Lải Nhải Đời Tôi 1959 - 1969
Lưu Nhơn Nghĩa
Cuối năm 1958, Thủ khoa Nghiã không nhận lên
Đệ Tam, tôi lao đao lên Sài Gòn tìm trường
tư học tiếp. Đọc báo thấy tên
trường Hoàng Vịệt ở đường Phan
đình Phùng, gần nhà nhứt, tôi chưa dám đi xa,
chưa quen đường, hay chạy lạc. Ngày ngày
đạp xe đạp từ đường Triệu
Đà Chợ Lớn. Tôi ở nhà thân nhân bán gạo, than,
dầu lửa, gạo chất tới gác. Ở Châu
Đốc thanh thản đã quen, SG xa lạ, cao sang, tôi
cứ nhìn các cô để tóc đuôi ngựa, đẹp
quá. Tôi thì quần kaki xanh mốc, mồ hôi đổ
ướt mình trên xe đạp, mắc cở.
Năm 1958, dân SG đã quen tên đường bằng
tiếng Việt, nhớ năm trước đi
trại hè, ngủ tạm trườngTiểu học
Phan đình Phùng, hỏi dân xích lô máy không biết, chỉ
nhớ tên đường Richaud (?). Dân còn khá thảnh
thơi, nhiều anh xích lô đạp nằm ngủ
trưa hay đọc báo bên đường. Người
Pháp và ảnh hưởng văn hoá Pháp rất mạnh,
các cô trường Pháp cứ tự nhiên nói tiếng Pháp
ngoài phố. Các ông còn mặc quần short trắng, aó
trắng, vớ cao, ngồi ăn sáng quán Vĩnh Lợi,
trên dĩa có miếng bánh mì, lát fromage, trái chuối già. Ông
dùng dao cắt trái chuối thật gọn, tự nhiên,
động tác rất noble. Áo dài cổ cao, vạt áo
chấm gót. Nón Tây ( nón cối ) vẫn còn.
Đường SG còn cây cao bóng mát, xe đạp rất
nhiều, xe bus cũng dư cung cấp phương
tiện di chuyển rẻ tiền, thấy xe ngựa còn
lọc cọc trên tuyến đường Bảy
Hiền, năm 1965 mới không còn.
Xích lô đạp, xích lô máy rất thông dụng. Taxi là xe
Renault nhỏ, hai ngựa, màu xanh dương. Xe gắn
máy ( Mobylette, Sach, Velo Solex, Gobel, Puch ) khá nhiều dành cho
công chức, học sinh ít dùng, xe Mobylette chừng hơn
$6000. Ai cũng khen đồ Tây tốt và bền
nhứt, cũng như tiếng Tây hay nhứt. Các cô
mặc áo dài trắng, ẻo lả, đội nón lá,
chạy Solex đẹp lắm. Xe hơi có Peugeot, Renault,
Citroen, Simca, vài chiếc xe Huê Kỳ. Hàng hóa Tây
được chuộng, ảnh hưởng Mỹ
chưa mạnh như sau nầy.
SG mới có phong trào Đại nhạc hội, nhạc
nhớ miền Bắc rất thịnh, bảng " Nhớ
về Hà Nội, Chuyến đò vỹ
tuyến,...Nhạc sĩ miền Bắc chi phối
nền văn học và giáo dục miền Nam.
Trường tư cũ ít, trường Nguyễn
văn Khuê, Lê bá Cang... Trường tư lớn do
người Bắc mở khắp SG, thêm lớp dạy
thêm, học sinh đông lắm, mở trường là có
học sinh, thời thanh bình, thanh niên nô nức đi
học. Thời vàng son của giáo sư.
Tôi chọn ban B, hy vọng khá toán để thi lại
Trung học Đệ nhứt cấp. Bàn học chật
chội, 6 đứa, lớp chừng trên 80 đứa,
khỏi trả bài, khỏi điểm danh, chỉ
kiểm soát học phí, khoảng $300/ tháng (?). Lần
đầu học chung với nữ sinh, sĩ số nữ
sinh chừng 1/3 tổng số, có lẽ ban B, ít nữ
sinh. Nhớ Thủ Khoa Nghĩa thời tôi, sĩ số
nữ sinh là 1/4. chỉ có 1 lớp A va 3 lớp nam sinh.
Nữ sinh trường tư không có đồng phục,
áo dài màu đẹp lắm, hình như đẹp hơn
nữ sinh Châu Đốc(?). Học sinh gốc Bắc
khá đông, toàn bộ giáo sư đều gốc
Bắc. Tôi nhớ luật sư Trần văn Tuyên
dạy Pháp văn, đủ biết là lương giáo
còn cao, sau nầy luật sư không ai dạy học thêm.
Thầy Nguyễn Phố, nhà văn Hư Chu dạy
học còn hơi hướng nhà nho.
Lớp có ban đại diện, trưởng lớp là
chị Trần khánh Tuyết, ở Châu Đốc
chỉ biết già G. làm mấy năm liền. Chị
Tuyết rất hoạt động, nói tiếng Pháp
rất hay. Lúc đóng kịch Molière, chị đóng vai
chánh, tôi khôn hồn lựa vai phụ ngắn đóng cho
qua.V Tôi chỉ quen chị duy nhứt, chị coi tôi như
em. Sau năm học, mất liên lạc tới năm
2005, tình cờ liên lạc qua email, nghe tin tôi bịnh,
chị tức tốc qua Brisbane thăm tôi đầu
tháng 1/2007, 45 năm, tâm sự chuyện cũ cả
tuần chưa chán. Chính chị dạy tôi chơi
correspondant, bạn thư, tôi quen Kazuko, Annette
Fricker..,viết thư say sưa. Suốt năm, không thu
thập gì, toán lý hoá quá kém. May là tôi mua sách học thêm sinh
ngữ. Ở Châu Đốc lay quay bài chép trên bảng.
Ở SG nhiều thư viện và tiệm sách,
được cuốn nào, tôi học ngấu nghiếng
cuốn đó. Bây giờ nhớ lại thấy mình ngu,
tôi học các bài toán "tủ", vô thi trật tủ thì
chịu chết. Đọc được cuốn Grand
Coeur ( Tâm hồn cao thượng ), Sans famille say sưa, có
khi cảm động ngậm ngùi. Sau khi học thuộc
lòng cuốn Les mots Anglais, tôi ôm tự điển học,
rồi dành trọn buổi học thêm ở Centre Culturel
Fransais gần Sở thú, rồi học thêm chương
trình Anh ở trường Mỹ chung với con cháu dân
ngọai quốc thường.
Năm 1960, lại rớt Trung học thêm hai keo, hết
chuyện nói. Tôi ít về Tri Tôn sống trong địa
ngục gia đình có đứa con thi rớt, hàng đêm
nghe chửi, rớt thì học cours luyện thi. May mà
gặp trường tư thục Hàn Thuyên có Đệ
nhị ban C, ban C khó đậu, học sinh quá ít, mở
lớp không có lời, sau năm đó trường
dẹp ban C, hú viá. Giáo sư dạy cho có, giảng lang
bang. Ông Nguyễn D D, có tiếng là nhà văn, không tốt
nghiệp Đại học nào, vào ngâm thơ Hàn mặc
Tử, dạy không hết chương trình. Giáo sư
Sử Địa cũng tà tà, không biết chương
trình theo, miễn học sinh vui, không phá phách là
được. Giáo sư Pháp văn thì cà kê chuyện cá
nhân mình. Mỗi năm thi hai kỳ cho có, lúc vào thi
thật thì phú thác cho trời. Giám khảo chấm thì hà
tiện điểm, vào oral thì được dịp
mắng thí sinh để tỏ uy quyền. Chỉ có ban
A, B, trúng toán lý hoá là xong. Năm đó cả lớp tôi
đậu Tú Tài đúng ba đứa. Thời đó,
miễn còn đi học là còn hoãn dịch. Tránh
được toán lý hoá là yên thân, tôi không trông cậy giáo
sư trường, chỉ chuyên lo học thêm, tới
đâu hay tới đó. Những bài toán lý hoá không còn ám
ảnh. Ban C thi chỉ có bốn môn viết, Việt, Anh,
Pháp, Sử Địa.Tôi tìm an vui trong những lá thư
ngoại quốc, ước mơ lãng mạn.
Năm 1961, xách gói lo thi thêm kỳ thi Trung học đã
bỏ oral, hy vọng tìm được niềm vui,
bớt áp lực gia đình chòm xóm. Năm thứ ba, nghĩa
là lần thứ năm lại rớt. Tôi không về quê,
viện lý do thi Tú Tài. Lại chuẩn bị hồ sơ thi
Trung học kỳ hai, lần thứ sáu, hết
đường vô Quốc gia Sư phạm, thất
thần như chết chưa chôn, mặt ngơ ngơ
ngáo ngáo. Đang ngồi ăn cơm, ông già tôi ở quê
lên, hầm hầm, trước mặt mọi
người, " Mặt gà mở cửa mả, sao không nhào
vô xe lửa chết đi ". Nghe chửi đã quen, mà tôi
có biết xe lửa chạy đường nào mà tự
tử. Ổng nói với bà già tôi, " Tao xài nó trước
mặt thằng H. con H. cho nó nhục. " Tôi chịu
nhục đã quen suốt ba năm, vết thương
bây giờ còn hằng trong đầu, không cách gì xoá
được. Về An Giang nộp đơn xong
trở lên SG thì có kết quả Tú Tài, vậy là không
cần bằng Trung học, tôi cũng có về thi cho
vừa lòng nhà, tôi không theo dõi kết qủa vì biết
chắc là rớt.
Năm đó, cả SG chỉ có bốn trường có
Đệ Nhứt C, Gia Long, Petrus Ký, Chu văn An, Trưng
Vương. Trường tư không đủ học
sinh, may là Hồ ngọc Cẩn Gia Định có ban C,
dành cho dân lục tỉnh lên, hình như năm sau lại
dẹp. Lớp không có nữ sinh, 2/3 học sinh gốc
Bắc. Thi viết có ba môn, Triết, Anh, Pháp, oral cũng
có môn Triết Anh Pháp, ba môn nầy đủ dập toán
lý hoá vạn vật. Năm nầy vui vì không bị áp
lực toán lý hoá, ít thấy đứa nào lo lắng thi
cử, thế nào cũng đậu. Thầy Huỳnh
Hoà, giáo sư Pháp văn lớp tôi lại là Chánh chủ
khảo của Trung tâm duy nhứt ở trường Gia
Long. Bọn tôi hầu hết vào Văn khoa, Sư
phạm và Hành chánh, một số du học. Hơn
nửa lớp ở Mỹ. Vài bản nhạc thịnh
hành," Tiếng hát Mường luông, Kiếp nghèo, Em ơi
nếu mộng không thành thì sao.."
Thời thế bắt đầu thay đổi,
cuộc sống vội vả hơn, xe gắn máy
nhiều hơn, bắt đầu thành nhu cầu. Xe bus
bị dẹp. Xe gắn máy khan hiếm, command lâu,
phải quen biết. Giá xe tăng khá nhiều. Không khí
chánh trị ngột ngạt, rất sợ mật
vụ. Anh em chỉ chơi với bạn học cũ
từ Trung học lên, thấy người lạ là lã vã
nói chuyện khác. Nữ sinh viên rất ít, hình như héo
hắt, vài đứa chương trình Pháp còn khá
tươi tắn. Sinh viên gốc Bắc nhiều
hơn. Tôi gặp lại thầy học Hồ ngọc
Cẩn ghi danh học chung. Đi đâu cũng nghe than
phiền bà Ngô đình Nhu, con bà là Lệ Thủy không
hiểu sao ghi danh học Văn khoa, mật vụ vào
giử an ninh và chổ ngồi cho cô. Trường cách
dinh Gia Long con đường, dinh được rào
kẻm gai . Tôi ghi danh học Dự bị Anh, khi lên
chứng chỉ, tôi đổi qua Việt Hán dễ
đậu và dễ học vì tôi gốc Hoa.
Rạp hát Đại Nam có máy lạnh đầu tiên,
rồi dần dần nhiều rạp hát quanh khu quận
Nhứt có máy lạnh. Công chức hay vào xem buổi
trưa tránh nóng. Đây là một hiện tượng,
lần đầu ngồi phòng lạnh sướng
lắm. Thông thường, chỉ có quạt máy, nóng
bức, khán giả đã quen chịu nóng. Nhiều
rạp bình dân, chiếu hai phim, permanent, xem đi xem
lại suốt ngày cũng được. Phim nói
tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ, dù là phim
Cowboy. Rạp Long Phụng chiếu phim Ấn Độ
thường xuyên, nhiều khán giả ghiền nhạc
Ấn Độ du dương. Phim VN biến đâu
hết. Lúc còn ở Châu Đốc, có một loạt phim
VN, Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nuơng, Quan Âm
Thị Kính, Ngưu Lang Chức Nữ. Hồi đó Kim
Cương, Thẩm Thúy Hằng còn trẻ đẹp
lắm. Trước khi bắt đầu, khán giả
phải đứng lên chào cờ, sau đó là bài " Suy tôn
Ngô Tổng thống " ( sau tháng 11/1963 thì không còn bài suy tôn.
) Chợ Lớn thì tuồng Tàu, hát tiếng Quảng tôi
không nghe được
Đại nhạc hội càng phổ thông, Trần
văn Trạch, Tùng Lâm, Vân Hùng, Thanh Thuý,Tuý
Phượng..,thấy quảng cáo ở rạp Thanh Bình.
Đài phát thanh, chưa có TV, ban Thăng Long và ban kịch
Dân Nam phổ thông nhứt. Khán giả đông, cải
lương thịnh hành, dù là gánh Kim Chung, Bắc di
cư. Thời cuả Thanh Nga, Thành Được, Út trà
Ôn.
SG thanh bình khá lâu, từ 1954, ngưng chiến. Tháng 11/61,
nghe tin đão chánh, dân chúng sợ, ùn ùn mua gạo, than,
nước mắm, dầu lửa dự trử.
Tiệm mấy cậu tôi ở đường Triệu
Đà và Lê văn Duyệt bán lên giá, hễ có tin gì bất
an, dân SG mua thực phẩm. Than củi có thời khan
hiếm, chưa xài điện, nhà nghèo xài củi. Than
đước Cà mau, than sầm, than tạp. Tôi nhớ
có chở bán tạ than cho nhà người Pháp ở villa
sang trọng đường Hồ xuân Hương.
Mỗi lần có tin đồn về biến cố nào
đó, tiệm than gạo bán không kịp. Tủ lạnh
chưa phổ thông. Sau đó, có hai chiếc phi cơ ném
bom dinh Độc Lập, than gạo lại lên giá.
Cố vấn Mỹ khá nhiều ở SG, năm 1961
đã vô Tri Tôn cất đồn Châu Lăng, khuynh
hướng học tiếng Anh phát triển mau, Hội
Việt Mỹ rất đông học viên. Các cơ quan
Mỹ tuyển mộ nhân viên, thấy người
bạn học mặc đầm phấn son, đứng
trong đám đông chờ trước cơ sở
Mỹ, tôi thấy bất ổn, lo lo.
Chắc người già còn nhớ và than phiền bộ
luật Gia đình của bà Nhu, cấm ly dị. Dân
biểu Trần tấn Phát Châu Đốc hay ghé nhà
chơi, hơi túng, phải nuôi hai vợ, hỏi sao không
nghe ông tuyên bố gì, ông thú nhận, "Trời ơi, nó bôi
tên tôi rồi sao ?" Mỗi lần lễ lớn, SG tràn
ngập bộ đồng phục xanh dương
của Thanh niên Cộng Hoà của ông Nhu và Thanh nữ
Cộng Hoà cuả bà Nhu.
Bắt đầu kiểm tra trưng binh, ngoài thẻ
căn cước, thanh niên phải có thêm giấy "Tình
trạng hợp lệ quân dịch và thẻ cử tri
đi bầu. Xin giấy chứng chỉ nầy không
phải dễ, chầu chực ở bến Chuơng
Dương, sắp hàng dài, nộp hồ sơ,
đủ thứ giấy tờ, giấy về trể,
đi đường dễ bị Cảnh sát hốt vì
giấy cũ hết hạn,. Ngày nay, người ta không
cảm được cái sợ sệt về giấy
tờ. Trước 1/11/63, đão chánh ông Diệm, nghe
lịnh " Giới nghiêm trên toàn lãnh thổ VN ", nghe rợn
người, đi đâu cũng như mật vụ
theo dõi, bọn tôi ít liên lạc nhau, sợ sợ. Ngày nay
chúng ta quên cảm giác đó trong xã hội thanh bình là
điều phước.
Nhớ năm còn ở New Zealand, tối thứ bảy
hay có party ở Đại học, bọn nó chơi
tới sáng. Độ gần 11 giờ đêm, bọn tôi
bồn chồn muốn về, dù biết không có giới
nghiêm. Trong những năm Philippine khủng hoảng
Tổng thống Marcos, ra đường giờ giới
nghiêm chết như chơi. Nhóm ca sĩ Phi đến
Chrischurch NZ tham dự trình diễn South Pacific Contest.
Mấy anh ca sĩ Phi lần đầu xuất
ngọai, đứng thập thò trước cửa
hotel, nôn nóng thèm đi chơi cho biết Chrischurch về
đêm. Họ chờ cảnh sát hỏi, " Mấy giờ
chúng tôi phải về hotel ?", lập đi lập
lại nhiều lần mà mấy anh Cảnh sát NZ không
hiểu ý câu hỏi." Việc gì ông hỏi tôi ?" Ông
trưởng đoàn Phi phải mất thì giờ
giảng nghiã chữ " curfew ", cho ví dụ ở Phi,
nếu đi quá giờ giới nghiêm thì bị bắn.
Anh Cảnh sát NZ cười xòa, chữ curfew nó chỉ là
ngôn ngữ thời Trung cổ, quả là anh ta quên từ
ngữ nầy, " Cám ơn ông dạy tôi chữ curfew,
ở NZ không có giới nghiêm, ông đi về giờ nào
mặc ông." Người Phi dạy Anh ngữ cho
người Anh, kể thật lý thú.
Sau cuộc đão chánh 11/63, không khí nhẹ thở hơn.
Sinh viên hoạt động rầm rộ, hội
thảo, biểu tình chống trung lập của De Gaule
Pháp, rồi Nguyễn Khánh đão chánh, than, gạo lên giá,
lên thì khó xuống.Tổng hội Sinh viên được
bầu lên, các lãnh tụ hầu hết gốc Bắc và
Trung. Tôi cũng chạy theo đuôi cho vui, thường
họat động ở các Cô nhi viện, tránh chánh
trị.
Mỹ đổ quân vào, nhân viên cơ sở Mỹ
nhiều quyền lợi hơn, quân nhân Mỹ đi
đầy đường, xích lô đạp, xích lô máy,
taxi làm ăn lên, không rước khách VN, báo chí lên
tiếng nhưng không thay đổi gì được.
Hệ thống xe bus đã dẹp, phương tiện
di chuyển là xe gắn máy, các tiệm buôn xe giấu hàng
để bán chợ đen. Xe Mobilette xanh đã có từ
1961. Vật giá bắt đầu leo thang dần dần,
công chức hạng thấp bắt đầu thấy
khó khăn.
Khoảng năm 1965, đợt Honda dame 50cc đầu
tiên nhập cảng cho quân nhân, xe rất đẹp so
với xe Pháp.Tin đồn là hàng Nhựt không bền,
sẽ bán kí lô như thời thế chiến, giá xe Honda
xuống giá thê thảm vài tháng đầu, ai bán
được thì bán, bán không được thì
để xài tạm, xe vẫn chưa có vấn
đề .Chừng năm sau, Honda đàn ông và Suzuki,
Yamaha, thêm radio cassette ào ạt chiếm thị
trường VN, thay thế hoàn toàn hàng hoá và lối suy
nghĩ thời thuôc địa, nghiã là hàng Pháp chưa
hẵn tốt nhứt thế giới. Lúc thi vào Đệ Thất, rất ít học sinh chọn Pháp văm làm sinh ngữ một, cứ 4
lớp Anh văn mới có một lớp Pháp văn. Ngày
nay, Pháp văn không còn trong chương trình Trung học,
thời đã qua, thế hệ trường Tây thuộc
địa đã già, ở các trường Đại
học, uy thế nằm trong tay mấy ông cố vấn
Mỹ.
Sau năm 1963, văn học nghệ thuật còn trong vòng
ảnh hưởng bắc, tuy những bài hát nhớ
đất Bắc không còn nghe hát thường xuyên trên
đài SG như trước, khuynh hướng nhạc
chuyển sang tình yêu, rồi nhạc mới của lính.
Sinh viên gốc Bắc bị Nam hóa dần, nói giọng
Bắc lai Nam, số sinh viên Nam tăng dần, hiểu và
thân nhau hơn. Cuốn " Hương rừng Cà mau " làm
sinh khí văn chương miền Nam bừng dậy, tác
phẩm nầy được đón nhận nồng
nhiệt, Sơn Nam nổi tiếng từ
đó.Trước đó có nhà văn Bình nguyên Lộc,
nhưng còn chìm ít ai biết. Các nhà văn gốc bắc
thường viết quanh đề tài SG.
" Honda ôm " xuất hiện năm nào ?, chắc phải sau
khi nhập cảng đợt xe Nhựt, khoảng
năm 1967. Dân công chức lương thấp nghĩ cách
kiếm sống, dùng xe mình đưa khách kiếm thêm.
Hình như giới xe ôm cũng có luật riêng giúp
đở lẫn nhau khi có trường hợp bị
khách giựt xe. Khi đưa khách trả tiền
đến vùng đáng sợ, anh xe ôm đưa tay ra
một hai dấu hiệu gì đó cho đồng
nghiệp, một hay hai người sẽ chạy theo
kín đáo bảo vệ nhau, tiền chia chát sau đó .
Lần đầu tiên, nhóm xe Taxi, xích lô máy, xích lô
đạp xô xát với nhóm xe ôm vì quyền lợi. Lúc
đó tương đối còn sống được,
sau nầy đời sống chật vật, cả
đến quân nhân, cảnh sát ngạch thấp công an chìm
cũng chạy xe ôm. Rỏ ràng là chỉ có xe Nhựt, yên
liền rộng, thấp, vừa tầm người Á
Châu, chổ gác chân thoải mái mới sử dụng
được trong việc kiếm ăn nầy. Xe
Nhựt lại hết sức bền bỉ, ít hao
xăng chạy suốt từ SG ra Vũng Tàu không nằm
đường. Xe Pháp như Mobilette, Sach, Puch chạy
không nỗi, yên xe nhỏ, chông chênh. Năm 1970, chiếc
Honda cũ chừng $70 000. Tôi mua chiếc xe Puch $25 000.,
thay đồ lô, gảy căm, nổ vỏ, đứt
thắng, đứt dây số đều đều.
Chủ là ông Đặng đình Đáng đầu cơ
sai, giấu cả kho xe chờ lên giá bán cắt cổ.
Trước đó chiếc xe Puch ba đèn trên $50 000,
chưa dễ mua được. Ông sập tiệm,
để họa cho ai mua xe ông. Tôi chỉ chạy đi
học, chạy thêm năm đi làm, chiếc xe lết
như rùa, sửa rồi cũng vậy. Ở Thái Lan
cũng có xe hai bánh chở khách, không biết nước
nào có trước.
Khi quân đội Mỹ đổ vào VN, bar mọc lên
theo nhu cầu chung quanh khu Mỹ đóng. Dân liên hệ
đến Mỹ kiếm tiền dễ dàng nên họ xài
rộng rãi, hàng hoá Mỹ mua đi bán lại, đổi
dollars, rác Mỹ cũng phải thầu..Luơng công
chức VN không theo kịp thời giá, lóp ngóp. Họ nuôi
gà trong nhà lấy trứng bán, tạm ổn ngắn
hạn.
Khoảng năm 1969, có phong trào nuôi chim cúc rầm rộ
khắp SG. Cơn sốt chim cúc lạ lùng, giá lên hàng ngày,
tin đồn lang ra. Trước đó, trong báo
Hương Quê, báo Nông nghiệp viết về cái lợi
nuôi cúc, chất dinh dưỡng của trứng
cúc...Chủ cái ở đâu không biết, tung chim cúc ra bán,
rồi cho người đi mua với giá cao hơn,
lại cho người khác mang ra bán với giá cao hơn
nữa, cứ thế tiếp tục. Khi giá hết lên,
cặp cúc dám lên $16 000, ( hơn 2 tháng lương giáo
sư Đệ nhị cấp ) họ bán ra hết và
không mua lại. Người nuôi cúc chờ kẻ mua ngày
nầy qua ngày nọ, bầy cúc vô dụng, sạt
nghiệp, có người biết ngưng đúng lúc thì có
lời. Lúc đó, công chức bị mắc lừa
nhiều nhứt. Tôi tự hỏi, gia đình công
chức muốn ăn con gà $700 còn ngại ngùng, mâm cơm
công chức đông con, cơm và rau muống làm chuẩn,
chim cúc dù bổ như sâm cũng không mắc tới
vậy. Mấy ông Kinh tế gia, Tiến sĩ báo chí
đâu đâu không đặt vấn đề, lên
tiếng giải thích đúng lúc cho bà con nghèo nhờ.
Mấy ông có chia chát vụ nầy không?
Khi Việt Nam hoá chiến tranh, quân đội và nhân viên
Mỹ rút đi, giới bán bar quen xài hào phóng bị
thất nghiệp ngang, việc làm không dễ tìm, họ
xoay sang nghề beer ôm, họ uống và dụ cho khách
uống càng nhiều càng tốt, ăn tiền huê
hồng chủ, nghề không cần vốn, chủ
cũng khỏi trả tiền mướn các cô,
độc lập. Tôi chưa được
thưởng thức thú beer ôm, không phải tôi tốt, vì
chưa tới
giờ. Thời đi học, lo quân dịch, đi làm ,
lo kiếm tiền và học bỗng. Thường
đêm, sau giờ dạy kèm hay học thêm, tôi chỉ ghé
khu Ngả Bảy Phan thanh Giản ăn tối. Đêm
nào cũng như đêm nào, tô phở xe đẩy, khúc
bánh mì fromage và ly sinh tố. Cô bán sinh tố, da trắng,
đoan trang, chưa bao giờ thấy cô đùa cợt.
Nét mặt vui nhưng không lơi lã, đóa hoa huệ cao
sang sao xuất hiện nơi tầm thường
vất vả nầy?. Hai người đã quen mặt
nhau, xa thấy nhớ. Đêm mưa tầm tã, cô
đậy xe sinh tố, ngồi trên ghế, dựa hiên
trường Phan sào Nam, hai đứa nhìn mưa. Hai tâm
sự khác nhau. Tôi vừa ở Goethe Institut ra, lão Dr Hol
lười như quỷ. Lão dạy chưa giảng
hết bài thơ Heidenroeslein ( hoa hồng trong đầm
lầy ), thì có điện thoại, lão biến mất
luôn cả buổi học. Tôi nao lòng nhớ mấy câu
thơ, Sah ein knabe ein Roeslein steln, Roeslein aưf der Heiden .
War so jung und morgenschoen,..Anh là thằng bé thấy hoa
hồng nhỏ trong đầm lầy, tươi
đẹp như buổi sáng , Em là đoá hoa hồng
nhỏ. Tình yêu là đoá hoa hồng nhỏ có gai trên
đầm lầy, thằng bé say tình bị gai hồng
đâm. Mưa vẫn rai rức, không ai rời nhau
được, mong cho mưa suốt đêm. Sáng đó
tôi nhận giấy nhập ngũ. Chợt em nhìn tôi
ngập ngừng , " hôm nay chạy khá không anh ?".,tôi
giống anh Honda ôm, vậy là qúy hơn.
Cả năm sau, mặc quân phục về thăm,
mắt em sáng lên, bất giác đỏ mặt, " Anh
bỏ...đi lâu quá vậy?. Quên xay cho anh ly sinh tố ,
có nhớ anh thích mùi gì không, Tuyết?
Cùng lúc, chiến tranh khốc liệt sau Mậu thân,
nhạc Trịnh công Sơn đáp đúng nhu cầu chán
chiến tranh, quán cà phê mọc lên. Chỉ cần dàn âm
thanh, căn phòng trong hẽm cũng không sao. Thanh niên vào
ngồi quán nghe nhạc uống cà phê quên đời, cho
đời quên họ.
Brisbane, ngày 15/1/2007