Lương
Thư Trung
Vài
ghi nhận về cái đẹp trong văn của Phan Xuân Sinh
(Nhân đọc lại bản
thảo tác phẩm “Sống Với Thời Quá Vãng)
Cái đẹp là một cái
gì rất khó nói. Khó nói bởi vì với người này nó có thể đẹp, nhưng với người khác
thì nó không đẹp. Sở dĩ có những trái ngược nhau như vậy không phải do cái đẹp
làm chi phối trong con người mà do con người quan niệm về cái đẹp khác nhau. Người
theo lề lối giáo dục cũ nghĩ về cái đẹp nó khác hơn người theo nền giáo dục tân
tiến sau này. Và nó cũng còn do ở tuổi tác và hoàn cảnh sống của mỗi ngưới nữa
.Người trẻ quan niệm thế nào là đẹp khác với quan niệm về cái đẹp của người già
. Do vậy, trước khi nói về cái đẹp trong tác phẩm mới của Phan Xuân Sinh, “Sống
Với Thời Quá Vãng”, tôi xin thưa trước rằng, ở đây tôi ghi lại qua cảm nhận của
một người không còn trẻ nhưng có một thời trẻ gần như đồng thời, hoặc xê xích vài
ba năm so với tuổi đời của tác giả khi anh viết về những nỗi niềm trong quá vãng
của anh mà tôi cảm nhận ra được rằng đây chính là những trang sách rất đẹp.
Tác phẩm “Sống Với
Thời Quá Vãng” của Phan Xuân Sinh gồm các truyện và bút ký như “Những con người
hiển thánh”, “Ánh sáng cuối đường hầm”, “Cơn đau không dứt”, “Hai tay quy hàng”,
“Khi con đường không lối thoát”, “Người khách trên quê hương mình”, “Một niềm
vui”, “Quay nhìn lại một đoạn đời”, “Gió bụi một thời”, “Chuyến về quê nhà”, “Sống
với thời quá vãng”, và “Nhặt lại những mảnh vụn”. Qua các tựa mà chúng tôi vừa
lược ghi, cho thấy toàn tập sách là một ký ức được tác giả không phải phút chốc
bổng trở về mà là một dòng sông dài của một biển nhớ trải dài lên từng trang sách
với cái lòng tràn dâng của một tâm hồn nghệ sĩ, tác giả đã biến những giây phút
lầm than bất hạnh nhiều lúc đến tuyệt vọng, chán chường trở thành những vẻ đẹp
của cuộc đời sau cơn mưa dông thời ly loạn.
Trước hết cái đẹp
trong cách hành văn. Văn của Phan Xuân Sinh trong tập sách này là lối văn tự
truyện, tác giả vừa tự thuật với chính mình, vừa tâm sự với những nhân vật
trong truyện, vừa tâm tình với người đọc. Do vậy, cái chất tình cảm nó chan chứa
trong câu chuyện để rồi nó tràn ra trên trang sách và nó làm người đọc dễ cảm
thông và sẵn lòng chia sẻ với tác giả hơn bất cứ thể văn nào khác . Thêm nữa,
giọng văn kể chuyện của tác giả vừa tha thiết, vừa mời gọi, vứa giải bày bằng
những chất liệu thật của chính mình hay của các người ngoài mà tác giả đích thân
ghi nhận được và kể lại một cách trung thực…
Qua câu chuyện lịch sử mở đầu tác phẩm này, cái đẹp nó hiện
diện trong trang sách của Phan Xuân Sinh qua hai bài thơ trên đường ra pháp
trường mà ông Nguyễn Duy Hiệu, tức ông Hường Hiệu trong Nghĩa Hội Quảng Nam, là
nhân vật chính của cốt truyện, đã để lại cho hậu thế: Điều đó cho thấy nó nói lên
được cái sĩ khí của một nhà Nho coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, và cụ Phan Bội
Châu phải thốt lên: “trời đất phải khâm phục, quỷ thần phải kính ghi”:
Bài I:
“Cần Vương thệ giữ bắc
nam đồng
Vô nại khuông tương lộ
vị thông
Vạn cổ can thường vô
Tháo tặc
Bách niên tâm sự hữu
Quan Công
Sơn hà vận dĩ thơ thiên
định
Thảo mộc sầu khan địa thế
cùng
Kỹ ngữ phù trầm tư thế
giá
Hữu tương thành bại luận
anh hùng
Huỳnh Thúc Kháng dịch:
Cần Vương nam bắc kết
dây đồng
Đường cứu đời kia khổ
chửa thông
Muôn thuở can trường
không giặc Tháo
Trăm năm tâm sự có Quan
Công
Non sông phận đã thơ
trời định
Cây cỏ buồn xem thế đất
cùng
Chìm nổi trên đời ai đó
tá?
Chớ đem thành bại luận
anh hùng
Bài II:
Tây Nam vô địch xích đồng tri
Tào cập kim thời thế khả
vi
Nhược sử gian phong vô
áo viện
Hà nan trung đỉnh thát
cường di
Hàn sơn kỷ đắc cô tùng
cán
Đại hạ yên năng nhất mộc
chi
Hảo bá đan tân triều
liệt thánh
Trung thu minh nguyệt
bạn vô quy
Huỳnh Thúc Kháng dịch:
Không địch Tây Nam biết đã thừa
Thời cơ như thế lẽ ngồi
trơ
Nếu không mũi nịnh làm
tay kín
Nào khó làm tung vác gậy
bừa
Núi tùng côi lạnh trơ
hẳn thế
Nhà nghiêng một cột
chống sao vừa
Xin dâng liệt thánh lòng
son đỏ
Về có trăng rằm tháng
tám đưa.”
Và tác giả kết câu chuyện với lòng ngưỡng mộ của dân chúng
về một nghĩa cữ đẹp của một con người “hiển thánh”:
“Sáng sớm ngày rằm tháng
8 năm Đinh Hợi (01-10-1887) . Nguyễn Duy Hiệu ung dung ra pháp trường chịu
chém. Ông đúng 40 tuổi. Đầu của ông được phu ngựa trạm phi nước đại đưa ngay
vào Quảng Nam, phủ Điện Bàn, làng Thanh Hà, quê hương của ông treo ngoài chợ để
răn đe quần chúng. Nhưng dân chúng trông thấy đầu ông đều quỳ xuống, tỏ lòng
thương tiếc một lãnh tụ Nghĩa Hội và hãnh diện vùng đất nầy đã sinh ra được một
con người can trường, trung liệt, một lòng vì dân, vì nước.”
(Những ng ười
hiển thánh)
Ở câu chuyện “Ánh sáng cuối đường hầm”, là một câu chuyện
có thật của một người đàn bà vượt biên rồi gặp nạn trên biển. Chị rất khổ tâm với
chính mình vì những tay cướp biển làm nhục mình vào thời buổi ấy. Khi được định
cư ở Mỹ, sau mười lăm năm, chị trở về tìm lại chồng con để mong anh có những lời
trách móc, xua đuổi chị cho hả giận sau mười lăm năm chị không hề liên lạc hay
tin tức gì cho chồng và cho con gái mình. Nhưng, khi gặp lại anh, chồng chị không
những không chửi bới hay nặng lời gì với người vợ đã nhẩn tâm bỏ mình và con
khi mình bị tù đày. Trái lại, anh còn khuyên chị nên quên cái thời khó khăn đó đi
vì nay ai cũng an phận riêng mình rồi, đừng làm khổ cho nhau nữa. Và anh cũng đinh
ninh là vợ mình đã có một mái ấm gia đình khác, nên không muốn mọi việc lại thêm
rắc rối, chẳng ích lợi gì. Nhưng chị không phải là người như anh nghĩ là bỏ chồng,
bỏ con không đoái hoài nhớ tưởng. Suốt mười lăm năm xa chồng con là mười lăm năm
chị lặn lộn giữa đời nhằm gom góp chút ít vốn liếng đem về cho chồng con để bù
lại những ngày chị bỏ đi vào lúc khốn cùng. Và cũng trong mười lăm năm ấy, chị
chẳng những không quen biết ai thêm ngoài tâm tư dồn hết cho chồng con, mà còn ăn
chay, ăn lạt cầu nguyện cho chồng con bên nhà . Trên đời này, tôi nghĩ đây là một
trái tim đẹp, một tâm hồn đẹp của một người đàn bà hy sinh đời mình cho chồng
con trong căm lặng mười lăm năm với biết bao phong trần lận đận :
“Hậu à, cho mẹ xin lỗi.
Về đây mẹ mới biết được một điều là ba và con hận mẹ, nhưng không xua đuổi mẹ.
Rồi đây con sẽ hiểu mẹ hơn. Cho đến bây giờ mẹ vẫn ở vậy, không có gia đình.
Làm sao mà tái giá được khi mà lòng mẹ bao giờ cũng nghĩ về ba và con. Nhưng
thôi chuyện nầy sẽ nói với con sau”.
(Ánh sáng cuối đường hầm)
Và tác giả kết truyện bằng
những lời kính phục rất trân trọng với nhân vật chính trong truyện :
“Thay đoạn cuối
Thưa chị Hiền,
Chị đã kể cho tôi nghe
câu chuyện của đời chị. Chuyện quá sức thương tâm của một người đàn bà bị dày
vò bởi những nghịch cảnh trên biển đông, trong lúc vượt biển. Mà sau nầy không
dám nhìn lại chồng con. Luôn luôn bị giằn vật, ám ảnh bởi những hình ảnh dã man
của một lũ người mọi rợ, dày xéo trên thân thể của những người đàn bà cô thế,
vô tội. Làm cho nhiều người xem mình như đã chết, không dám nhìn lại những
người thân, trong đó có chị. Có một điều, sau mười lăm năm chị mới tỉnh người và
có một quyết định sáng suốt trở về gặp lại chồng con.
Tôi không đủ chữ nghĩa
để mô tả lại cái đau khổ tột cùng của chị, cái chờ đợi mỏi mòn của chồng con
chị. Tôi là người ghi nhận vô cùng thiếu sót, mong chị lượng tình tha thứ. Song
tôi nghĩ dù sao đi nữa câu chuyện nầy cũng làm cho nhiều người cùng hoàn cảnh
thấy được chính mình, cho người khác thông cảm những mảnh đời oan ức của những
người đàn bà bị làm nhục, bị dày xéo, đọa đày. Tôi nghĩ, tất cả mọi người
nghiêng mình kính phục những người như chị. Đó là vấn nạn khổ đau chung của dân
tộc chúng ta, trong một hòan cảnh bi đát của đất nước. Thế giới phải sửng sốt,
lương tâm của những con người được đánh động và tình thương đã thắng.
Tôi mong rằng chị sẽ
được sống thanh thản với chồng con, với cộng đồng loài người và tự hào tình
thương đã đùm bọc lấy nhau, san sẻ cho nhau và tương kính nhau để sống.
Chúc chị và gia đình
thành công trên bước đường còn lại.”
(Ánh sáng cuối đường
hầm)
Đến câu chuyện “Khi con đường
không lối thoát” là một truyện có thật, kể về một người vợ dắt hai đứa con còn
thơ dại về giao cho bà nội và bán căn nhà lấy hai lượng vàng bỏ con để theo người khác trong lúc chồng đi cải tạo. Câu chuyện
đầy thương tâm này, ai đọc cũng phải lên án người vợ quá vô tình, người mẹ quá
nhẫn tâm với hoàn cảnh làm thay đổi lòng người đến độ quên mình là mẹ của hai đứa
con còn nhỏ dại. Người đàn bà vô tâm ấy thật đáng nguyền rủa. Nhưng khi người
chồng sau bao năm tù tội trở về vẫn không trách vợ mình làm gì vì mọi sự đã an
bài. Và rồi anh và hai con được lên đường tái định cư tại Hoa Kỳ. Sau 10 năm, đứa
con gái lớn của anh học xong đại học và trở về Nha Trang tìm lại mẹ mà cháu có địa
chỉ của bà trước khi gia dình cháu đi Mỹ. Buổi gặp lại, không ngoài mục đích là
người con gái muốn tìm hiểu tại sao mẹ lại
đành đoạn bỏ hai chị em của cháu cho bà nội và bỏ ba cháu trong tù. Bà mẹ lúc bấy
giờ chỉ biện minh cho hành động bất nhân của mình bằng hai chữ “hoàn cảnh”. Để
rồi, sau khi gặp lại mẹ với giây phút chia tay và tiếng gọi “Mẹ”, trong câu kết,
quả là một nét đẹp của một đứa con bị bỏ rơi gần hai mươi năm trước :
“Hai người đứng dậy trả
tiền nước rồi ra xe. Trên đường về nhà, chị ngồi phía sau xe vẫn khóc nức nở,
còn Hạnh thì đăm chiêu. Từ khi gặp được mẹ, cô hứa với lòng mình là phải giữ
một khoảng cách, không được suy sụp. Dù ở trong hoàn cảnh nào cũng không được
khóc, cô đã mất quá nhiều nước mắt trong những đêm dài hắt hiu. Khi con người
đã gặp một sự đau khổ tột cùng thì tự nhiên trong cơ thể sẽ được bảo hòa. Cô đã
giữ vẽ thờ ơ trước mặt mẹ để thể hiện sự cứng cỏi của nội tâm. Khi xe ngừng, cô
ra phía sau để mở cửa cho mẹ. Cô nhìn thấy bà bước ra dáng dấp chậm chạp, thể
hiện một tuổi già đã đến. Cô đưa tay để bà vịn đứng lên, tự nhiên cô ôm lấy bà,
cô thốt lên một tiếng kêu mà cô không thể nào kềm hãm được. “Mẹ”. Rồi cô khóc
nức nở trên vai mẹ. Hai mươi mấy năm rồi cô mới được khóc thoải mái như vậy,
trước đây dòng nước mắt của cô chỉ chảy trong âm thầm.”
(Khi con đường
không lối thoát”
Trong “Cơn đau không dứt”,
là một ký ức về tuổi thơ với nhiều bất hạnh của mình, nhưng tác giả ghi lại được
cái đẹp của một bà mẹ của bạn mình không những với tấm lòng thương người bao la
của bà , mà còn là cách xử thế vô cùng tế nhị , nhân hâu :
“Khi
học lớp tư, lớp ba (lớp hai, lớp ba bây giờ), mỗi lần đi học tôi ghé vào nhà
thằng bạn ở trên con đường đi tới trường, rủ nó cùng đi chung. Thường tôi đứng
ngoài ngõ chờ nó. Nó là đứa con út của gia đình nên nó được mẹ chìu chuộng, nó
thường ngồi trong lòng mẹ để vòi vĩnh, mẹ nó thì ôm nó tưng tiu. Thấy cảnh nầy
tôi vội vàng bỏ đi không chờ nó, vừa đi tôi vừa tủi thân vừa khóc. Tại sao má
tôi lại ra đi sớm để tôi không được nuông chìu như vậy? Nó hỏi tôi tại sao
không chờ nó cùng đi, tôi không trả lời. Trả lời thực lòng thì tôi thể hiện
lòng ganh tị, mà tôi không muốn ai biết được sâu thẳm của lòng tôi. Nhưng người
thấy được những cất giấu kín mít nầy lại chính mẹ nó. Bà để ý từng cử chỉ, từng
lời nói của tôi mà tôi không hay. Chắc nó cho bà biết là má tôi đã mất sớm, nên
ánh mắt của bà nhìn tôi thật dịu hiền. Từ đó bà không bao giờ nuông chìu nó
trước mặt tôi. Mỗi buổi sáng bao giờ bà cũng mở cặp của tôi nhét vào một khúc
bánh mì, một gói xôi hay một củ khoai giống như nó vậy. Bà không bao giờ hỏi
tôi về gia đình, về hoàn cảnh sống của tôi. Tôi nghĩ thằng bạn nhỏ của tôi đã cho
bà biết tất cả về tôi, nên bà cũng chẳng cần phải hỏi cho tôi thêm xúc động.
Thế mà trong số bạn bè tôi sau nầy, thằng bạn nầy lại chết sớm nhất trong chiến
tranh.”
(Cơn
đau không dứt)
Trong
“Cơn đau không dứt”, nó còn nói lên được tình bạn thời đi học, thời chiến
tranh, mà mãi về sau này, mới hôm qua, qua tin bạn trong tấm hình bốn đứa ngày
nào, nay mới mất , với nỗi “đau không dứt”, tác giả cho người đọc thấy được cái
chí tình trong tình bằng hữu của Phan Xuân Sinh, là một nét đẹp khác của tình bạn
trong đời tác giả.
“Vì bận rộn nhiều với
công việc, mười lăm năm sau tôi mới trở về lại. Ông cậu tôi tìm đâu ra tấm hình
cũ của tôi, Li, Hùng và Lâu chụp chung khi đi picnic ở Tiên Sa năm học đệ tam.
Tôi mang tấm hình đưa cho Li xem, Li xúc động ngồi trầm ngâm rồi nói với tôi:
“Không biết sau hai thằng nầy, mầy hay tau đi theo chúng nó trước?”. Tôi chỉ
trả lời với nó là: “Trời kêu ai nấy dạ, hơi đâu mà lo cho mệt”. Nó giành giữ
lại tấm hình, lúc nào tôi về lại sẽ sang ra đưa cho tôi một tấm. Tôi có nói với
nó: “Tấm hình oan nghiệt thật, hai thằng chết, một thằng chết nửa thân người
(tôi). Chỉ còn mầy lành lặn”.
Nó nói với tôi: “ Thấy
bên ngoài như vậy, chứ tau nát bét bên trong, chắc tau đi trước” (một câu nói
báo trước cho nó). Tôi nói giỡn lại với nó: “Có lẻ tau bị thương nên được chừa
ra, còn mấy thằng lành lặn đi đong hết”. Cũng một câu nói vô tình đó nó trở
thành một định mệnh. Sau khi trở lại Mỹ, ba tháng sau, tôi nhận được email của
chị bạn học một lớp với tụi tôi báo cho biết Li mất vì bệnh tim. Nhận được
email tôi vô cùng xúc động, rồi bật khóc.
Như vậy, tôi là người
còn lại cuối cùng trong tấm hình bốn thằng còn đi học ở trường Sao Mai, Đà
Nẵng. Khi tiễn tôi ra phi trường, tôi bắt tay rồi ôm nó, cám ơn nó đã tận tụy
tiếp tôi trong những ngày về thăm quê nhà. Nó căn dặn tôi “Tuổi mình không còn
nhỏ, ráng một hai năm thu xếp về thăm anh em, chứ đừng để mười lăm năm mới về
như lần nầy, thì không còn thằng nào để tiếp mầy”. Thế mà chỉ mới ba tháng, sau
khi chúng tôi hội ngộ, nó đã ra đi. Tôi không tin vào những điều huyễn hoặc,
nhưng kiểm lại những gì mà chúng tôi gặp, nói với nhau, hình như là điềm báo
trước cho sinh mệnh của mình. Ngồi mở lại những tấm hình tôi và Li mới chụp vừa
rồi ở quê nhà, tôi thấy nó không nở một nụ cười, mặt của nó buồn bả. Nó nói với
tôi: “Bọn mình suốt đời toàn gặp những chuyện không may, thằng chết đã đành,
còn thằng sống cũng không hơn gì”.
(Cơn đau không dứt)
Ở một khía cạnh khác của đời
sống, Phan Xuân Sinh có lần bảo trợ cho một người quen, một thời anh rất trân qúy.
Nhưng sau khi gia đình anh bạn này tới Hoa Kỳ, có những tin tức không thực từ bên
nhà về tiền chánh phủ Mỹ trợ cấp cho những người HO, anh bạn lại nghĩ quấy cho
người đứng ra bảo trợ ăn chận tiền trợ cấp này. Nhưng may sao, sau đó, anh bạn
này hiểu ra làm gì có những món tiền trên trời như vậy, và rồi lời xin lỗi của
người bạn mà tác giả ghi lại làm cho một trang đời được thêm nét son tươi thắm
hơn :
"Bậy quá, lúc trước
đây anh cứ nghĩ xấu về cô chú. Anh nghĩ là cô chú nhận một số tiền lớn của
chính phủ để trang trải những chi phí cho gia đình anh, mà cô chú không nói cho
anh biết. Nhìn thấy những đồ dùng trong nhà và sự sốt sắng của cô chú làm cho
anh càng nghi ngờ thêm. Sau khi anh đi hỏi mọi người tới trước đang ở trong
chung cư nầy thì mới vỡ lẻ, chú đã tự nguyện giúp anh chị chứ không nhận đồng
xu cắc bạc nào của ai cả. Anh chị cảm thấy mình thẹn với lương tâm, thẹn với
lòng tốt của cô chú. Dù cô chú không biết sự nghi ngờ nầy, nhưng trong lòng anh
chị thấy không nói ra thì không chịu được. Anh chị suy nghĩ mấy ngày nay, phải
nói cho cô chú biết, phải xin lỗi cô chú thì anh chị mới yên tâm."
Chị nói thêm vào:
"Tôi nói với anh Giang, là cô chú không phải như vậy đâu. Cô chú giúp mình
chứ làm gì có chuyện đó. Nhưng anh bảo là ở Việt Nam họ nói như vậy, chứ cô chú
cũng mới qua, chưa ổn định thì lấy tiền đâu mà giúp cho anh chị. Bây giờ mọi
chuyện anh chị đã hiểu lòng tốt của cô chú, xin cô chú bỏ qua cho anh
chị."
Tôi trả lời cho anh chị
yên tâm: "Chuyện hiểu lầm nho nhỏ mà, anh chị lại quan trọng quá vậy? Nếu
anh chị không nói ra thì tụi em đâu có biết."
Anh trả lời bằng cách lý
luận: "Hiểu sai người khác là mang tội rồi. Còn đây là nghĩ trật bậy người
đã giúp mình, tội càng nặng hơn."
(Hai tay quy hàng)
Trong “Một niềm vui” là một
kỷ niệm thời cón là chàng thiếu úy trẻ vào đời bằng những cuộc hành quân nhiều
gian nguy mà lòng vẫn đầy lòng nhân hậu của một chàng trai mới rời ghế nhà trường
và hôm nay tình cờ nghe người chị họ kể lại câu chuyện ngày xưa như “một niềm
vui” còn cất giữ được sau ba mươi mấy năm của những ngày chinh chiến cũ…
“Tôi với chị đứng dậy ra sau vuờn, cây cối bây
giờ có sự chăm sóc nên tươi tốt. Tôi đến bên gốc ổi mà ngày xưa tôi hay trèo
lên hái. Cây ổi bây giờ đã già, đã cằn cỗi. Tôi nhớ lại lời của người lính năm
xưa, cũng chỗ nầy đã nói với tôi: “Thiếu úy coi chừng, em nghĩ mấy bà nầy là
Việt Cộng.” Tự nhiên tôi cười, lúc ấy không biết sao tôi nhanh trí rời khỏi nhà
chị Hai vì sợ ở lâu sẽ bị rắc rối. Tôi nói lại với chị chuyện nầy, chị Hai trố
mắt nhìn tôi:
“Sau khi em vội vàng rời khỏi, họ cũng có cảm
nhận là em đã biết họ là ai, nên em muốn tránh trường hợp đáng tiếc, khó xử. Họ
nói với chị nếu đúng như vậy, em là người đáng phục.”
Hơn ba mươi ba năm sau
cuộc chiến đã nguội trên quê hương, mà cũng đã nguội trong lòng của những người
cầm súng lúc đó. Nếu gặp lại nhau, gạt bỏ đầu óc chính trị ra ngoài, chúng tôi
có thể kể cho nhau nghe sự thật của đôi bên, chắc vui biết mấy. Một cuộc chiến
mà tưởng chừng như thắng thua cũng chỉ là những trò đùa của những người rỗi
việc.”
(Một niềm vui)
Trong “Chuyến về quê nhà”,
là một bút ký khá dài, đã đăng bốn kỳ trên Talawas, ngoài những kỷ niệm đẹp về
một chuyến về quê sau 15 năm trở lại, nó còn cho thấy đây là một tài liệu rất sống động về đời sống và các câu chuyện văn chương
của các tác giả một thời trước 1975, nay còn sinh sống tại quê nhà với cái nhìn
khá trung thực của tác giả qua một chuyến đi . Nhưng cái nét đẹp vượt lên trên
mọi giao tiếp đó là cái tình mà mọi người đã dành cho anh khi anh trở về, một
thứ tình tự giữa những con người cùng xứ sở , cùng mê thơ văn với nhau, cùng có
chút lãng mạn trong đời sống như nhau, qua lời kết một bút ký dài “Chuyến về quê
nhà” rất thân ái :
“Cám ơn các bạn bè tôi,
các văn nghệ sĩ đã tiếp tôi trong tình thân, giúp tôi nhìn rỏ chân dung thật
cuộc sống của quê nhà, để tôi không nhầm lẫn khi tiếp xúc. Bao giờ quê nhà cũng
chiếm hầu hết những suy nghĩ của tôi khi tôi trở lại vùng quê cách khá xa thành
phố Dallas, nơi tôi đang sống./”
(Chuyến về quê nhà)
Trong “Quay nhìn lại một đoạn
đời” và “Gió bụi một thời” là những trăn trở về một thời binh lửa cũ. Tác giả
ghi lại những năm tháng chiến tranh cho riêng mình và cho bạn bè; những năm tháng
mà tuổi trẻ Việt Nam ở vào thời buổi ấy họ vào đời không có quyền tự mình chọn
lựa con đường cho mình. Và cái bất hạnh nhất cho những thanh niên trai tráng ấy
là họ chẳng bao giờ được đi hết con đường mà chiến tranh buộc họ phải lên đường.
Những oan nghiệt chua cay của chiến tranh là như thế đó. Chính chiến tranh đã cướp
mất bàn chân mặt của tác giả vào lúc tuổi đời vừa trón 24 tuổi, quả là một tàn
phá cuộc đời trai trẻ mà chiến tranh đã mang lại thành một vết thương đau buốt
tận cùng của một thanh niên mới vào đời với biết bao mộng ước. “Cái gió bụi một
thời” và “Quay nhìn lại một đoạn đời” ấy là nỗi bi thiết của chiến tranh để lại
mãi hoài trong lòng chẳng những của tác giả mà còn là của nhiều người, nhiều chục
ngàn người, nhiều trăm ngàn người khác, mà tác giả là người cất lên giùm tiếng
nói rất thực và rất cảm động qua nỗi đau của chính mình…
Nhưng có lẽ, những bóng hình
trong bút ký “Sống với thời quá vãng” mà tác giả lấy làm tựa cho tác phẩm mới
này, mới chính là những nét đẹp của một thời tuổi trẻ tràn đầy nhựa sống với
bao bận vui buồn cùng tình yêu của một tâm hồn nghệ sĩ vô cùng lãng mạn . Khi
nhìn lại bạn mình, tác giả không khỏi ngậm ngùi về nét tàn phai trên gương mặt
bạn bè :
“Lâu quá tôi mới trở lại
quê nhà, thấy thiếu vắng một số bạn bè và người thân. Đủ biết tuổi của tụi tôi
không còn nhỏ, đã bắt đầu xếp hàng để chờ nghe tên Chúa gọi. Gặp một số bạn bè
cũ mà không ngờ rằng tuổi già đến nhanh thế, nhìn thấy một vài đứa như các ông
cụ. Như vậy, mình mới thấy được chính mình cũng thế thôi, lẩn thẩn, già cỗi, và
cuối cùng cũng đi vào con đường mà không ai thoát khỏi, không ai lẩn tránh
được. Tôi dự những bữa tiệc bạn bè thiết đãi, cũng như đi uống cà phê buổi
sáng. Mặc dù chúng tôi gọi nhau “mi – tau”, nhưng trong tiếng gọi đó nó có vẻ
như ngượng ngập. Đúng ra trong cái tuổi của tụi tôi cách xưng hô với nhau cũng
khác đi cho phù hợp, lớp con cháu nghe gọi trẻ trung như vậy thì chúng cười
chết.”
(Sống với thời quá vãng)
Và khi nhớ về cái nôi quê
nhà một thời, làm nên nỗi nhớ thiết tha và sâu đậm ân tình :
“Đà Nẵng. Thành phố nầy
là chiếc nôi ấm áp của đời tôi, sinh ra và lớn lên bằng những tình thương yêu
đùm bọc bởi những người có tấm lòng rộng lượng. “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai
đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi đi trên con đường dài
và hẹp…”. Nơi đây, tôi bắt đầu đi học. Lủi thủi một mình với tập vở trong tay,
không có mẹ “nắm lấy tay tôi..” như Thanh Tịnh đã diễn tả ngày đầu tiên đến
trường. Mẹ tôi đã mất khi tôi chưa đầy một tuổi. Thế nhưng tôi đã lớn lên trong
vòng tay của ngoại, các dì và cậu tôi. Những ơn nghĩa mà tôi nghĩ rằng không
bao giờ tôi trả hết được. Mớm cơm khi tôi chưa đủ tuổi để ăn, dành cho tôi
những chén cơm trắng khi tôi biết nhai trong lúc ngoại, cậu và dì tôi phải
trường kỳ ăn độn. Tôi lớn lên bằng thiếu thốn khổ cực, nhưng ngoại tôi vẫn dành
cho tôi những miếng ăn ngon nhất, sắm sửa cho tôi những bộ áo quần đẹp nhất.
Tôi trở lại căn nhà của ngoại tôi khi xưa, căn nhà đầy ắp những kỷ niệm tuổi ấu
thơ. Bây giờ ngoại tôi không còn nữa, nhưng khi bước vào nhà tôi cảm thấy đâu
đây bước chân của ngoại, tiếng ngoại gọi tôi và dưới con mắt của ngoại bao giờ
tôi vẫn còn bé tí. Tôi đến bàn thờ thắp nhang cho ngoại, nhìn ảnh ngoại bỗng
dưng tôi ngậm ngùi hối hận. Ngày ngoại mất tôi không về được, tôi mang trong
người một trọng tội với ngoại, nhưng biết làm sao khi mà còn quá nhiều cách
trở. Chắc ngoại tôi sẵn sàng tha thứ cho tôi.”
(Sống với thời quá vãng)
Nhơn nhận tin về một người
bạn cũ vừa mới mất, tác giả kể cho ta nghe về những hoài niệm và ước mơ :
“Mười lăm năm sau tôi
mới trở lại quê nhà, thành phố không còn vóc dáng như ngày xưa. Lớn hơn, đẹp
hơn và đông đúc hơn. Liêu (người bạn thân học một lớp còn sót lại, nhưng sau
hai tháng trở về Mỹ thì Liêu cũng vội vàng ra đi) hay đến chở tôi đi đây đi đó,
thăm người nầy người kia. Tôi cố tìm lại những nơi chốn mà thuở học trò hay lui
tới, nhưng tuyệt nhiên không còn dấu vết. Đường Cầu Vồng được san bằng không
còn cái dốc như ngày xưa, để tuổi học trò của tụi tôi thuở đó còm lưng trên yên
xe vượt dốc. Tôi đi ngang qua đường Trần Bình Trọng (con đường khởi đi từ ngả
năm vòng qua sau lưng bệnh viện Đa Khoa), Con đường nầy đã bao lần tôi đứng chờ
Sách (người yêu của tôi thuở nào) bây giờ cũng lạ hoắc, tôi không còn nhận ra
con hẻm mà tôi đã vào ra nhiều lần. Buổi tối tôi ra bờ sông Hàn ngồi trên ghế
đá ngắm nhìn dòng nước trong. Ngày mới lớn tôi thích ra ngồi ở hàng ghế đá đó,
có bóng cây mát rượi, có những con thuyền bườm trắng trên sông. Tôi mơ mộng về
những nơi khác có cuộc sống tốt hơn, không có cảnh lam lủ như bà con tôi gánh
chịu trên quê hương. Thế mà bây giờ tôi đang sống trên đất Mỹ, một đất nước có
những cái mà tôi đã ước mong khi còn trẻ. Tôi lại mong trở về sống trên quê
hương, trong cái nghèo nàn, cái khó khăn, còn chất chứa cả một tấm lòng mà
không tìm thấy bất cứ đâu.”
(Sống với thời quá vãng)
Rồi dòng ký ức ấy dẫn tác
giả bồi hồi nhớ lại Sanh, một tình nhân ngày cũ :
“Trong một bữa tiệc tại
nhà mợ Tâm. Bất ngờ tôi gặp lại Sanh, người con gái Huế mà trước đây tôi đã
quen khi Sanh đang theo học sư phạm ở Huế. Sanh, chồng mới mất. Cách đây 15 năm
Sanh và chồng có đến dự bữa tiệc cũng tại nhà mợ Tâm khi tôi ở Mỹ về đợt đầu.
Chồng của Sanh cũng là nhà giáo hiền lành, ít nói. Nhìn hai vợ chồng vừa xứng
đôi vừa hạnh phúc. Tôi cảm thấy rất vui, hình như chồng của Sanh cũng biết tôi
là người quen với Sanh trước đây, nên khi nói chuyện anh ấy có vẻ bẽn lẽn, ngượng
ngập. Tội nghiệp, bây giờ cũng trong bữa tiệc tại nhà nầy, chỉ mỗi một mình
Sanh đến. Trong nét mặt thoáng một chút buồn. Có lẽ trong những người bạn gái
mà tôi gặp lại sau này, Sanh ít thay đổi nhất, có phong độ nhà giáo đàng hoàng
và chững chạc. Sau bữa tiệc chúng tôi ngồi lại ăn mứt uống nước trà, nói chuyện
đủ thứ. Trong đời sống của Sanh hiện thời rất đạm bạc, đã nghỉ hưu, nhu cầu
không nhiều và sống với con gái. Nhanh thật, khi quen nhau tụi tôi còn rất trẻ,
mới đó mà bây giờ người nào cũng con cháu đầy đàn..”
(Sống với thời quá vãng)
Rồi lại Sách, một người thương
khác lúc tuổi học trò nhiều mộng mị một thời :
“Người thứ hai tôi gặp
lại là người có nhiều kỷ niệm với tôi nhất tại Đà Nẵng, khi đó Sách còn đi học
tại trường Bồ Đề. Tôi không biết ai nói với Sách là tôi về thăm quê nhà, nên
một buổi tối Sách đến. Mấy chục năm sau chúng tôi mới gặp lại nhau. Ngồi trong
nhà, đứa em vào báo cho biết là có một chị bạn của anh đến thăm. Tôi bước ra
cửa không nhận ra được Sách. Có lẻ là lâu quá không gặp lại nhau, không ngờ là
Sách đến thăm, mấy mươi năm thời gian làm thay đổi nhiều quá. Đứng trước mặt
Sách mà tôi không ngờ rằng người đàn bà trước mặt tôi là Sách. Khi Sách cười,
tôi mới nhận ra. Trong tất cả những người tôi quen biết có lẽ Sách mang nhiều thay
đổi nhất. Sách có chồng sớm, từ giã cuộc tình một cách vội vã. Sau một thời
gian sống với chồng được hai con thì chồng tử trận trên Pleiku. Khi Sách mang
con về Đà Nẵng thì tôi đang sinh sống tại Sài Gòn, cho nên chúng tôi không gặp
nhau. Khi tôi có vợ, hai vợ chồng dẫn nhau về Đà Nẵng thì tôi có đến thăm Sách.
Vài năm sau tôi nghe tin Sách tái giá, thôi như vậy cũng yên chuyện một đời
người. Khi Sách đến thăm tôi cho biết đã ly dị người chồng thứ hai hơn năm năm
rồi. Tôi sửng sờ, không ngờ đời sống gia đình của Sách nhiều truân chuyên như
vậy. Hèn gì trong vóc dáng khuôn mặt của Sách thay đổi nhiều quá, đến nỗi khi
bất chợt gặp lại tôi không nhận ra. Tội nghiệp, đời người đàn bà chỉ có một
thời và một lần định đoạt, trượt chân xem như hỏng cả đời. Khi nói chuyện về
gia đình, Sách có vẻ cay đắng và u uất. Nhưng trách ai đây, khi mọi chuyện đều
do mình định đoạt. Tôi hỏi Sách về con cái thì Sách cho biết hai đứa con của
người chồng trước đều có gia đình, có cháu nội cháu ngoại. Còn hai đứa con của
người chồng sau chưa lập gia đình nhưng đã ổn định công ăn việc làm.”
(Sống với thời quá vãng)
Riêng với Sâm, ba mươi năm
rồi chưa gặp lại; nay anh kể về một bông hoa biết nói ngày ấy :
“Trong thời gian ở Đà
Nẵng, tôi muốn gặp lại một người bạn gái mà hơn ba mươi sáu năm tôi chưa hề gặp
lại. Đó là Sâm. Tôi quen với Sâm khi tôi còn đi học mà Sâm lúc đó đã ra đời.
Mỗi buổi chiều đón Sâm ở sở làm bằng chiếc xe đạp cà tàng, trong lúc Sâm đi xe
vélo-solex. Tình yêu thời học trò ngớ ngẩn thật, nhưng cũng dễ thương thật. Khi
tôi vào lính thì nghe tin Sâm đã có chồng, trong thời gian nầy tôi cũng không
bao giờ gặp được. Khi tôi bị thương vào mùa hè 1972, nằm ở Tổng Y Viện Duy Tân
thì Sâm đến thăm, lúc đó Sâm đang có bầu. Sâm tới ôm tôi và khóc nức nở. Đó là
hình ảnh cuối cùng tôi gặp Sâm lần chót và đó cũng là hình ảnh người đàn bà mà
tôi không quên được. Khi tôi về có hỏi thăm Sâm thì người bạn của Sâm cho biết
là lâu lắm rồi không gặp Sâm. Hình như Sâm đang sống với gia đình tại Tam Kỳ,
và hình như Sâm bây giờ vất vả lắm. Chuyện về Sâm mơ hồ như vậy thì làm sao tôi
tìm thăm được, nhất là thời gian ở lại Việt Nam của tôi quá ít ỏi.”
(Sống với thời quá vãng)
Với Nguyện, người con gái mà tác giả đã kể trong “Quay nhìn
lại một đoạn đời” là người rất yêu thương anh vào những ngày đầu anh bị thương
và nằm điều trị tại Tổng y viện Duy Tân , Đà Nẵng, nhưng nay thì Nguyện không còn
sau chuyến vượt biên mất tích lâu rồi, nhưng với tác giả là một vết tích mãi hoài
không quên được về một mối tình rất đẹp lúc mới vào đời trong “Sống với thời quá
vãng” :
“Mồng tám Tết (2008) tôi
đi Huế cùng với mấy anh em văn nghệ. Lâu quá tôi mới trở lại Huế nên cũng
ngượng ngập mặc dù Huế ít thay đổi, thế nhưng lúc đầu đi trên những con đường
mà tôi không thể nào nhớ ra được. Huế đang mưa, cái mưa của Huế dai dẳng và
buồn ray rứt. Nhớ lại ngày xưa đứng trước cổng trường Bồ Đề Thành Nội đón
Nguyện, hai đứa che nhau mỗi một cái dù đi trong mưa (của một thời lãng mạn).
Nhà Nguyện ở ngoài bờ thành đồn Mang Cá Lớn. Bây giờ Nguyện đã chết trong một
chuyến vượt biên cùng với chồng con trong năm 1985. Khi tôi về đến Sài Gòn thì
dì của Nguyện cho biết mẹ của Nguyện cũng chết cách đây vài năm. Như vậy nhà
của Nguyện người khác ở, (vì gia đình chỉ có hai mẹ con và hai người đều chết).
Sáng hôm sau chúng tôi ra uống café ngoài bờ sông, chính lúc nầy tôi mới nhớ
được những con đường tôi đã từng đi qua, những địa danh của Huế mà tôi đã từng
đến..”
(Sống với thời quá vãng)
Và khi vào Sài Gòn, trước
khi trở lại Mỹ, tác giả tìm thăm một người bạn cũ nữa ở Bàn Cờ, như một lần tìm về bến sông xưa nơi có con đò ngày cũ
:
“Khi trở vào Sài Gòn để
chuẩn bị trở qua Mỹ, ngoài một số bạn bè gặp lại, tôi thăm người bạn gái sống ở
Bàn Cờ. Mấy chục năm nơi nầy thay đổi nhiều quá, cũng may gặp được đứa em trai
của Ngọc Bích cho địa chỉ, nên tôi tìm nhà dễ dàng. Ngọc Bích trước đây là cán
sự y tế, hiện giờ nghĩ hưu có hai con và ly dị chồng. (Sao tôi lại gặp mãi cảnh
nầy thế nhỉ? Những người bạn gái quen với tôi trước đây đều có trường hợp giống
nhau, chồng không chết thì cũng ly dị). Ngọc Bích cũng không nhìn ra tôi, mà
tôi cũng không nhìn ra được Ngọc Bích, như vậy đủ biết sự thay đổi khủng khiếp
của chúng tôi mà thời gian đã bôi xóa hết. Đứng một hồi mới nhận ra nhau. Cũng
như những người khác, kể cho tôi nghe về chuyện gia đình, buồn nhiều hơn vui,
bất hạnh nhiều hơn bình an. Ngọc Bích nói với tôi là nhìn anh đủ biết anh chị
rất hạnh phúc, không cần phải hỏi về gia đình. Đời sống của Ngọc Bích có vẻ khá
giả, gia đình khang trang, sống với vợ chồng đứa con trai và cháu nội. “
(Sống với thời quá vãng)
Và với một góc kỷ niệm khác
nơi Phú Nhuận, cùng với Nhơn ngày ấy và bây giờ :
“Vài hôm sau tôi đến
thăm Nhơn ở Phú Nhuận. Nhơn không thay đổi mấy, trước đây Nhơn học luật năm
cuối, nếu đất nước không thay đổi thì chắc bây giờ Nhơn trở thành bà Luật Sư
rồi. Sau 30/4/75 Nhơn làm trưởng phòng kế toán cho một công ty điều hành tàu bè
và đã hưu trí được ba năm nay. Nhơn ly dị với chồng hơn hai chục năm nay, ở vậy
nuôi con. (Lại thêm một trường hợp gãy gánh giữa đường. Hình như những người quen
với tôi đều ở trường hợp giống nhau – ly dị hay chồng chết). Nhà Nhơn ở mặt
tiền đường Minh Mạng, Phú Nhuận. Nên Nhơn mở một quán cơm trưa cho những công
nhân viên ở các công sở gần đó. Tôi đến vào buổi trưa, thấy quán cơm tấp nập.
Như vậy cũng mừng là đời sống của mẹ con Nhơn không giàu có nhưng cũng đã ổn
định. Người chồng cũ hiện định cư ở Pháp, có về vài lần và đề nghị hai người
nối lại để bảo lãnh hai mẹ con qua Pháp. Nhưng Nhơn từ chối, chỉ muốn cho con
đi thôi. Hiện thời cháu đang chờ thủ tục bảo lãnh của cha. Nhơn là một người
rất có hiếu, anh em đông nhưng Nhơn phải nuôi người cha già lãng trí, tận tụy
chăm sóc cha, nên Nhơn rất bận bịu gia đình.
(Sống với thời quá vãng)
Rồi năm nào với 4 câu kết
bài thơ “Gặp lại người xưa trên phố Boston” :
“Gặp nhau chi giữa con
đường
Nên lời ta đượm hàng
hàng cách ngăn
Em về chia nửa vầng
trăng
Khóc giùm ta giữa gối
chăn bạc tình.”
và nay, tác giả kể cho chúng
ta nghe thêm một bóng hình ngày cũ đó:
“Ở Mỹ, tôi có gặp một cô
bạn cũ ở Boston trước đây. Th.. lấy chồng rất sớm khi tôi học đệ nhị, những mối
tình học trò tưởng chừng nhớ nhớ quên quên, chóng đến chóng đi, chóng yêu chóng
ghét, thế nhưng lại để những kỷ niệm khó quên trong đời. Th… khi qua tới Mỹ thì
biết chồng mình đã có vợ khác, lỡ khóc, lỡ cười, đành phải chia tay. Tôi gặp
Th.. trong một hoàn cảnh thật tội nghiệp. Mỗi ngày phải đi bộ ra trạm xe train
để đi làm, trời mùa đông lạnh lẽo, đôi khi phải đội tuyết. Chẳng có ai giúp,
các con thì đứa nào cũng có gia đình, phải lo cho gia đình của chúng. Còn mẹ
phải tự lo lấy, tiếng Anh thì không biết, chẳng nhờ ai đỡ đần trong lúc tối lửa
tắt đèn.”
(Sống với thời quá vãng)
Để rồi, tác giả nằm nghĩ lại
những bóng hình ngày cũ ấy với một lời xin lỗi rất chân tình và rất dễ thương nơi
tâm hồn của một nghệ sĩ lúc nào cũng ấp đầy cái chất lãng mạn :
“Tối nằm ngẫm lại những
người con gái quen với tôi trước đây, tất cả họ đều gặp bất trắc trong cuộc
sống. Nguyện đã chết trong chuyến vượt biển. Sách hay Sanh đều bị chồng chết,
riêng Sách lại có thêm một lần ly dị với người chồng thứ hai. Th.., Ngọc Bích,
Nhơn, ly dị với chồng, hay Sâm là người không bị trắc trở gia đình nhưng lại
sống trong nghèo khổ. Tại sao lạ thế? Tại sao họ không được hạnh phúc? Không
có một đời sống êm ả ? Tôi không có một lời nguyền rủa nào để họ phải chịu nhận
những hình phạt. Lúc ấy xa nhau, thú thật tôi có buồn, nhưng rồi mọi chuyện đâu
vào đấy. Bao giờ tôi cũng cầu xin ơn trên cho họ được hạnh phúc. Có một điều
tôi được an ủi rất nhiều khi gặp lại người cũ, ai đối với tôi cũng vui vẻ chân
tình, chứ tôi không nghe một lời oán trách. Ngày đó các cô đi lấy chồng, minh
nằm nhà đắp chăn buồn không thể tả (..ngày nhà em pháo nổ, anh cuộn mình trong
chăn, như con sâu làm tổ…), đúng thật, tưởng rằng có thể chết đi được. Nhưng
rồi qua cơn đau đó, lại vùng dậy và cũng yêu tha thiết người khác, rồi cũng bị
đá lăn lóc. Cứ thế tiếp diễn đến khi có vợ. Chấm dứt một thời trăng hoa, ong
bướm. Vợ cũng tế nhị không bao giờ hỏi về tình cảm trước đây. Mấy chục năm sống
với nhau, tôn trọng nhau và cũng tôn trọng đời tư của nhau, mà thiệt tình thì
vợ chẳng có tư riêng gì hết. Mười chín tuổi lần đầu tiên gặp được “ý trung
nhân”, rồi yêu và sau cùng lấy nhau.”
(….)
“Dù sao đi nữa, khi viết
về một thời quá vãng, xin tất cả các bạn một thời là nhân tình của tôi, nhận
nơi đây một lời xin lỗi chân thật nói lên tận đáy lòng của mình, dù trước đây
sự việc tan vỡ cuộc tình do tôi hay không phải vì tôi. Nhưng ít nhiều trong đó
cũng có tôi đã hình thành nên sự việc. Bây giờ, ở vào cái tuổi của chúng ta mới
nhận ra được giá trị chân thật của tình yêu, thì mọi chuyện nó cũng đã lỡ làng,
đã được Thượng Đế an bài không thể thay đổi được.Dù sống thế nào bài học về
kinh nghiệm cuộc sống, lý lẽ của trái tim bao giờ cũng dễ thương và đáng trân
trọng.”
(Sống với thời quá vãng)
Ngoài ra, với “Sống
với thời quá vãng”, tác giả còn cho người đọc thấy
lại cái tình ruột thịt của những người thuộc giòng họ bên ngoại, những người
con của người cậu ruột ngoài Nghệ An sau bao nhiêu năm cách trở, không hẹn mà gặp
lại trong ngày giỗ bà dì ruột dưới mái chùa nơi xứ thần kinh, một cuộc gặp vừa
thiêng liêng, vừa ngỡ ngàng vì cách trở và nó là mối dây nối kết lại những mảnh
đời thất tán sau biết bao dâu bể của dòng đời và thời cuộc. Quả là một hạnh ngộ,
tương phùng rất đẹp của những mảnh hồn lưu
lạc vừa cảm động, vừa lâng lâng cái tình thân thiết anh em của những người
trong cuộc nay đã già đi vì tuổi đời và tuổi trời sau sáu bảy mươi năm :
“Sau nầy tôi hay liên
lạc với anh Ngô Hồng Khanh, anh nầy gọi má tôi bằng cô ruột, gia dình anh đang
sống ở Nghệ An. Anh cho biết là ngày xưa ông Tổ chúng tôi làm quan ở triều đình
nhà Nguyễn, gia phả trong nhà thờ tộc ghi rỏ điều nầy. Nhưng đến đời các cậu
tôi thì gia đình chia làm hai phe, một phe tập kết ra Miền Bắc và một phe ở lại
Miền Nam, đánh nhau chí chóe. Đến đời anh Khanh và tôi mới kết nối lại được.
Anh Khanh bảo với tôi rằng mọi chuyện chính trị chẳng ra làm sao cả, dẹp nó đi.
Bây giờ là lúc chúng ta tìm tông tích dòng họ, tìm nhau vun xới lại những đổ vỡ
trước đây. Tôi nghĩ, một người lớn lên từ chế độ cộng sản, trưởng thành trong
chế độ ấy thế mà còn tìm ra tông tích của dòng họ để kết nối bà con lại với
nhau. Một việc làm đáng phục.”
(Sống với thời
quá vãng)
Qua tập truyện với gần 250
trang mà tôi vừa dẫn, cái đẹp trong tác phẩm “Sống với thời quá vãng” của Phan
Xuân Sinh nó bàng bạc trên từng trang sách, là do nơi đời sống của chính tác giả
mà có. Ở đó, cái đẹp nổi bật nhất là tình yêu quê hương, tình yêu gia đình, tình
yêu người đồng loại , tình bạn bè bền bĩ và tình yêu thời “quá vãng” với những
tình nhân một thời làm nên nỗi nhớ mãi hoài. Với lối văn tự truyện vừa tha thiết
vừa chân tình, tác giả bày tỏ hết mọi nỗi niềm một thời yêu thương bằng hữu và
những cuộc tình hoa mộng bằng những dòng xúc cảm thiết tha, cùng một trái tim
luôn luôn đập những nhịp đập bồi hồi, thương mến người xưa man mác Cái đẹp
trong tác phẩm mới này của Phan Xuân Sinh không phải là cái gì cao xa huyền bí
, mà nó nằm ngay trong chất liệu thật cả một đời người mà chính tác giả là người
đã từng bơi lội trong ấy. Theo Lâm Ngữ Đường :” Trong văn học cũng như
trong vạn vật, cái đẹp tùy thuộc vào sự biến đổi và động tác, mà cơ sở của nó
là sự sống. Cái gì sống thì luôn luôn biến đổi và động tác thì tự nhiên đẹp.”
(…) Cái đẹp vốn là nội sinh, chứ không phải ngoại lai”.(*) Và chính đời
sống ấy, mà tác giả mang lại cho người đọc những trang sách rất đẹp vô cùng. Thật đáng trân trọng biết bao!
Lương Thư Trung
Houston, ngày 05-01-2009
(*) “Một quan niệm về sống đẹp”
của Lâm Ngữ Đường, do Nguyễn Hiến Lê lược dịch, 1964, Sài Gòn, (không thấy ghi
nhà xuất bản)