Hai vị thầy ít nhớ
Lưu Nhơn Nghĩa
Thời thuộc địa ( trước 1954 ) và sau
đó chừng năm bảy năm, dù là trường
tư thục Sài gòn, lớp khoảng 80 đứa,
kỷ luật học đường rất chặt
chẻ, học sinh có nề nếp, chỉ nghịch
ngợm hay nói chuyện chút ít. Lúc đó tôi còn học
trường Thủ khoa Nghĩa.
Giờ chơi, theo luật nhà trường, giám thị
có trách nhiệm kiểm soát, nhắc nhở học sinh
không được ở trong lớp. Thường khi
giáo sư vừa ra khỏi lớp, học sinh nào
vừa đưọc kêu lên trả bài, chạy nhanh lên
lật sổ xem điểm mình. Điểm rất quan
trọng , mầm móng ganh tỵ, tranh nhau từng nửa
điểm và thứ hạng trong lớp ( qua bảng
danh dự và bảng ban khen. ). Chuông vừa reo, giám
thị đi từng lớp nhắc nhở, " ra ngoài ".
Học sinh vâng lời .
Núi Sam có cây mắc mèo, trái giống trái me, lông dài chừng
1cm, màu vàng sậm, đụng vào lông ngứa lắm.
Chàng chín L. biết giờ sau tới phiên mình bị kêu lên
trả bài, sẽ bị phạt consigne, cấm túc sáng
chủ nhựt, mà chàng không thuộc nên tìm cách hoãn binh.
Chuông vừa reo, chàng mở sổ khuyên điểm
rải lông trái mắc mèo rồi nhanh nhẹn xếp
sổ lại, khi nghe ông giám thị Sãi kêu " đi ra " phòng
kế bên. Chàng chạy nhanh ra ngoài trước khi ông giám
thị tới.
Khi giảng bài xong,, còn 15 phút kiểm bài kỳ
trước, giáo sư mở sổ, tì tay trên sổ kêu
học sinh lên trả bài, bỗng ông hét " a ", như
bị bò kẹp chích, rồi ngứa. Ông càng gải càng
ngứa, gải đỏ cả tay, chụi không
nổi, ông lên văn phòng báo cáo , rửa tay vẫn
chưa hết ngứa. Chuông reo hết giờ, chàng Chín
L. thoát nạn. Thầy Thân Tổng giám thị, thầy
Sải xuống lớp. Thầy Thân lẩm bẩm, " mắc mèo
", ông gốc Châu Đốc biết ngay.. Hình như
thầy Sải bị khiển trách., ông tức điên
lên, hăm he cho ra Hội đồng kỷ luật, zero
conduite, đuổi học, học sinh biết mà không
hở môi.
Hình như giáo sư càng hiền, bọn tôi càng ít phá, càng
đánh , bọn tôi càng nghĩ cách phá vặt.
Nhắc lại năm 1955, bọn tôi ưa kêu tên cha
người bạn ra trêu chọc, hai đứa cải
lộn, cũng kêu tên cha ra chửi.. Lúc đùa dởn,
bọn nó ưa nói ra một câu trong đó có tên cha bạn
mình, lấy làm khoái trá.
Giờ Vạn Vật, thầy Nguyễn Phụng Công.
Thầy Công hiền lắm, ít nói, ăn chay
trường, ở xóm hàng sáo, gần nhà ông Đốc
Đa. Đầu giờ thầy giới thiệu bài
dạy," Hôm nay chúng ta học về con ốc sên ". Cả
lớp cười ầm lên, rồi cười hỏi,
" con gì thầy ". Thầy Công lập lại, " con ốc
sên ". Bọn nó nhao nhao, " con ốc sên ". Bọn nó càng
cười, thầy Công ngượng nghịu, nhìn
quần áo mình, vuốt mặt, hỏi, " có gì đâu mà
mấy em cười ? ". Ngô vĩnh Lâm tức lắm, tên
ông thân nó. Thầy Công lại viết lên bảng " con
ốc sên ". Bọn nó làm bộ lập lại chọc
tức Lâm suốt buổi học.. Nhưng chính Lâm
cũng ưa trò chơi nầy từ trước,
nhưng lúc vui, có qua có lại. Bọn tôi chỉ ghẹo
tên cha, ít dám kêu tên mẹ bạn mình. Lê hoàng V. rất lém
trong lớp,, học khá, lảnh bảng danh dự
đều đều, trưởng thành sớm, biết
theo chìu chuộng thầy. Hắn coi thường
đứa đồng chạn. Hắn đụng
chạm gì với Mi., con cô giáo L.,. M. học giỏi,
nhưng ăn nói bộp chộp, hơi nhúc nhác, chỉ
lo học. V. chọc tức M. hát bài cổ nhạc
nổi tiếng, có tên bà thân M. " em L . ơi từ đây
đôi ta, vui bên nhau tình không phôi pha, ". Cái đùa có ác ý
nặng quá, gọi mẹ bạn mình là em, dù đó là bài
hát trong dĩa hát ASIA
V. vừa hát rồi hút gió thách thức suốt từ
trường về nhà. Khi qua khỏi cầu kinh ông Cò,
trước trụ sở Ang Giang phước thiện,
M. nhào tới đánh V.. M. lớn con, nhưng mặc áo
quần bà ba, mang guốc nên lúng túng, guốc đứt
quai, đạp nhằm đá nhọc máu đỏ chân.
V. có lợi thế nhờ mặc đồ Tây, mang giày
bata. Lúc cang ra, M. sưng má, V. bị nhẹ hơn,
nhưng bị đứt dây đồng hồ, chính
hắn đạp dẹp cái đồng hồ,
thường ai bây giờ.
Giờ Sử thầy Đào công Kỹ, giảng Sử
Hy lạp. Ông Jupiter cưới bà Junon, sinh ra thần
March, thần Mercure, và thần Vulcain. Thần March coi
về chiến tranh, thần Mercure coi về thương
mại, thần Vulcain coi về việc rèn đúc.
Thầy Kỹ khen đồng hồ Vulcain của V.
rất tốt, ai cũng trầm trồ, V. hãnh diện ,
cưng đồng hồ đặc biệt nầy. Hôm
sau vô lớp, mặt M. sưng, còn đấp muối.
V.tiếc hùi hụi cái đồng hồ Vulcain. Từ
đó V. e dè với M. Vài ngày sau, mặt M. hết sưng,
chỉ tốn mấy đồng mua quai guốc mới.
V. lỗ nặng, cái đồng hồ mang tên thần rèn
đúc Hy lạp Vulcain rất mắc tiền thời
đó, đâu phải ai cũng có tiền mua.
Ngày nay chắc học sinh không hứng thú chơi trò kêu
tên cha mẹ bạn mình ra. Thầy Công hiền quá,
thầy đã mất, nếu còn, chưa chắc thầy
hiểu tại sao bọn học trò cười năm
xưa, 52 năm qua rồi, ai cũng quên thầy.
----------------------------------------------------------------------
Thầy thứ hai mới nhớ là thầy Đặng
văn Thuận, nhờ anh Chung nhắc mới biết
họ thầy. Thầy Thuận trắng trẻo, cao ,
tốt người. Thầy ở cùng dãy phố với
thầy Hỷ, tiệm nước đá Đại
Đồng, gần nhà một chị nữ sinh
trước tôi một năm. Tính thầy nhã nhặn,
điềm đạm, trầm tỉnh, nói năng hay
giảng bài chậm rải, rỏ ràng. Giáo sư
thường ngồi tại bàn,nhưng thầy hay đi
tới lui trong lớp nhìn bài vở, nhắc nhở
chổ sai chỉ cho học trò sửa.. Suốt mấy
năm học, chưa lần nào thầy la hét giận
dữ. Không khí trong lớp thầy nhẹ nhàng, dễ
chịu, học trò thoải mái nên không quậy phá.
Giờ dessin, vẽ trái xoài. Như thường lệ,
thầy đi vòng trong lớp cho ý kíến từng
đứa. Thầy cầm bức tranh trái xoài Nguyễn
hải Thệ vẽ đưa lên, khen nét vẽ và bóng
trên trái xoài, chổ sáng chổ tối, " có óc mỹ
thuật ". Thầy khen còn thiếu, " có óc mỹ thuật
mà nghèo ", ngày nay, Thệ nghèo xơ xác..Nhìn trái xoài tôi
vẽ, thầy lấy viết chì sửa vài nét cho trái
xoài dài ra. Thằng Mỹ ngồi bên tán vào, " Nó nói nó
vẽ muà Xuân Núi Sam ".Thầy lấy cây viết chì
nhịp nhịp trên đầu tôi, nói " vẽ giống
con cá nóc no mà đòi vẽ mùa xuân núi Sam, thằng dịch
vật ".
Tôi quên mất thầy từ năm 1958. Người
thời đó nói đúng, muốn nhớ lâu phải
đánh cho dữ. Thầy Thuận không đánh, không
nặng lời với học trò, ngược lại
với quan niệm thời đó, thương cho roi cho
vọt. Ông già tôi mỗi lần gặp thầy dạy
tôi đều có một câu, "thầy cho tôi gởi,
thầy đánh nhiều tôi cám ơn ". Ổng cám ơn
chớ tôi không cám ơn.
Tôi chợt nhớ phong cách từ tốn khi dạy
học của thầy Thuận, đâu cần phải
đánh phải chửi học trò mới học
giỏi.
Ngày nay, ít ai nhớ thầy, tôi nhớ cũng là
điều lạ.
Brisbane PA Hospital.
16 April, 07