Lời Phân Trần.
Lưu Nhơn Nghĩa
Kính gởi anh Lương thư Trung, anh Vũ Thất,
anh Phạm vĩnh Đông, anh Hoài Ziang Duy, anh Lương
văn Chung và bà con Châu Đốc.
Tôi vừa được xổ lồng vài ngày, mang
thuốc về tự uống tự chích, mỗi ngày vô
trình diện Bịnh viện một lần cho họ hành
hạ, từ sáng tới trưa hay chiều, rồi
nhờ thân nhân rước về, ký giấy là không
được lái xe trong vòng 12 tiếng, ký thì ký, tối
nào tôi cũng chuồn đi uống cà phê, ngồi lê
đôi mách, tới đâu thì tới, cứ thử máu, vô
máu hàng ngày, khi lên khi xuống, rồi thử
tuỷ...Mỗi lần tiêm thuốc ở Bịnh
viện, tôi xin y tá cho tôi nằm, vừa đọc sách
của anh Hai Trầu vài trang, được sống
lại quê mình, cho đở sợ, đọc tới
sách anh rớt ra từng tờ mà chưa hết sợ.
Bây giờ, tôi phải tự chích lấy, tự lấy
bông lau sạch, tự rút kim, tự nhìn mình chích mình, tôi
phải mở nhạc om xòm, vừa hút gió theo, lo ngại
lâu lắm, chích xong, nghĩ tới ngày hôm sau, càng lo.
Về nhà đọc bài, thấy bà con chúc lành, tôi thấy
xấu hổ, có thân mà không giử được thân.
Cái mạng tôi quái gở, không giống ai. Khi chửa
chemo, ai cũng bị phản ứng, ói mữa, khô
miệng, đủ phản ứng, họ la hét, khạc
nhổ, khó thở, y tá chạy không kịp. Nhưng sau
đó họ bình thường trở lại chờ giai
đoạn hai. Tôi không gặp phản ứng gì cả,
ngồi uống cà phê viết nhảm qua thời giờ,
ngược lại nó hết biết cách chửa
bịnh tôi.
Về đọc web thấy bà con thổi tôi lên quá,
ở trong chăn mới biết chăn có rận,
nếu ở gần tôi, bà con sẽ chán tôi hơn cả
gia đình tôi. Đặc biệt anh Hai Trầu, anh
thổi tôi lên, rồi tôi tưởng thiệt là chết
tôi. Bạn bè tôi ở Mỹ rất đông, bọn nó
biết tẩy tôi chỉ là cái thùng rổng kêu to. Anh khen
tôi lào thông đủ thứ tiếng, anh chưa thấy
tôi ngồi tra tự điển cả tuần khi
đọc chữ Hán, có khi chạy đi tìm hỏi dâu
gốc Đài Loan. Cùng cấp bằng, nhưng dân Chợ
lớn nó là bậc thầy tôi. Nhớ năm học
Hồ ngọc Cẩn Gia Định, chung lớp với
mấy tên gốc trường Pháp, trình độ cao
hơn tôi gấp bội. Tiếng Pháp tôi là loại
tiếng Pháp thuộc địa, trước năm 1958,
bây giờ ở Pháp, nói lãm nhãm thì được, 50
năm Pháp ngữ đã thay đổi. Tiếng
Đức học xưa, chỉ quanh quẩn sách vở,
nhờ ở Đức biết thêm, ở đâu quen
đó. Có lần ngồi trong quán rượu ga xe lửa
năm 1981, điếc không sợ súng, rượu vào, tôi
nổi cơn, nổ ầm ỉ về bản chất
dân Do Thái, chợt nghe tiếng vổ tay bàn bên cạnh,
bọn nó đồng ý, đứng dậy bắt tay,
khen tôi " văn hoá sâu sắc ", thì cứ chê Do Thái là "
văn hóa sâu sắc ", bọn Đức đâu có ưa
Do Thái, nhưng hởi ơi, lúc trể xe, mua vé về
nhà, nó dặn trạm đổi xe lửa và xe bus, nói
cả buổi mà tôi không hiểu, tôi làu thông ở chổ
nào ?.Còn tiếng Tiều, anh cứ tưởng
tượng, cháu anh nói tiếng Việt ra sao, tiếng
Tiều tôi như vậy. Gặp dân Tiều ở Trung
quốc, nó nói nó nghe, tôi nói tôi nghe, nhìn gương mặt
hoa với đôi môi hồng đủ rồi, cần gì
hiểu, hiểu là hiểu bằng tiếng nói huê tình.
Tiếng Miên tôi thuộc loại Kmer Krom, Miên ngoại
quốc, lai tiếng Việt, mà ở quê tôi ai cũng
biết tiếng Miên, gặp Miên văn hoa Nam Vang thì
lảnh đạn. Nhìn mấy cô ca sĩ Miên qua Úc,(
đẹp hơn cô hoa khôi Batambang ngày nào ), hai tay dâng
tiền cho nó mà biết nói gì đâu, đủ tiếng
Miên dâng tiền cho hai cánh tay muá Lam Thol. Tiếng Nhựt
tôi là loại tiếng Nhụt bỏ túi, chỉ
đủ khả năng hỏi đường, mua hàng,
chưa chắc tới gần mấy cô geisha
được.
Mấy ngày nay, bực bội vì không đi làm
được, tiếc hùi hụi. Đêm đêm,
khỏe thì chạy ra quán cà phê ngồi, mệt thì nằm
nhớ chuyện xưa, nhức đầu thì ôm gối
ngủ, sống ngày nào biết ngày đó.
Thăm bà con vui mạnh, còn viết còn đọc thư
nhau là vui rồi, tôi không dám đòi hỏi gì thêm.
Thân.
Nghĩa