Những ngả đường tương lai
Lưu Nhơn Nghiã
Lớp Đệ Tứ C năm 1958, tôi còn nhớ đếm được
chừng 54 đứa . Sau 1958, chia tay nhau, có đứa tiếp tục học thêm vài năm ở trường,
một số lên Sài Gòn học tiếp. Học sinh thời đó trưỏng thành, nề nếp, chưa lêu lỏng.
Thời thanh bình, đời sống rất dễ dàng cho công chức, nhứt là giáo chức.
Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn còn hơi
hướng “ École Normale “ thời Tây, lương cao, chưa lạm phát. Sau 1959, Bộ giáo dục mở thêm vài trường Sư
Phạm lục tỉnh, trong đó trường QGSP An Giang, khoá một năm, để thoả mãn nhu cầu
sự gia tăng sĩ số học sinh ở các quận sau chiến tranh. Muốn thi vào thí sinh phải có bằng Trung học
Đệ Nhứt cấp (Lớp 9 ngày nay). Thời đó số
thí sinh đậu THĐNC chưa nhiều, thi tuyển vào QGSP tỉnh tương đối dễ. Ước mơ của
giới con cháu dân trung lưu, (chưa dám mơ tới Cao Đẳng Sư Phạm SG,hay chưa nghe
tới.). Ra trường ngạch giáo viên Tiểu học,
lương tháng 4200 đồng VN, chiếc xe mobylette cũng giá đó, tô hủ tíu 5 đồng, cơm
tháng chừng 400 đồng, thức ăn ngon, xách tới nhà, dạy một buổi, nghỉ thì ra đứng
bàn bi da. Mấy thầy giáo ngạch cũ thời Tây gốc trợ giáo còn sót lại, lương thấp,
nhìn mấy ông giáo trẻ “Sư Phạm thèm thuồng. Ông già tôi cũng bị ảnh hưỡng “Sư
phạm”, cứ nghiếng răng nghe nhức xương.” Phải nó vô Sư phạm…” Phải đậu vô Sư phạm, cưới cô gì đó, mở tiệm
buôn bán là yên mồ yên mả rồi. Số tôi long đong, mỗi lần thi rớt về, phải ghé mấy
thầy Sư Phạm để được hân hạnh làm bạn với mấy ổng, theo lịnh ông già, không đậu
THĐNC lấy gì thi vô SP?.
Nói dông nói dài, lớp Đệ Tứ C tôi, đếm được
ít nhứt 15 đứa vào QGSP, toàn những đứa giỏi, nhìn chung bọn nó rất nề nếp, có
tư cách thời còn đi học, sau ra đời sống đạo đức, chửng chạc, gia đình yên ấm,
con cái nên người. Bây giờ tất cả đều có
cháu nội ngoại. Tôi không thuộc type như bọn nó, lúc còn học chung, ít giao thiệp
riêng với nhóm nầy, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, dân học giỏi thường chơi chung
nhau.
Đếm được chừng hơn 15 đứa chọn nghề giáo,
hầu hết từ QGSP (Trương thành Thật, Diệp thành Tâm (mất), Dương quang Thạo,Phùng
thành Cưu, Nguyễn văn Nghiã, Nguyễn phước Hồng, Ôn văn Hiễn… vài đứa không có bằng,
dạy xã ấp.) Nhóm nầy sống thọ, chỉ chết bịnh chớ không chết vì chiến tranh, sống
thoải mái đến năm 1965. Sau đó, chiến tranh, lạm phát, vật giá leo thang, nghề
giáo xuống dốc, không quyền hành, khó tham nhũng. Lương văn Mối, đang dạy Tiểu
học, bị động viên, lên Đại uý an ninh quân đội, không thèm xin biệt phái, nên
đi học tập khẳm. Nhiều người sau nầy vào quân đội, vì chỉ có THĐNC(đã dẹp ), phải
đi Trung sĩ.
Nhóm thứ hai, thường học kém nhưng gan
góc, hoặc theo thời vận đẩy đưa, nhiều đứa không đậu THĐNC, tình nguyện vào
khoá sĩ quanThủ Đức. Năm 1961, dù không có bằng THĐNC, nếu có chứng chỉ Đệ Nhị,
cũng có thể thi vào Võ bị Đà Lạt, dĩ nhiên đủ khả năng đậu là chuyện khác.
Lương sĩ quan lúc đó còn thấp, nhưng chiến tranh chưa bộc phát như sau nầy. Giới
quân nhân dần dần được ưu thế, sau 7 năm, tối thiểu cũng Đại uý. Lớp tôi hầu hết
là Đại uý, vài đứa Thiếu tá. Tại quận Đức Thành Sa Đéc, Trung tá Nguyễn thành
Nghiã là Quận trưởng, Trương thành Thật là giáo viên, lúc còn đi học, Thật giỏi
hơn Nghiã nhiều. Thật than, “suốt đời giáo lá”, Nghiã thì,” ĐM tao lên tướng nữa
chớ “ Nghiã đi học tập về, nghe nói đã chết. Thật còn lê lết thân già. Trang ngọc
Thinh, học khá thôi, trung tá Biệt Đông quân, ngồi xe cho Mẫn ( Đại úy, học
xoàng ) chở đi nhậu, bị tai nạn xe chết lãng nhách. Nhờ vào quân đội sớm, cấp bực
cao, ít chết, chứ đứa nào đi sau, ra Chuẩn uý, Trung đội trưởng, ra chừng vài
tháng có cơ lên bàn thờ ngồi .
Nhóm thứ ba, tạp nhạp, thượng vàng hạ cám.
Khá nhứt là Ngô vĩnh Đạt, kỹ sư Nông Lâm Súc, làm ở Đà Lạt xứ rừng, cọp về rừng,
Nhiên làm nghề MC (?)ở CĐ, Đặng đi lơ xe đò, Lê ngọc Đàn (nhân viên thuế vụ đã
mất)
Lớp Đệ Tứ C năm 1958 tôi may mắn, chết trận
có mấy đứa ( Vân, Liêm ). Ngày nay, nhiều đứa có cơ hội đi HO sống khá hơn. Đám
giáo lá, giờ nầy đã về hưu, nghèo sặt gạch ở VN. Nhưng dù ở đâu cũng lở thời lở
vận lên rừng đốt than, vì tuổi gìà.
Còn gì để nhớ, 48 năm rồi.