Cồng Cộc
Lưu Nhơn Nghĩa
Tây đào xong kinh Tám ngàn và kinh Tri Tôn vào tiền
bán thế kỷ 20. Tàu Tây đổ quân vào đánh, Việt Minh phá nổ chiếc xán chận đường
tiếp tế của Tây. Chiếc xán đứng đó khoảng 50 năm rồi bị kéo đi mất. Tây, Maroc,
lính Commando Miên khá nhiều. Người dân đã quen tàu lồng cu, xà lan sắt. Dân bớt
sợ Tây và Maroc hơn, tuy hể có tiếng nổ là chạy tán loạn. Mỗi lần chiếc tàu lổng
cu quay đầu đến hay đi, người lớn trẻ con đứng coi tự nhiên., gọi là tàu lồng cu,
vì trên cột tàu có cái gì quay quay bằng sắt giống lồng nhốt chim cu mồi.
Cái xứ tận cùng góc núi, sơn cùng thủy tận, nói không
quá đáng, mãi đến năm 1977, rất nhiều người Miên chưa ra tới Châu Đốc. Sau đó bị
dời đi mới biết ngoài Sóc mình còn có xứ khác đẹp không kém. (Bà già tôi suốt
đời chưa ăn tô hủ tíu tiệm nước. 18 năm trước qua đoàn tụ gia đình, không dám
ăn thức ăn trên máy bay, vì không có cơm.) May là có lính Lê Dương đủ thứ dân
Phi châu đi xà lan sắt đổ bộ, dân mình mới biết bơ, phô mai, bánh Tây, cái gói
gì ăn chua chua, sô cô la, cây khui hộp. Hộp khẩu phần nhà binh màu xám, cao chừng
hơn 25 cm, bề ngang chừng 10 cm, bề dài chừng, dài chừng 20 cm. Lấy cây khui
móc vô chấu cuốn lại mở hộp ra, phần trên chừng 60 cm, vừa vặn làm cá đầu xe,
phần còn lại làm thùng xe, thêm miếng ván và 4 bánh xe, chiều chiều bọn trẻ con
kéo xe đi chơi. Tôi mê lắm mà không có đồ chơi.
Thời năm 1947 về trước, dân chưa biết lễ 14-7 Pháp,
nhưng biết tham gia nhảy bao, cạp chảo, leo cột mỡ, nhìn lính Pháp hóa trang đi
vòng chợ lấy làm lạ lắm, ông già tôi chuẩn bị đóng cửa không dám coi. Dân hết sợ
xe camion nhà binh, xà lan sắt. Mỗi lần xà lan tàu chạy xình xình, ghe xuồng
khép nép đậu tránh, người lớn và con nít đứng coi. Khi hai người lính Tây đứng
hai bên hạ hay kéo miếng bửng lên, nguời ta trầm trồ, "hai thằng Tây mạnh thiệt,
có hai ngón tay mà nó kéo cái bửng sắt lên.". Máy bay trên trời thì thấy, khi nó
bắn trên núi Tô, không đáng sợ, nó ở xa mà, dân chợ chưa từng ăn bom, máy bay
chúi xuống như con chim cồng cộc nhào xuống bắt cá, chiếc khác bay xè xè là con
đầm già.
Trong lớp học, bọn học trò đã biết vẽ tàu lặn, địa
lôi, súng cao xạ, máy bay, xe tăng. Thằng Đổi biết vẽ máy bay bị bắn rớt.
Buổi sáng đó, xóm nhà dọc theo đường sân banh nghe tiếng
máy bay chói tai, ù ù và tiếng nổ ình ngoài ruộng. Chiếc máy bay cồng cộc xắn
xuống bờ ruộng, một cánh chôn dưới bùn, cánh còn lại chỏng lên trời..Mọi người
mạnh ai nấy trốn vô nhà. Xe nhà binh trên thành ầm ầm chạy xuống, có người tò
mò gan dạ nhìn qua khe cửa thấy lính Tây khiêng hai người chở đi, lính Tây đứng
canh chiếc máy bay, mấy người lính Miên cầm roi rượt đám người, dù họ đứng xa cả
cây số.
Hôm sau, có chiếc máy bay hạ cánh chở bịnh. Lần đầu thấy
máy bay chuồn chuồn, ừ, nó giống con chuồn chuồn thật, giống hình trực thăng
trong tờ bích chương có hình Quốc trưởng Bảo Đại. Máy bay chở bịnh nhân bay
lên, “ nó chỏng đuôi, cánh vỗ vù vù như con chuồn chuồn “..
Lính Tây vẩn chưa cho bà con tới gần, mà ít người dám
tới gần, ai đi ruộng gần đó đều tránh, họ đổi hướng đi chổ khác. Dần dần thấy
con cồng cộc vô hại, nó nằm hoài không nhúc nhích, chưa chịu bay đi. Côn ngoại
tôi hầm hừ, "lại gần, nó nổ bỏ mạng à". Gia đình tôi không ai đi coi con
cồng cộc. Dân Tàu làm như không biết biến cố nầy, họ chỉ biết tiền. Dân Việt vô
công rổi việc tới coi rồi bàn ra tán vào, "cánh nó giống cánh con cồng cộc,
trên cánh có ba vòng tròn màu xanh trắng đỏ, mình nó giống con châu chấu".
Trong lớp, Đổi nói hay lắm, “Anh Ba...núp trên cây, cồng
cộc ăn quen, chúi xuống, anh bắn một cái..” Thằng Lái nói, "Đương
bay, lật ngửa, lấy lại không kịp "..
Người ta coi cồng cộc càng ngày càng đông, có thể tới
gần, lính Tây dễ dãi đứng nhìn. Buổi xế trưa, người ta đi ruộng sớm, làm xong
công tác nhẹ khỏe, họ tới đứng coi cho mãn nhãn, tuy chưa được rờ mó, “để coi
cái máy nó gắn chổ nào kìa. Cái chong chóng như cái muỗng canh, cái đuôi nhỏng
như cái phao câu con cu đất, bình xăng đâu kìa?"
Chợt có xe lính trên thành chạy tới. Lính lên cò súng
rôm rốp, lùa dân đi coi xáp vào khiêng từng phần máy bay mang lên thành Tây. Ai
nấy đành è vai vô khiêng, chạy nó bắn chết sao. Côn ngoại tôi được dịp, "Coi
đi, bây giờ coi còn gần nữa à". Đâu phải chỉ vậy thôi, chú Đáo thợ hớt tóc, người
nhỏ như thư sinh, đi coi mà không chịu khiêng cồng cộc, bị Tây đánh đổ máu màng
tang.
Đêm đó về, chú Sáu Tuất, giống hầu hết dân khiêng máy
bay, bị sưng vai và trật bàn chưn, đi cà nhắt. Thím Sáu xa xả, "Đi coi thiên hạ
sự, ở nhà dễ gánh nổi đôi nước à". Chú Sáu muốn kể cho mụ già ếch ngồi đáy giếng
này về máy bay cồng cộc, coi nó giống cái gì, thứ ngồi nhà biết gì, nghĩ hoài
không nói ra được, chú có từng khiêng đuôi máy bay chứ đâu phải chơi, "Cái bà
ngu, đuôi máy bay cồng cộc chỉ có tao biết thôi, nó cứng như sắt, gỏ đau tay chớ
phải chơi sao. Cái xá lan sắt nặng mà nó chạy dưới sông không chìm, máy bay bằng
sắt mà bay trên vù vù như chim. Nghĩ lại tụi Tây nó giỏi thật"