Cầu Trường Tiền và Cầu Tà
Đét
Lưu Nhơn Nghĩa
Năm 1959, bị đuổi khỏi
trường Thủ Khoa Nghiã, ông già tôi bắt lên Sài Gòn ở nhà cậu tôi học trường Tư
Thục Hoàng Việt, trường của Bà Nhu (nghe vậy). Lần đầu được thưởng thức cảnh đô
thị, còn gì sướng hơn. Bao nhiêu chuyện khám phá. Nữ sinh Sài gòn ăn mặc đẹp
hơn nữ sinh tỉnh. Lần đầu nghe các nữ
sinh người Bắc nói chuyện hay quá. Tôi bị cuốn mất trong không khí mới, viết
thư cho đám bạn Châu Đốc kể chuyện Sài Gòn, hãnh diện lắm.
May mắn, trường Hoàng Việt tổ chức du ngoạn Huế,
đầu năm 1959. Lúc đó vừa ngưng chiến
tranh, đi bằng xe lửa hay xe nhà binh. Cảnh lạ đường xa làm tôi choáng ngộp.
Tôi bị giam giữ trong gia đình từ trước, cái gì cũng muốn khám phá. Con đường
ra Huế thăm thẳm đến Huế, lăng tẩm, sông Hương, cầu Trương Tiền, trước đó chỉ
biết mơ màng qua sách vở. Được đưa vô
"Dinh cụ cố vấn" Ngô đình Cẩn, " cụ " nói như chim hót
" mà cái ngày hôm nay..." Học sinh đứng hát bản "suy tôn Ngô tổng
thống" "xin Thượng đế ban phúc lành cho người",cụ nhìn lên mắt
lim dim, "chung đấp xây nền thống nhứt sơn hà.", cụ nhăn mặt cười, răng màu đỏ đỏ vì trầu. Rỏ
ràng dân Huế có chữ "Cụ" nặng lắm, "cụ cố vấn". Có người
kính cẩn nhắc "cụ Diệm" với thái độ tôn kính như thần tử thấy long
nhan. Cung cách đó lang tới Sài Gòn, nhưng Châu Đốc thì xa quá, đất của dân
khai sơn phá thạch, vùng biên cương, họ bỏ quên cái lễ nghi cụ "thượng
" Năm 1956, Thủ tướng Diệm đi kinh lý Châu Đốc, bọn tôi tập dợt hoan hô
cho lớn mấy ngày đứng ngoài nắng. Ngày cụ đến, đứng cả buổi sáng hoan hô. Bác
hai Khá nói " Giả lùn, đi như con vịt đực ", bác hai Khá tả chân. Từ
" cụ " thành " giả ", dân Châu Đốc không biết uy luật triều
đình, ăn nói không thanh tao chút nào.
Trở lại cuộc du ngoạn, chúng tôi được sắp xếp
nghỉ ngơi tại trường Pellerin. Tới giờ đi nhà thờ, bọn có đạo vô nhà thờ làm lễ,
ông frère hỏi,"sao chưa vào?", tôi riu riú vô mà không biết phải làm
gì, ai làm sao tôi làm theo. Ra phố, "các nàng tiên áo trắng đất Thần
kinh, tóc thề buông trên vai", cái gì cũng thơ mộng. Cầu Trường Tiền sáu
vài 12 nhịp, tôi lạc vào thế giới vua chúa, thanh niên Huế trang nhã, thiếu nữ
Huế tha thướt như tiên (?) Ngôn ngữ Huế nghe dịu dàng, nữ sinh Đồng Khánh, học
sinh Quốc học, "nón bài thơ nghiêng dưới nắng hanh vàng,...người đã khuất
mà tôi còn ngơ ngẩn ". Tôi quen Ngọc Lan, nàng thành người trong mộng một
thời. Quá nhiều tài liệu về xứ Huế, nhưng ít tài liệu về xứ tôi. Dân Huế được
niềm kiêu hãnh, có tên các Công tẵng tôn nữ..Vĩnh, Bửu,nghe cao sang, cổ kính
quá,chỉ nghe thôi cũng đủ say sưa. Không như Châu Đốc mình, nhiều người đặt tên
con không kêu chút nào. Ông Chánh Án Đệ, dân Châu Đốc nhắc nhở phụ
huynh,"đặt tên xấu, sau nầy nó mắc cỡ". Gần đây đọc Đặc san "Tiếng
Sông Hương", hay quá, toàn học giả gốc Quốc học, Đồng Khánh có trình độ
cao viết, ngôn từ dân hoàng phái còn lại, thâm thúy, người khác xứ nghe lại thấy
khôi hài. Tôi mới biết thêm từ ngữ "Mệ" Tôi chơi với bạn bè Huế, thỉnh
thoảng nghe "chộ mệ", họ xưng "mệ" tự nhiên. Tôi không tìm
hiểu thêm. Trong đặc san Tiếng Sông Hương, trang 60, 1993,có bài về "mệ"
nguời ta mời người gốc Hoàng phái "dạ dạ, luôn dịp mệ đến chơi, mời mệ
"thồi" khoai..." Mệ trả lời "ờ được,để mệ quạt cho mát chút
nữa...thủng thẳng ta chém đầu vài đứa" (dân vua chúa xưa, mở miệng là chém
đầu, dù là chém vài củ khoai ăn). Có khi mệ nói " Nì, mi có tiền
"dâng" mệ, để mệ chém mấy củ khoai lang". Trong bài khác cũa Thân Trọng Tuấn, nói về kiểu
cách Huế, một sinh viên vùng khác ghé nhà thăm bạn, "Bác bác..cho hỏi
thăm.." Chủ nhà trả lời ngọt ngào "Kính bẩm dạ thưa anh, xin anh cho
phép tôi vài phút để sửa soạn, sau đó mời rước anh vô nhà sẽ hân hạnh hầu chuyện
cùng ông". Bây giờ, tôi có người bạn
gốc Huế, nhưng anh ta khéo hòa đồng, bạn với nhau 17 năm, có lẽ anh thay đổi
theo hoàn cảnh. Nhà cửa anh ngăn nắp, đâu ra đó. Ra khỏi nhà, anh mặc quần dài,
sơ mi dài tay, trong mặc áo thun lót, dù nắng như đổ lửa, anh luôn dạ thưa,
nghiêm trang, lễ nghĩa khi có liên hệ việc quan hôn tang tế. Anh đối với bạn
chí tình. Lúc tôi đi nhà thương ra, đang lái xe, thì anh điện thoại hỏi thăm sức
khoẻ "Anh có khỏe không ?" Tôi đang cầm mobile phone trả lời, mụ cảnh
sát chụp được cơ hội, phạt $ 225. Bây giờ còn hậm hực, khoẻ không kệ tôi, kiểu
cọ cho mất tiền. Lâu lâu, có mấy người gốc Huế ghé thăm anh, gọi anh là "Mệ",
họ nói chuyện tôi theo không kịp vì không nắm hoàn toàn tinh thần ngôn ngữ Huế.
Họ say sưa ngâm " Cầu Trường Tiền 6 vài, 12 nhịp..." Cầu cũng giống bất
cứ cây cầu Tây xây, nhưng cầu được thi vị hóa. Cầu Tà Đét, bắt ngang con suối từ
núi Cấm đổ xuống, suối sâu, nước chảy siết, buổi chiều mù khói đốt đồng, trên
chuyến xe về quê, khi mặt trời khuất bên kia núi Cấm sẩm đen, nhớ buồn nao
núng. Họ thương cầu Trường Tiền, tôi thương cầu Tà Đét. Anh bạn tôi rủ tôi về
Huế chơi, đất Thần kinh, tà áo tím...Tôi muốn về Tà Đét nhìn cầu tìm kỹ niệm
sâu trong đáy lòng. Tôi ăn nói lắp ba lắp bắp, chưa quen nề nếp khuông khổ, bị
lạc lõng trong cộng đồng cao sang.Tôi tâm sự với người bạn, "Dân mệ hay
nói chém đầu, ở Huế thì được,nếu ở Châu Đốc, dân dốt, nó tưởng anh chém đầu nó
thiệt, anh chưa kịp chém nó, nó cho anh ăn búa trước".
Lưu Nhơn Nghĩa