Du thị xã Long Xuyên bên dòng An Giang của thời Pháp còn ở Việt Nam vào những năm thập niên 1940.

 

Bữa ăn tối, ngoài anh Nguyễn Xuân Thiệp, một bậc lão tướng của giới chữ nghĩa nơi này và hải ngoại với tờ báo PHỐ VĂN mà anh đang làm Chủ Bút mà tôi hân hạnh gặp anh trước đây, tôi lại được anh Phan Xuân Sinh giới thiệu anh Nhật Hoàng, người sáng lập tuần báo TRẺ, ngoài ra còn có người bạn trẻ chưa biết mặt nhưng tôi rất thích đọc các bài viết của anh trên Talawas, trên Thời Báo Houston với đề mục “Góc của Phan”, đó là tác giả ký tên Phan, mà tôi rất ái mộ. Trong mâm cơm gồm anh chị Phan Xuân Sinh, anh Nguyễn Xuân Thiệp, Nhật Hoàng, Phan và vợ chồng tôi, riêng anh chị Lê Minh Giang vì đi thăm chị bạn của chị Giang vùng Irving nên vắng mặt, dù đã quen nhau hay mới gặp lần đầu, nhưng đã đọc văn của các tác giả viết đó đây rồi, trong trò chuyện rất cảm thông, gần gũi, chân tình giống như bạn thân lâu ngày gặp lại. Ở đây không có chỗ cho những rào đón, khách sáo, màu mè mà chỉ còn cái cảm mến là qúi, cái tình cảm là bền, cái chơn chất là thước đo lòng tử tế. Bữa cơm tối hôm ấy thật ngon, không phải ngon vì món ăn lạ, mà ngon vì cái tình thân ái giữa những người bạn cũ mới giữa dặm trường…

 

Ngày thứ bảy, vợ chồng tôi theo anh Phan Xuân Sinh ra phi trường đón anh Đỗ Xuân Quang từ Atlanta qua, rồi hẹn găp vợ chồng Thu Thuyền, ăn cơm ở khu chợ Hồng Kông. Gặp lại Thu Thuyền và Nam, đôi vợ chồng trẻ này sắp rời Dallas về làm việc bên Phi Luật Tân, cũng là một trong các ưu tiên trong chuyến đi chơi Dallas lần này của tôi, vì lâu qua rồi tôi không gặp Thu Thuyền, từ những ngày cô ghé thăm tôi trên Boston dịp anh Phan Xuân Sinh cho ra mắt tập thơ Đứng Dưới Trời Đỗ Nát vào mùa Hè năm 2000.

Gặp lại Thu Thuyền và Nam để có lời cầu chúc cho hai bạn thượng lô bình an và sống một đời hạnh phúc bên nhau mãi mãi nơi xứ xa giữa biển Thái Bình.

 

Chiều lại, anh Đức Phổ cũng từ Atlanta đến. Anh chị Phan Xuân Sinh chở vợ chồng tôi và anh Đỗ Xuân Quang đến toà soạn tuần báo TRẺ, thuộc Garland. Ở đó, chiều nay có buổi họp mặt trong vòng thân mật các bạn bè trẻ của anh Phan Xuân Sinh và cũng để cho trình làng tập thơ mới của anh “Khi Tình Đang Ru Đời”. Trong không khí thân mật, ấm cúng, mà trang trọng, thanh nhã, nhìn lướt qua không khí phòng khánh tiết của báo TRẺ, tôi thấy thiệt là thân ái. Qua giới thiệu của bạn Đinh Yên Thảo, một cựu Ô Thước và là một thành viên Ban biên tập tạp chí “Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng”, tôi được biết cô Phạm Chi Lan chủ biên tạp chí Văn Học Nghệ Thuât Liên Mạng và nhóm Ô Thước, cùng phu quân là nhà thơ Nguyên Nhi, rồi còn có các bạn Ô Thước khác như vợ chồng  Ian Bùi và Tú,  vợ chồng Tôn Thất Phương,  vợ chồng Thu Thuyền – Hoàng Nam. Ngoài ra, còn có vợ chồng Bảo và Kiêm Anh. Chủ trì đêm nay là Nhật Hoàng Chủ nhiệm tuần báo Trẻ cùng ban điều hành của tuần báo này như Nguyên Trang, Đinh Yên Thảo, Hoàng Nguyễn, Thọ Đỗ, Hoàng Oanh, Kim Liên, Tường Vân, Bảo Huân, tất cả họ còn rất trẻ đúng như tên gọi tờ báo mà họ đang theo đuổi.

 

Về phía người trọng tuổi, tôi thấy có anh Nguyễn Xuân Thiệp, anh chị Lê Minh Giang, người khách từ Houston cùng đi với vợ chồng tôi. Ngoài hai anh Đỗ Xuân Quang và anh Đức Phổ từ Atlanta đến dự buổi họp mặt này, chúng tôi còn gặp lại anh chị Bùi Thạch Trường Sơn và Tạ Khánh Yên, vốn biết nhau từ hồi trên Boston, sau khi về Florida, nay anh chị dừng lại Dallas này như một bến bờ mới trong dòng đời luôn trôi mãi giữa đất trời. Gặp lại anh chị, tôi vừa mừng vừa như thầy ấm lòng vì biết được có người quen đang cùng chung vui với anh chị Phan Xuân Sinh tối nay như ngày nào còn trên Boston những ngày thân ái cũ…

 

Nhắc về tập thơ mới của anh Phan Xuân Sinh, “Khi Tình Đang Ru Đời”, tôi nghe tên tập thơ khá lâu và nghe tin về sự ra đời của nó nhơn chuyến anh Phan Xuân Sinh về quê ăn Tết vừa rồi. Tập thơ cũng đã dược giới thiệu với giới văn nghệ và bằng hữu của anh ở quê nhà trước năm 1975 và sau này tại Đà Nẵng và Sài Gòn qua loạt bài “Chuyến về quê nhà” của anh Phan Xuân Sinh đăng trên Talawas, thành ra, tôi rất háo hức muốn nhìn thấy nó như thế nào khi anh bạn mình mang nó bên đời. Phan Xuân Sinh không kiểu cách, cầu kỳ mà chỉ mơ có một điều :”Từ lâu, tôi ao ước thơ của mình được bạn bè rộng rãi đọc, được nghe những lời thẳng thắn phê phán…. Tôi hy vọng đây là món quà tôi đã chắt chiu dành dụm cho bạn bè tôi từ lâu, bây giờ mới có dịp trao đến tận tay từng người.”(1)

 

Bước vào “Khi Tình Đang Ru Đời”, bìa do hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi vẽ, với những nét vẽ quen thuộc của Nguyễn Trọng khôi về cô gái trong tranh làm bìa sách gần gũi mình như lần nào nhìn bức tranh “Con suối mùa Xuân” của anh đã tặng tôi. Được tác giả cho biết nguyên bản của thi tập này dày trên 200 trang, nhưng nhà xuât bản Văn Nghệ (Sài Gòn) đã lọc bỏ chỉ còn vỏn vẹn 122 trang, theo anh đó là một điều làm anh không hài lòng lắm về tác phẩm mới của mình, nhưng như anh tâm sự, dù sao cũng đã có được món quà mọn cho bạn bè cũ của anh trong nước vì lý do sách anh in ở đây khó mang về để tặng bạn bè.

 

 Dịp này anh Đỗ Xuân Quang ngâm bài “Đêm mơ về Sài Gòn”với giọng ngâm sành điệu:

 

“Khi hôm, nửa đêm ta thức giấc

Sau giấc mơ, ta thấy bùi ngùi

Mơ thấy người mặt tươi hớn hở

Trẻ thơ đùa với những cuộc vui

 

Mơ thấy dòng sông quê êm ả

Đứng trên cầu thả hồn bay cao

Gió thổi vi vu vào chân tóc

Em có nghe lời tình tự không nào ?

 

Những thằng bạn ngồi bên quán rượu

Nhâm nhi vài ly đế đưa cay

Tiếng nói tiếng cười sao rạng rỡ

Ta muốn nhào vô cuộc vui này

 

Ta mơ đứng trước hiên nhà cũ

Thấy vòm trời hoa giấy tủm tỉm cười

Người đến thăm mừng người trở lại

Ta như người khách lạ giữa quê người

 

Sài Gòn của ta trong khói bụi

Sao ta vẫn thương như tình nhân

Thỉnh thoảng vẫn mơ trong giấc ngủ

Người với ta vẫn nối tình thân.”

 

   (Khi Tình Dang Ru Đời, trang 103)       

 

Với giọng Huế ấm trầm và ngọt, Đức Phổ ngâm bài ‘Khi nghĩ về quê nhà” làm rung động trái tim mọi người có mặt:

 

“Ta đã quá giang qua biển bắc

Trời rộng rinh nhưng chật một chỗ nằm

Ta đi tìm giữa thinh không vắng lặng

Đời mơ hồ cơn gió thổi trăm năm

 

Ta đến đây như một người tiền sử

Sống vô ngôn, ôm mãi một giang sơn

Đôi mắt hẹp tìm không ra chỗ đứng

Lòng bâng khuâng, mặt ngập những tủi hờn

 

Khi thiên hạ đã bước vào vũ trụ

Ta lếch tha lếch thếch tấm thân tàn

Trí mãi quẫn quanh chưa thoát vòng cơm áo

Trên lưng còm đèo mấy chuyện cưu mang

 

Ta cứ mãi mơ về nơi cố xứ

Để đắm mình dưới một dòng sông

Để nghe lại lời mẹ cha thủ thỉ

Để mở toang bao cánh cửa tâm hồn

 

Ta sẽ ngồi đợi em bên cầu gió thổi

Tiếng sáo ru, tiếng sóng vỗ mạn thuyền

Dù đã biết lỡ một thời tình sử

Lạc tự bao giờ tiếng hót vành khuyên

 

Ta thấy nhói đau mỗi lần lục lại

Trái tim mình cạn kiệt những chờ mong

Tóc đã thay bao lần sương tuyết

Mắt đã mờ qua mấy lớp rêu phong

 

Nối lại giùm ta con đường quê cũ

Những tấm lòng trải giữa lối đi

Những con người sống bằng tình tự

Bằng câu ca rợp bóng xuân thì

 

Là cái lúc lòng đăm chiêu thác loạn

Những quay cuồng háo hức chờ mong

Những lưỡi dao cứa vào thân lưu lạc

Mắt ứa đầy thao thức nhớ Biển Đông

 

Khi ngọn gió cuối mùa se sắt

Thổi vào ta từng nhịp thở dập dồn

Đời quẩn quanh theo tháng ngày ly xứ

Tình đã bay xa qua những mỏi mòn”

                       Oakland, 20-7-1993

(Khi Tình Dang Ru Đời, trang 41)

 

 Trong tâm cảm một người xa quê như tôi, tôi nghe cảm xúc chực trào…

 

Thêm vào đó còn có bài thơ lục bá t “Thêm một bài thơ cho vợ hiền” do Hoàng Định Nam đọc, tứ thơ rất êm đềm, lãng mạn, lời thơ thật tha thiết và giọng đọc trầm, rất ấm làm không khí đêm hội ngộ thêm trữ tình, quyến luyến:

 

“Một mai có kiếp luân hồi

Ta xin trở lại một đời làm thơ

Một đời thoả những ước mơ

Tình như đã chin bên bờ ngủ say

 

Em nằm yên ngủ trên tay

Ta nằm yên thấm những ngày có nhau

Từng đêm chung gối tựa đầu

Một lời đã thấu ơn sâu nghĩa tình.

 

Bóng thời gian đã qua nhanh

Yêu nhau rực chin ngọn ngành yêu thương

Trải đời qua mấy dặm trường

Vẫn đeo nhau mãi một đường Thiên Nga”

(Khi Tình Đang Ru Đời, trang 94)

 

Trong phần góp vui này, nhà văn Nguyễn Xuân Thiệp cũng có đọc một bài thơ rất hay mà anh thuộc nằm lòng cho cử toạ thưởng lãm.

 

Ngoài ra trong thi tập này, tôi cũng mê bài thơ “Thú thật với lòng”, nó nói lên cái chân tình của nhà thơ cùng lòng thủy chung trọn vẹn với người bạn đời luôn có bên mình. Bài thơ bắt đầu bằng những câu như sau:

 

Thương cho mình một đời khốn khó

Đi trên một chân mà lội khắp địa cầu

Từ Đông sang Tây đường dài thăm thẳm

Gậy trúc trên tay khập khiểng bước mau

 

Cơn gió thoảng suốt đời ta thống thiết

Văng mạng giữa thời đất nước điêu linh

Xô giạt đất trời làm cơn hồng thủy

Tận thế đến nơi mà Chúa chẳng Phục sinh

 

Bão tố ào ào bật tung cội rễ

Đánh gục ta ngã giữa sân chơi

Một thời trai kể như liệng mất

Đường quan san trên đôi nạng chống đời

 

Ta gặp em giữa hoang tàn đỗ nát

Em đưa tay đỡ dậy một hồn ma

Tình nhỏ xuống ta như là phép lạ

Bật sáng lên giữa tâm tối mù lòa

 

Em dìu ta qua đầu ghềnh cuối bãi

Hồn nhẹ tênh như áng mây trời

Ta nhặt lại từng mảnh đời tơi tả

Để những câu thơ thấm đọng lòng người

 

Những câu thơ chắt chiu từng giọt máu

Oan khúc một đời ụp xuống đôi vai

Nó rưng rức như rốc da xẻ thịt

Một thân tàn ai bẻ gãy làm hai

 

Ta dù có kêu Trời hay khẩn Phật

Thì cũng đâu bằng ta có em

Có tìm khắp hang cùng ngõ tận

Thì tình ta cũng chẳng dày thêm

 

Ta đã cùng em đi nửa vòng trái đất

Bằng đôi chân vừa thật vừa hư

Nắng sớm mưa chiều đâu có ngại

Đời bên em ta cảm thấy reo vui.

 

            Dallas, Tết Đinh Hợi, 2007

(Khi Tình Đang Ru Đời, trang 78)

 

Thi tập “Khi Tình Đang Ru Đời” là những bài thơ ngọt ngào như thế đó, nó chan chứa những cảm xúc dạt dào, nó đầy ấp những ước mơ bên dòng đời có thật, nó tha thiết với bằng hữu, và nó là tất cả những tâm tình của một thi sĩ đầy tình người dành cho bạn, cho tôi và cho mọi người nơi quê nhà cũng như nơi chốn này. Những bài thơ như Quê nhà, Thở bằng trái tim em, Bữa rượu ở Atlanta, Khi tình đang ru đời, Một đời giữ cho nhau, Đêm tự tình, Một thời giông bão, Ngã vội trên tay người, Thơ dành cho một người, Người đứng lại đời ta, Nỗi niềm,  Nợ nhau, Nợ người, Uống rượu với bạn hiền…. là những vần thơ chở đầy tình tri kỷ, tri ngộ như vậy…

 

Phụ diễn trong đêm thơ Phan Xuân Sinh còn có tiếng hát của anh Bùi Thạch Trường Sơn, người cùng với các nghệ sĩ Nguyễn Trọng Khôi, Hoàng Long, Ngọc Phong , Khánh Yên lập ra quán VĂN trên Boston với các chương trình nhạc chủ đề. Đêm nay, anh Bùi Thạch Trường Sơn hát lại bài Đêm Nhớ Về Sài Gòn như mọi khi anh vẫn hát. Giọng hát của anh được một bạn trẻ ngồi bên tôi, Phan, nhận xét:” “Lâu lắm rồi tôi mới được nghe một giọng hát chuyên chở được trọn vẹn cái hồn bản nhạc.”

 

Ngoài ra, còn có Quán Bên Đường với giọng ca của Ian Bùi, một bạn Ô Thước cũ hát. Còn có Nguyên Nhi, tác giả của thi tập Quái Phong, phu nhân của Phạm Chi Lan. Nguyên Nhi làm thơ như một tráng sĩ không gặp thời. Hơi thở trong thơ anh có chút nghẹn ngào mà mạnh mẽ, quyết liệt. Đêm ấy anh ngâm bài Đôi Mắt Người Sơn Tây mà không ngâm thơ mình. Giọng ngâm bỗng trầm rất ăn khách làm bài thơ dù đã cũ mà vẫn hấp dẫn mọi người. Nhưng có lẽ cũng nên nhắc qua vài câu thơ của Nguyên Nhi như một dạo khúc lúc tàn tiệc vui qua bài thơ “Có một thời như thế” . Bài thơ dài 11 đoạn với hai đoạn mở và kết như dưới đây:

 

“Có một thời như thế, mấy đứa mình

Gió chẳng cài khuy, mưa quên ướt áo

Lửa loạn đầu thành, ven đô giặc pháo

Cuống phổi thơ non hộc máu căm hờn

 

Độ ấy ta đi, thao thức sách đèn

Cánh phượng tím bầm, ve khan rưng rức

Tấm ảnh quắt queo, buồn se lưu bút

Một hớp cà phê ngây ngất quan hà”

…………………

 

“Ôi, đẹp lạ lung cái thuở ta đi

Men chiến thắng không át điều nhân nghĩa

Lỡ  vận sa cơ vẫn thừa liêm sĩ

Khinh đứa trở cờ, bẻ gối giao lưu

 

Viễn xứ, buồn, rót một chén, liu riu

Nhớ quá lúc dựa lưng chờ xuất kích

Thuyền ai đó khua trăng đầu sông Dịch

Lại thương gì đâu mấy đứa một thời…”(2)

 

Và có lẽ bài thơ tình nhất của Nguyên Nhi mà tôi đọc được và nhớ khi gặp Phạm Chi Lan và Nguyên Nhi lần này là bài thơ bốn câu :”Nhớ Chi Lan”:

 

“Lan là em (hay chính em là đoá ?)

Nở trong anh vội vã một xế chiều

Anh bối rối với trăm điều thật lạ

Giữa lòng anh sầu tạ biết bao nhiêu”(3)

 

Thật lãng mạn biết dường nào !!!

 

Nhân nhắc Phạm Chi Lan, dù tôi quen và viết cho Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng từ những năm đầu ấy tính đến nay đã gần 13 năm, nhưng chưa lần nào gặp mặt Cô Chủ Biên, mà ngày ấy chúng tôi hay gọi Phạm Chi Lan như vậy. Đêm thơ anh Phan Xuân Sinh, rất may, tôi được gặp Phạm Chi Lan, dù ngày nay tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng đã đình bản , nhưng sao tôi vẫn thấy Phạm Chi Lan vẫn như một Cô Chủ Biên ngày nào với lòng cảm mến của tôi dành cho các bạn trẻ có tài và có lòng.  Ngoài đời, với khuôn mặt tròn, ánh mắt sáng, nụ cười kín đáo, Phạm Chi Lan để lộ nét đằm thắm, điềm đạm nơi cô, khác với văn phong sắc sảo, mạnh mẽ, sâu sắc, quyết liệt mà tha thiết, chân tình nơi những lá thư văn học cho mỗi số báo phát hành cũng như trong tập truyện đầu tay “Miền Lặng” của cô do Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng in và phát hành năm 2002.

 

Xin ghi lại vài nhận xét của Thận Nhiên khi đề tưạ tác phẩm này:

“Khí quyển văn chương Phạm Chi Lan là khí quyển trầm, tĩnh lặng, giàu tính suy tưởng. bang bạc cái đẹp nhân ái của tình yêu với con người, với quê hương, với cuộc đời. Những cảm xúc được điều tiết một cách tài hoa và lòng trân trọng chữ nghĩa. Đọc Lan, tôi đọc chậm. Văn phong này không làm người đọc choáng váng, sửng sốt vì những bóng bẩy của chữ, sắc sảo của ý. Nhưng nó bắt tôi dừng lại, cảm nghiệm sự tinh tế, mượt mà nó muốn bày tỏ.”(4)

 

Còn Nguyễn Phước Nguyên, Phụ tá chủ biên tạp chí Văn học Nghệ Thuật Liên Mạng có nhận xét trong “Lời Bạt”:

 

“Điều tôi nâng niu nhất trong các sáng tác của Phạm Chi Lan là khả năng đó. Dùng sự thinh lặng bên ngoài để đưa nhận thức của người đọc về tiếng sét nổ bên trong. Lấy hình ảnh bất động để ấn tượng hoá một góc nhìn sôi động. Ở đó, văn phong của Phạm Chi Lan đã là cá biệt.”(5)

 

Nhơn dịp vui này, tôi cũng đứng lên cảm ơn tấm chân tình của anh chị Phan Xuân Sinh đã có nhã ý mời các bạn Ô Thước cũ để tôi gặp mặt sau 13 năm quen biết nhau mà chưa gặp nhau lần nào. Tôi cũng xin cảm ơn các bạn đã dành cho tôi nhiều tình cảm qúi báu sau nhiều năm dài và nhờ lòng ưu ái của các bạn ngày xưa cũng như bây giờ mà tôi mới có được những trang viết đầy tình tự nhà quê như vậy. Dịp này tôi cũng lên hát vài câu trong bản nhạc “Trăng Phương Nam” để góp vui dù tôi không biết hát hò gì.  Tiệc vui đã quá nửa đêm mà các bạn vẫn ngồi lại, không muốn về. Phải chăng đó là nét chân tình của các bạn dành cho anh chị Phan Xuân Sinh nói riêng và các bạn ở xa như chúng tôi? Xin chân thành cảm ơn các bạn về lòng hiếu khách đó.

 

Sáng hôm sau, chúa nhật, 27-7-2008, trên đường về, chúng tôi ghé qua nhà vợ chồng Phan và Khanh. Căn nhà nhỏ nhưng tươm tất và ấm cúng. Đến nơi, Phan đã bắt lò nướng thịt từ sang sớm. Mùi thịt nướng thơm bay khắp sân rộng. Chờ anh chị Nguyễn Xuân Thiệp, vợ chồng Tú và Ian Bùi, vợ chồng Bảo và Kiêm Anh, Nhật Hoàng, anh Bùi Thạch Trường Sơn và chị Khánh Yên. Lại một tiệc vui mới lại bắt đầu với các bạn của Phan và Khanh cùng chúng tôi bên này có anh chị Phan Xuân Sinh, anh chị Lê Minh Giang, anh Đỗ Xuân Quang, anh Đức Phổ và vợ chồng tôi.

 

Trong mối chân tình, tôi nhận ra rằng Phan dù trẻ nhưng luôn mến thương người cao tuổi. là một người theo đuổi ngành mô phạm nhưng Phan lăn lóc giữa dòng đời như một một chiếc thuyền độc mộc chống chọi với mọi bất trắc trên dòng sông đời nhiều ghềnh thác. Đọc văn của Phan tôi nhận ra điều ấy. Trong văn của Phan rất phong phú về sự kiện, rất sâu sắc về ý tưởng và rất gần với sự thật ngoài cuộc đời. Điều đó cho thấy Phan đã sống nhiều, từng trải nhiều và và biết mang những chất liệu ấy vào những dòng chữ của mình một cách mới mẻ mà hấp dẫn lạ kỳ. Có lẽ vậy mà tuần báo Thời Báo ở đây đã dành cho Phan một chỗ ngồi trịnh trọng, đó là “Góc của Phan” trên Thời Báo chăng?

 

Khi đi Dallas, tôi thấy đường dài hun hút, nhưng bận quay về, những mẫu chuyện về cuộc vui làm đường xa ngắn lại dần. Khi tôi gọi điện thoại báo cho anh Phan Xuân Sinh là vợ chồng tôi và anh chị Lê Minh Giang đã về đến nhà bình an mà vẫn còn nghe tiếng cười trong tiệc rượu… 

 

Cảm ơn các bạn trẻ đã có mặt. Cảm ơn các bạn Ô Thước cũ và Văn Học Ngệ Thuật Liên Mạng một thời. Cảm ơn Phạm Chi Lan và Nguyên Nhi, cảm ơn Đinh Yên Thảo, cảm ơn Tú và Ian Bùi, vợ chồng Tôn thất Phương. Cảm ơn Phan. Cảm ơn Nhật Hoàng. Cảm ơn anh Hoàng Định Nam. Cảm ơn vợ chồng Kiêm Anh và Bảo. Cảm ơn anh chị Nguyễn Xuân Thiệp,

anh Đỗ xuân Quang, anh chị Bùi Thạch Trường Sơn, anh Đức Phổ. Đặc biệt cảm ơn anh chị Lê Minh Giang, người đồng hành đã đưa  giùm chúng tôi đến với buổi họp mặt này. Và sau cùng và cũng như trước hết, vợ chồng tôi chân thành cảm ơn nhã ý của  anh chị Phan Xuân Sinh lấy cớ đêm ra mắt tập thơ “Khi Tình Đang Ru Đời” để chúng tôi có những ngày vui và gặp gỡ đáng nhớ này. Nói như Phan, trong bài viết sau tiệc vui ở nhà Phan là “Xin cảm ơn đời”. Tôi cũng xin “cảm ơn đời” đã cho tôi có cuộc hạnh ngộ thật êm đềm, khó quên này giữa vùng Dallas nóng ơi là nóng. Phải thế không bạn trẻ mới gặp lần đầu với món bò tái chanh trong “Tuyệt tình cốc” thật là ngon?

 

Houston, 31-7-2008

 

Phụ chú:

1/ Lời Mở Đầu trong thi tập “Khi Tình Đang Ru Đời” của Phan Xuân Sinh, nhà xuất bản Văn Nghệ (Việt Nam) in và phát hành, tháng 01 năm 2008, trang 7..

2/ “Quái Phong”, thơ Nguyên Nhi, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng xuất bản, năm 2000, trang 79.

3/ Thi tập Quái Phong, sđd, trang 128.

4/ Tập truyện “Miền Lặng” của Phạm Chi Lan, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng xuất bản năm 2002, trang10.

5/ Tập truyện Miền Lặng, sđd, trang 229.