Kết toán sổ sách cuối đời
Lưu Nhơn Nghĩa
Brisbane, 7 March 2007.
Cuối năm 2004, được cái package
sướng ơi là sướng. Sau mấy mươi
năm làm như trâu cày ngựa cưởi, nhà cửa
đã xong, nằm ngủ nướng buổi sáng bù,
rồi ta sẽ đi giang hồ. Số vẫn chưa
hết cực, lại tìm được việc khác,
định hốt thêm,đang làm chóng mặt, về
thử máu mới khám phá bịnh trầm kha, bản án
tử hình có sẳn chờ ta trả xong nợ nần
thì đi.
Bản án ký treo 2 năm, gần 2 năm rồi,
cấp bách, không thể chờ được. Tôi
bắt đầu xem lại những gì mang theo
được qua bên kia. Phải dọn về nhà cũ
gần thành phố. Việc làm chừng 2 ngày xong,
nhưng cứ dọn hoài mà đồ đạc còn
ngổn ngang. Cầm món gì lên cũng bồi hồi,
mỗi món là một kỹ niệm, để lại cho
ai, ai là tri âm tri kỹ.
Đầu tiên sắp video tapes vô thùng. Từng
cuốn phim như in trong đầu, phim nào hay, xem đi
xem lại không chán. Phim Ankur, anh chàng Ấn Độ
vừa nghèo vừa câm, say rượu bị gọt
đầu, bị đuổi khỏi làng, cô vợ nghèo
sa vào tay chủ điền có thai, ngày anh về
đưa tiền tạ lỗi vợ, thấy vợ có
thai, mừng quá, tưởng con mình, kéo tay vợ chạy
vô đền thiêng lạy tạ nữ thần.
Phim Roshamon, 7 người hiệp sĩ, Ran, Desu Usala (
chàng thợ rừng Siberia) phim nữ tài Củng Lợi
đóng, phim Lương sơn Bá Chúc Anh Đài ( Triệu
Lôi, Lạc Đế đóng ), Vương Chiêu Quân ( Lâm
Đại đóng ) lặn lội qua Thái lan mới tìm
được. Năm xưa nằm suốt ngày trong
rạp Khải Hoàn, nghe Lương sơn Bá thất
vọng uống cạn ly rượu Chúc Anh Đài dâng,
thổ huyết chết chôn bên đường Nam
Sơn. Chúc Anh Đài cứng cỏi nổi loạn,
bắt cha phải tổ chức lễ đưa dâu
như một đám tang đi ngang mồ Lương
Sơn Bá. Chúc Anh Đài cởi bỏ áo cưới,
mặc tang phục, ôm bia mồ Lương Sơn Bá kêu
khóc vọng trời cao, khúc Huỳnh mai điệu kéo dài
dai dẳng, " Lương huynh a, sinh bất thành thân
tử bất phân "( Luơng huynh ợi, sinh không thành
vợ chồng, nguyện chết không lià nhau..
Vương Chiêu Quân chỉ mặt Mao Diên Thọ tức
tửi khóc," Nị nị pỉ..." Mi, mi, cây bút mi còn
nhọn hơn gươm đao a ".
Các lọai phim tài liệu, Circus Monaco nhiều năm,
đàn Sita cùng trống và dân vũ kỹ viện Bắc
Ấn. Hát Văn, hát chèo Quan Âm Thị Kính, cô Thị
Mầu lẳng lơ, nhỏnh nhảnh ưởn
ẹo, " Lẳng lơ thì cũng chẳng có mòn, Chính
chuyên thì cũng chẳng quét son mà thờ ", cũng có lý.
Vũ điệu Haka Maori NZ, Kamate Kamate kaura kaura, chết
chết, sống sống. " Dù kê , Lâm thol quê nhà,các cô
đào chánh Miên đẹp lắm kìa, cảnh em bé
ngồi bơ vơ dưới hiên bán bánh bao chỉ,
vừa nhìn mưa rai rắc . Lấy tape ra định
bỏ vô thùng, tiếc tiếc, bỏ vô máy coi lại,
mất cả giờ, thôi chờ bửa sau, rồi
lại coi tiếp, bịnh nó đâu có chờ lâu.
Lại thêm thùng dĩa nhạc dân ca và quốc ca các
nuớc, ai có thèm nghe, quốc ca New Zealand như sóng Nam
Thái bình Dương, " God defend NZ ", quôc ca Nhựt, nghe nói,
mấy ông già Phát xit nghe nổi cơn đi tìm gái. Dân ca
Thuỵ Sĩ cao vút như gió núi Alp, dân ca kèn bagpipe
Scottland, nhạc du mục Gypsy Hungaria, bản Le Temps de
L'amour , Francois Hardy hát. Nao lòng nhứt là bảng Shina no
yoru, Chiều Tô Châu, nó làm tôi nhớ Kazuko man man, rồi
bản Cao Sơn Thanh, dân ca A li san Đài Loan, lúc còn đi
học, bọn bạn bè gốc Hoa khi họp mặt hay
hát, ở NZ, ái mộ Tư Đồ Trân Châu, tiểu
thơ gốc Thượng Hải, chê tôi hát có
thổ âm Triều Châu nhà quê, đi đâu cũng bị
chê, Châu Đốc chê tôi Ba Tàu.
Áo quần cũ. Áo quần hình như cũng lưu
luyến không muốn rời tôi, dù đồ second hand.
Suốt 16 năm, đi dạy học, tuần hai cái
quần short, ba áo sơ mi, 5 đôi vớ cao, đôi giày
Adidas nhẹ, nghỉ hè thì quần jean ngắn, áo T shirt,
sandal, dù Đông hay Hè. Vô bao cho Cơ quan Từ thiện
thấy nhớ nhớ, nhớ cái " ấm áo ", no cơm
ấm áo. Đồ càng lúc càng nhiều, dù tôi rất
hạn chế mua sắm, mặc đồ mắc hay
rẻ tiền, mỗi năm chỉ lên lương
một lần, ngu sao mua.
Coi vậy mà xếp hoài không gọn, bỏ thì
tiếc, để choáng chổ. Bộ veston mua ở
Đức, đi đám cưới tròng vào cho phải
lễ, đâu có dơ mà giặt, máng lên đó, biết
đâu có đám cưới con cháu bất ngờ . Bộ
Veston tiệm Mỹ Lợi 138 Triệu Đà may, bây
giờ chật cứng, mấy cái áo mới trắng từ VN còn nguyên màu, chúng theo ta từ ngày hàn vi, bây giờ
bỏ sao đành? Cầm từ cái trên tay, khó rời.
Trời ơi, cái áo Tiều nút thắt của Tư
Đồ Trân Châu tiểu thư tặng sau khi tổ
chức rủ rê được mấy người
Vệt gốc Hoa xem film tài liệu diễn hành Đài
Loan.Trời ơi, nỡ đành chê tại hạ,
lấy tên Đại tá già gốc Quôc dân đãng Đài
Loan, tại hạ cũng gốc sĩ quan trẻ đây
mà. Cái cravate batik Mã Lai, năm 1976, Thẩm Châu Anh từ
biệt về Singapore tặng , ngày ngày tròng vô cổ ra
Tòa án thông dịch, tưởng như nụ cười
môi hồng bạn xưa còn đây, cám ơn. Cái sarong
tơ Nam vang Tholla tặng, mềm như tơ, cưng
tới ít dám mặc, cái quần cheo đen ý Sáu Lý tự
về VN may, ngắn, nhớ mấy ông Miên mặc đi
chợ, ngồi trên chỏng ăn cháo lòng, hớ hên. Cái
bao tay da trừu nằm im lìm trong đáy tủ, mốc
meo, nhớ đêm lạnh chạy Honda băng qua đèo
cao từ Auckland đến Wellington , gió phần phật
đáng sợ, một bên vách núi, một bên thung lũng
sâu hãi hùng, nhờ bao tay, mà tay vẫn tê cóng, vô ơn
nếu bỏ nó lúc không cần.Cái áo cách hàn , mặc
đi ở đợ mùa Đông ở Đức ,
nhầu nát chứ dám phụ công nó. Cái áo giáp nặng
thời đi lính, chưa ra trận lần nào, vì
biệt phái về Nha Tổng quản trị, chưa
bắn ai, họ chưa bắn mình. Nhắc hoài không
hết, áo quần du lịch, áo hai túi nấp gài nút, bóp
tiền không rớt ra, móc túi khó làm ăn, quần 6 túi
để đồ cho nhiều, dầu xanh mấy
lố, phụ tùng máy ảnh video camera dồn vô hết,
ăn gian được mấy ký về cho bà con,
người ta không hiểu lòng, còn chê Tây balô về làm
mất mặt gia đình. Quần áo đâu phải
vật vô tri. Ta đi rồi, chắc bọn mi sẽ vô
tiệm đồ cũ, hay bải rác. Đâu cũng
vậy, ở cho phải đạo nghe áo quần.
Chưa từ giả áo quần, nhìn lên mấy kệ
sách, sách vở rộ lên kể chuyện, tranh công,
cuốn nào cũng khoe mình quan trọng, dù là tờ báo
cũ kỷ. Lâu nay sách đứng trên kệ, sẳn sàng
mở lòng cho ai muốn đọc. Sách ở với nhau
từng xóm, không chịu ở chung. Đám tự
điển ỷ thông thái, uy quyền, có khi dám nằm
trên đầu giường, đám tiểu thuyết
dễ dãi, đông đảo, từ nhóm Tự lực
văn đoàn ( ngoài Bắc đến mấy anh em
từ miền khai sơn phá thạch của Hồ
biểu Chánh, Sơn nam, Nguyễn ngọc Tư (thiên tài). Mấy mươi năm nay sưu tầm lại sách
cũ, bây giờ sắp chia tay.
Mấy chàng Quốc văn Giáo Khoa Thư, lớp
Đồng Ấu, Dự bị, Sơ đẳng ỷ
mình già, được bao bọc, nằm trong folders, tránh
mối mọt. Trưa mùa hè, trời nắng chan chan, gió
im phăng phắc...Cái ngủ mầy ngủ cho lâu,
Mẹ mầy đi cấy ruộng sâu chưa về.
Cuốn Tập đọc lớp tư, bà già tôi mang qua.
Sách tranh nhau kể chuyện không dứt. Lớp học
xưa hiện về với đủ mặt, có cả
hồn ma .
Nghe mụ nửa mùa hội cao niên lép bép,"Đám
cưới, để tui maquiller cho, công dung ngôn hạnh". Ê, bà nói cho trúng nghe, tôi có bộ Chinh phụ ngâm, Kim Vân
Kiều , Gia huấn ca bằng chữ Nôm chứng minh
đây,
Công là đũ mùi xôi thức bánh, Nhiệm
nhặt thay đường chỉ mủi kim,
Dung là mặt ngọc trang nghiêm , Không tha thiết
không chiều lơi lả
Ngôn là dạy trình thưa vâng dạ, Hạnh là
điều ngay thảo kính trinh.
Bà biết làm bánh, làm cơm gia đình ăn cho
được không?, bà biết may vá không ?, bà có nét
mặt nghiêm trang không? bà biết dùng từ ngữ
lễ độ không?, bà có ngay thẳng với gia
đình xã hội không? Ai nói với bà maquiller, tô chát
mặt già là là công dung ngôn hạnh? ( nói rồi lên máu ).
Sách cổ văn nằm chung góc kệ, bản Kiều,
Chinh phụ ngâm, Cung oán, Ức trai thi tập...các cụ
nầy khó tính, gần nhau ắt sinh chuyện. Ông
Đường thi tam bách thủ (300 bài thơ
Đường) dựa Đường thi Trần
Trọng Kim. Trong bài "Khách chí" (Khách đến nhà ) của
Đỗ Phủ, ngay câu đầu đã có sự sinh
sinh sự.
Xá Nam xá Bắc giai Xuân thủy.
Quanh nhà nam bắc lụt to (cụ Trần trọng Kim,
vị thâm nho thời trước dịch, tác giả
quyển Nho giáo, ai dám đụng chạm chữ nghĩa
ngài?)
Trong Đường thi tam bách thủ, Ngôn văn
đối chiếu, Bạch thoại chú giải,
giải thích "Nước mùa Xuân chảy phía nam phía
Bắc nhà ". Mùa Đông, miền Bắc Trung hoa, tuyết
đóng băng, mùa Xuân ấm áp, tuyết băng tan thành
nước, câu thơ diễn tả cái ấm áp mùa Xuân,
cụ Kim dịch là "lụt to" .
Trong bài " Phong kiều dạ bạc "của Trương
Kế,
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên. (Trăng xuống, quạ kêu, sương mù mịt
đầy trời, nùng sương, sương dầy
dặc,"mãn" là ngập đầy).
Cụ Kim dịch "Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi".
Tản Đà dịch " Trăng tà tiếng quạ kêu
sương "
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên,
Giải thích bằng bạch thoại trong
Đường thi tam bách thủ, " Khách dừng
thuyền ngủ bên bến Phong kiều, cảnh trăng
lặn, tiếng quạ, sương mịt mù, cây bàn bên
sông, ánh đèn thuyền câu, tất cả làm khách ưu
sầu khó ngủ "
Cụ dịch "Lửa chài cây bãi đối người
nằm co",
Tản Đà dịch "Lửa chài cây bến sầu
vương giấc mồ"
Dịch ra thơ hay như Tản Đà, nhưng phần
nào nội dung bị mất.
Ngày nay, có ông Châu Long Xa đến tại Tỉnh Giang Tô
bên ngoài huyện Ngô Thành, khám phá là hai chữ "Giang, Phong "
là tên hai cây cầu, cầu Giang kiều và Phong kiều,
giang phong không phải là cây bàn trên sông, chữ Hán không
viết hoa chỉ danh tự riêng, làm sao đoán.
Lâu nay, để hai cuốn sách dựa nhau, không ngờ
khám phá sự bất đồng. Cầm lên không muốn
rời, chưa xả được.
Xấp tài liệu photocopy chuyện "Ông Trượng Tiên
Bửu", lão già 70 còn ve vãn thiếu nữ đang xuân. Tôi
bỏ hết chuyện dọn dẹp, theo nghe lão
Trượng hò hát đối đáp với nàng Tiên
Bửu.
Tiên Bửu chèo đò nuôi mẹ, khách đầu tiên là lão
Trượng, vừa bước xuống thuyền lão
đã giở trò,
Tưởng là một chuyến mấy đồng,
Bao
nhiêu cũng trả không chồng lo chi.
Tiên Bửu đốp chát
Ông già kia hởi ông già,
Cái răng ông rụng tôi mà không
thuơng.
Ớ Bửu ơi, Thương nhau vì dặm vì dài,
Chớ cắn xé chi đó mà bậu nài cái hàm răng.
Ông già kia hởi ông già,
Bảy mươi còn muốn gái
mà mười lăm.
Lão Trượng oái oăm,
Áo dầy đâu có nệ
quần thưa,
Bảy mươi có của cũng
vừa mười lăm.
Tiên Bửu cự tuyệt,
Thuyền tôi chở
lưới chở câu,
Thuyền đâu có chở cái hàm
râu ông già.
Ông Trượng lỳ lợm,
Già thời già mặt già
mày,
Chớ chân tay già hết, chổ nầy còn non.
Tiên Bửu rút lui, Ông Trượng quyết đeo
đuổi tới cùng.
Ớ, chồng con chi nữa rầy rà,
Vai mang chuổi
hột áo già đi tu.
Ơ Bửu ơi, Tu đâu cho bằng tu đây,
Tu chùa
một cột đá xây hai hòn.
Dù trốn đâu cũng khó thoát ông,
Quyết lòng lên núi
Điện Bà,
Để chùa một cột lại nhà cho
ông tu.
Lão vẫn theo tới cùng,
Tu đâu cho lão tu cùng,
Mai sau
thành Phật ngồi chung một bàn.
Tiên Bửu khinh miệt thân phận lão già đa đoan,
Thân tôi như trái mãng cầu, (nàng cẩn thận hơn, đặt trái mản cầu trên bàn án cúng thần cho
chắc, ai dám đụng tới)
Ở trên bàn án, hạc
chầu lộng che.
Lão tìm được cách,
Thân qua như thể con dơi,
Bay lên đáp xuống dởn chơi trái mảng cầu.
Ông Trượng ơi, Thân tôi như cái giường ngà,
Thân ông như manh chiếu rách người mà ngồi trên.
Trời giúp ông,
Cầu trời cho gió thổi lên,
Cho manh
chiếu rách nó nằm trên cái giường ngà.
Tiên Bửu trốn vào đền vua, Lão là dân làm sao vào
được,
Thân tôi như cái chuông vàng,
Ở trong thành
nội cả ngàn quân canh.
Lão biết thân lắm, đâu dám đường bệ
vào chầu vua,
Ớ Bửu ơi, Thân qua như thể
cái chày,
Chớ bỏ lăn bỏ lóc chờ ngày dọng
chuông.
Tiên Bửu đành xuống nước năn nỉ,
Lạy ông trăm lạy thứ tha,
Tuổi tôi còn
nhỏ vậy mà như con.
Lão liều lỉnh, dai như đỉa,
Mười
lăm mười sáu đương xuân,
Thấy bậu
còn nhỏ biểu đừng cũng ve...
Sau cùng, Tiên Bửu đuối lý, đành dẫn ông
Trượng về cúi đầu chịu lỗi mẹ
già. Lão nhanh nhẫu phủ đầu bà già.
Cúi thưa qua nhạc mẫu,
Cho tỏ dạ từ thân,
Từ gặp nàng đưa khách giang tân,
Duyên trời
khiến kết duyên Tần Tấn.
Lão đổ
lổi cho trời, duyên trời, còn chận thêm, "thời đã rồi a nhạc mẫu"
Tiên Bửu cuống cuồng, ,
Dạ trăm lạy
mẹ, ngàn lạy mẹ,
Cúi đầu quì lạy mẹ
già,
Trẻ đà thất tiết mẹ tha tội
nầy .
Bà già kinh ngạc, chỉ biết la làng...
Thiên hạ hai bên cô bác coi đó mà coi,
Thấy nói lòng
dường như lửa đốt,
Nghe rằng dạ
tựa dầu sôi.
Cha chả là lịch sự , là
xứng đôi vừa lứa...
Bà già no mất ngon
giận mất khôn, trúng kế lão Trượng.
Thôi thôi
đừng mẹ đừng con,
Mẹ đà hết
tưởng không còn cậy trông,
Liều như đi
biển đi sông,
lâu ngày biệt tích hết trông mầy
về.
Bà già trúng kế, mắc bẩy. Lão thành công dẫn Tiên
Bửu về, lão tâm lý lắm, vừa đi vừa an
ủi chở che Tiên Bửu,
Gành cao là núi Trượng Vân,
Lòng thương em bậu
mấy lần lao đao.
Lấy cớ bị bà già
đuổi, không còn chốn nương thân, lão phân
trần.
Phụ mẫu đà chẳng khứng dung tình,
Hai ta
đồng trở lại gia trung,
Kẻo nô tỳ
chầy ngày trông đợi.
Cuốn kịch thơ "Bến nước Ngũ bồ" lộ ra trong đống sách gợi nhớ kỹ
niệm đặc biệt thời đi học ham vui.
Lúc đó tôi tham gia chuơng trình xã hội của Đoàn
Sinh viên Phật tử SG. Trụ sở tại cư xá
Quảng Đức gần cầu Công lý. Hầu hết
sinh viên trong cư xá gốc miền Trung vô trọ
học. Sau 1963, sinh viên gốc Trung , Huế chủ
động sinh hoạt, họ ăn nói trôi chảy,
hoạt bát, tự tin xông xáo.
Cuối năm tổ chức Văn nghệ gây quỹ
giúp Cô nhi viện Diệu Quang. Thời của nhạc
sĩ Phạm thế Mỹ, Miên Đức Thắng (nhớ hoài câu nói của chàng, "mình đã đi khai phá
hết cả rồi"), Võ Hợi, Nguyễn xuân An. Ban
đầu, ai cũng tham gia hăng hái, nhưng khi đã
nổi tiếng, không phải dễ mời. X A coi như
đã thành danh, bạn bè thổi hắn như diều,
hắn tưởng thiệt, chủ động
chuơng trình ca , đóng vai chánh trong vở kịch. Phút
chót, không vừa ý, hắn bỏ ngang không tập
dượt. Anh Đoàn trưởng cầu cứu
thầy Thiện Minh năn nỉ cả buổi. Đêm
đầu, bạn gốc Trung hắn khen nức nở,
một ngôi sao sáng cả trời. Sáng hôm đó, anh Đoàn
trưởng mượn xe hơi thỉnh hắn đi
ăn sáng chợ cũ, ăn tiệm phở gần không
xứng đáng, không riêng gì hắn, thêm đám parasite
chồng chất theo lên xe (anh Đoàn trưởng
gọi là parasite, vì anh bỏ tiền túi hơi nhiều), nghệ sĩ phải có đàn em. Xe chở quá
nhiều bị Cảnh sát xét, hắn quên mang theo giấy
Hoãn dịch, hối lộ cảnh sát không nhận,
đàn em hắn đặt chuyện là cửa phòng
hắn khoá, bạn chung phòng giử chìa khóa không có
mặt, đặt chuyện hay thật, tôi thán phục.
Nhằm ngày chủ nhựt, thứ Hai về thì trể
buổi trình diễn. Hắn vào ngồi trong Quân vụ
thị trấn chờ giấy tờ.
Màn ca hát thì du di được, còn vở kịch thì sao.
Đám bạn hắn ngồi khóc,"bể dĩa rồi", tôi thấy tức cười. Tụi nầy làm coi
không được, " no one is indispensible ". Đã 12
giờ trưa, tôi nổi hứng, "để ta đóng
thay", hỏi "ông làm sao biết đóng kịch ? ",
lúc nổi cơn , " ê, văn chương Anh, văn
chương Pháp, văn chuơng Việt Hán tao còn không
sợ, ba cái đồ ma nầy ". May là lúc bọn nó
tập tuồng, tôi ngồi ủng hộ trà nuớc
nền đã khá quen. Ôm xấp giấy đánh máy bản
kịch học, mẹ ơi, kịch thơ. Tôi tập
trung tinh thần vừa học vừa đóng kịch
tới 8 giờ đêm. Ca sĩ Đăng Lan (đang
ở Sydney) thất sắc nghe nói X A bị kẹt, cô
bình tỉnh tập chung . Mặc cái áo mướn của
gánh hát bội nào đó, mùi hôi còn chịu được,
nhưng ngứa quá. Vở kịch 6 đứa, 5
đứa ở ngoại quốc.
Đêm khuya, cảnh quán bên bến Ngũ bồ, trăng
còn ngự trên vòm trời, túp lều hoang vắng, cây
cỏ im lìm, ánh đèn sân khấu có mãnh lực ghê
người, đừng trách người mê đào kép
hát. Đăng Lan vai Thị Trinh ngâm làm im cả rạp.
Dừng đây nghe sóng Ngũ Bồ, Dừng đây
uống cạn dăm vò rượu đau, Mênh mông
tiếng hát ngàn câu...Sắc đẹp Thị Trinh não nùng
lúc đó, nàng buông chèo, Chèo nghiêng thức trắng năm
canh, Hởi người chiến sĩ áo xanh ngựa
hồng, Hoa thưa cài mái tóc bồng.
Đến vai Trần Bạch, tôi dặn người
nhắc ( sau nầy là dân biểu Nguyễn công Hoan ),
nhớ lòn theo sau màn gần tao, chỉ cần nhắc
câu đầu, rồi dặn câu nào chấm dứt,
thật mau nghe. Tôi ôm bầu rượu ngả ngớn
say, từ Chiêm thành về, còn nhớ rượu và gái
Hời, lợi dụng vẩy các cô khán giả ngồi
dưới kia, " gái Chiêm quốc đẹp như trong
mộng triệu, Ánh dung quang mờ nhạt cả làn
gương, Mỗi bước hài đưa một
điệu nghê thường...
Thi Trinh nhăn mày liểu....Vì rượu ngon vì nhan
sắc gái Hời, có sang nữa cũng chỉ là uổng
phí.
Tôi nhìn xuống, bao nhiêu nhân vật quan trọng ngồi
dưới kia chăm chú, tôi chỉ mặt từng
người,
Em có biết bao anh hùng nghĩa sĩ, bao đường
đường hào kiệt đã lừng danh, khi sang Chiêm
rồi có khác gì anh, Cả chí lớn đong không
đầy cái hồ rượu (ôm bầu vổ
bầu nghinh mặt ). Ta đã trả được cái
thù của người tai to mặt lớn, chỉ nói mà
không làm, ham danh hám lợi.
Suốt gần 2 tiếng , xong , cởi bỏ cái áo hôi
hám, cảm thấy mình thực hiện việc hữu
ích. Từ đó tôi bớt mặc cảm với dân
Huế, dân Trung.
Luôn tiện, năm sau, tôi đóng luôn vai chánh vở " Mùa
gặt ác ". Sân khấu và cuộc đời không biết
có trùng hợp không. Vai Chánh Tổng tham lam, vu oan cho
người, giựt vợ người, làm con họ tù
tội, cuối cùng, vợ bé điên, tự tử. Ngày
nay, cả đời tôi không làm ác, có giận
người, nhưng chưa bao gìờ có ý hại
họ, mà sao tôi gặt cái bịnh ngặt nghèo. Trên sân
khấu, tôi làm ác, tôi đã gặt trên sân khấu rồi
mà, ngoài đời, tôi cố làm thiện mà sao gặt ác?
Chồng sách linguistìcs bỏ thì thương, học
rồi bỏ, không áp dụng gì cho cuộc sống hàng
ngày, bao nhiêu năm bắt buộc nhơi môn học nhàm
chán rắc rối tỷ mỷ nầy, bỏ sao đành?. Cuốn Hát Bội bằng 2 thứ tiếng Pháp
Việt của Tuần Lý Huỳnh khắc Dụng giúp
tôi lòng tự tin lúc học trường Sư Phạm.
Nhờ nó, tôi hiểu thêm văn hoá VN, mỗi bận
đi thăm các trường bạn, tôi có cơ hội
thuyết trình ngắn và trình diễn nghệ thuật hát
bội VN. Bộ Kinh Thi,lật qua trang đầu, thiên
Quốc Phong, Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu,
Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo
cầu, nhớ Thái tiểu thư mặt ngọc như
nữ tài tử Lâm Đại vai Vương Chiêu Quân.
Cuốn sổ toa bán hàng màu đen của ông Tàu nào đó
di dân đến đảo Samoa cuối thế kỹ 19,
bắt đầu bằng cái đòn gánh hai giỏ hàng
hóa bán dạo, ở đâu có khói có lửa là có
người Tàu, cuốn "bách tính " trăm họ Trung Hoa,
họ Lưu xuất phát tại Bành Thành, Sơn Đông.
Hàng loạt sách bìa dầy nặng nề, từ Thổ
Phồn, Tân Cương, Angkor Watt, Kim thự tháp, thánh
chiến giửa Thập tự quân và Hồi giáo. Mấy
cuốn kinh Thiên chúa, kinh Tora Do Thái, Koran , ai theo
đạo Hồi, chết lên Thiên đàng có mỹ
nữ, rượu ngon, vậy sao trên đời nầy
cấm rượu? Nhiều lắm, cứ lưu
luyến hoài, thời giờ đâu dọn dẹp, sách
vẫn nằm trên kệ. Tiền bạc nhà cửa
để lại có ích lợi, để lại có
nhiều người sẳn sàng nhận, còn sách vở
ích gì, không ai nhận nuôi sách. Sách là bạn đời
chưa lần nào phản trắc, sau giờ làm điên
đầu, nó xoa nhẹ tâm trí. Bực bội chuyện
gia đình, tôi mơ làm Don Rodrige trong vở Le Cid, thách
đố cha già vợ, đâm giả một gươm
cho hả, may là nó chỉ xãy ra trong vở kịch. Từ
giả sách, hẹn kiếp lai sinh về đọc
lại nghe. Còn 78 cuốn Nhựt ký, Hồi ký, ghi lại
thời tấm bé, kỹ niệm gia đình, gia phả,
những gì chứng kiến, kẻ thương
người ghét, khi vui khi buồn , oan ưng xin trả
lại.
Mở tủ, đồ kỹ niệm hổn
độn, món nào quan trọng, món nào bỏ đi,
mỗi món dù giá trị vật chất không bao nhiêu,
đều có tình có nghĩa, có biến cố liên hệ.
Những cuốn Diaries từ năm 1975, chi chít danh sách
chi tiêu, hò hẹn hàng ngày, địa chỉ người
gặp qua đường, ghi địa chỉ mà sau
đó có bao giờ liên lạc lại đâu, Djannit,
gốc Yemen, đạo Do Thái, gặp nhau, duyên bèo
nước trên xe lửa từ Norway, nàng về Bắc,
tôi xuôi Nam để về Đức kịp đi làm,
tặng miếng bùa gì đó, làm tôi nhớ hoài, Nhạn
vể biển Bắc nhạn ơi, bao thuở nhạn
hồi kẻo én đợi trông. Cái hộp thuốc pipe
kỹ niệm thằng Detectiv Đức nghi tôi ăn
cắp và cái biên lai, xâu tiền cổ, bộ tem và
tiền cổ sưu tập, cái nón sắt Đệ nhi
thế chiến, ba cái tà lọt đào được sau
ngôi chùa cổ Ô pà lầy, Xà Tón. Quà tặng kỹ
niệm dồn một bao đầy.
Mẹ ơi, qua bên kia thế giới, biết bọn
quỷ sứ gác biên giới đòi hỏi giấy
tờ gì. Passport VN hết hạn từ 1975, passport NZ
hết hạn từ 1991, passport Úc sắp hết hạn
cuối tháng 7, gia hạn thì tốn tiền, không gia
hạn thì lấy gì trình với quỷ sứ? . Xấp
nghị định bằng ronéo cũ mèm, giấy dòn
muốn rả, căn cước VNCH cấp tại
quận Ba Sài Gòn, chứng chỉ tại ngũ, căn
cước quân nhân, mất thẻ cử tri, không
biết nó chấp nhận biệt phái hay động viên
đi lính trở lại, vì giấy tờ quá hạn
đã mấy mươi năm, thẻ sinh viên, bằng
lái xe, thẻ y tế, thẻ hành nghề. Bằng
tưởng lệ, bằng cấp, nó bắt thi lại
hay bắt đi học lại. Bằng khoán nhà cửa,
làm sao sang tên.
Bỏ lại hết, bên kia nói tiếng gì, tiền
đâu đóng học phí, làm sao liên lạc thân nhân quá
cố hỏi mượn tiền xài tạm. Con
đường trước mặt âm u quá, chưa
biết mua bảng đồ ở đâu, rồi
thuốc men có được miễn phí không. Hàng
trăm vấn đề không biết hỏi ai.
Sinh vùng quê nghèo, lớn lên thiếu sưc khỏe, 11
tuổi xa quê tới nay, thiếu không khí và giáo dục gia
đình. Suốt bao nhiêu năm sống, đủ hỷ
nộ ái ố, tham sân si. Tính tôi đơn giản, nông
cạn, kém thông minh, học rất chậm mà siêng
năng, không ưa danh vọng, chỉ ham sắc, ham
tiền và du lịch. Lúc thì mặc cảm lẫn tránh,
lúc thì nông nổi, tự cao tự đại, mục
hạ vô nhân, lúc ty tiện từng xu, lúc xài vô lối,
tính bất thường, nhiều người ơn
kẻ oán, thù chắc không có.
Trước khi đi, còn nhớ, xin thế gian quên cho
những lổi lầm vô tình hay cố ý, cám ơn ân
nhơn giúp đở khi túng bấn, nguyện trả khi
có cơ hội kiếp lai sinh.
Ngày đi đầu thai, biết về đâu? Về VN
là hết hy vọng, ai bảo lãnh qua ngoại quốc.
Nghiệp dẫn đi đâu, làm đơn gởi xin
được thác sinh về làng Murupara Bắc New Zealand
vắng vẻ, đào củ kumera nung đá , thành món Hangi
thơm mùi khói, ăn no, chạy chơi thong dong qua cánh
rừng thưa bạt ngàn.
" GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SVAHA " **
Chú thich:
** Thần Chú trong kinh Bát Nhả, Yết đế, yết
đế, ba la yết đế, ba la t18ng yết
đế bồ đề tát bà ha. Tiếng Pali nghĩa
là : Xả đi, xả đi, vượt qua bên kia
bờ. Xả có nghiã là bỏ thành kiến, không bám
lấy ảo tưởng hay vật chất.