Ông Từ Me.
Lưu Nhơn Nghĩa
Chùa ông Bổn tọa lạc ngay tại góc ngả ba đường, phía Bắc đi Châu Đốc,
phía Đông đi Long Xuyên, phía Nam đi Ô Lâm, mặt chùa hướng về phía Đông.
Chùa cất cả trăm năm, từ khi dân Tàu đến lập nghiệp, nghĩa là từ tiền
bán thế kỹ 20. Giống như căn nhà xưa của người giàu có, quyền thế như mấy ông Hội
Đồng, Cai Tổng. Vách chùa xây bằng đá núi, bề dầy hơn gang tay, đạn bắn không lủng,
mái ngói âm dương, cột kèo bằng cây sao.Trên nóc có rồng nằm che chở. Diện tích
trong chùa rất nhỏ. Trước mặt chùa là khoảng đất trống khá rộng, đủ chỗ cho các
kỳ lễ lớn, rằm tháng Bảy, thí vàng.
Trước chùa có hàng ba mát mẽ, bên trong có bàn thờ lư hương, đồ tự khí
nhỏ. Trên bàn thờ bày đồ cúng, sau bàn là trang thờ ông Bổn. Ông Bổn ngồi, mặt
hao hao giống ông Địa. Ông Bổn mặc áo đỏ, khăn đỏ, cao độ hai tấc, cốt ông làm
bằng cây
Ông Bổn ngồi một mình, phù hộ dân Tàu làm ăn khá, bình an, có tiền về
Tàu thăm hương lý. Bên tường có cái trống chầu lớn đặt trên giá, bên kia treo
cái chuông. Trên tường dán danh sách người cúng tiền, hình mấy vị tiên trong
chuyện Phong thần, Phong kiếm xuân thu, như Na Tra , Lý Tịnh, Dương Tiển...,phía
sau thờ hình ông hổ vẽ trên tường, bằng con mèo, cọp ông nuôi, ông hổ cũng có
lư nhang , lâu lâu có miếng thịt luộc.
Hàng ba trước chùa khá rộng, lót gạch Tàu, đủ cho đoàn Lân tập duợt múa
Tết. Bên trái chùa là chái ông từ Me ở, chái lợp ngói, một bên là chùa ông, một
bên là dinh thự ông Hội Đồng Mao, chái ông rất an toàn thời chiến tranh nhờ tường
dầy hai bên. Một đêm năm 1945, Việt Minh đánh quận, ông mở cửa chùa cho dân xóm
nhà lá vô tránh đạn. Họ ngồi đầy trong chùa không sao, có vài người nhác, chạy
ra bị lạc đạn chết. Ông từ Me nói, “họ ngồi đầy trong chùa, có sao đâu, tại
không tin ông nên chết oan “
Ông từ Me làm từ lâu rồi, vợ ông mất sớm, con ở riêng, ông tự lo cơm nước,
nhang khói chùa.. Năm đó, ông đã khá già, đầu run run, nhai trầu liên tục, nói
chuyện hơi cà lăm. Ông rất khéo tay, làm việc vụng vặt kiếm thêm tiền khi rãnh
rổi, Dân chợ tổ chức ban trị sự rất chặt chẽ, tiền tháng nào ra tháng đó,
rất sòng phẳng, cộng thêm tiền lì xì vào dịp lễ lớn.
Ông từ đình thần Tri Tôn không có tiền vô tiền ra, không được cung cấp
chổ ở, hay bị trể và thiếu. Mùa lạnh năm 1949, ông từ đình thần, nằm chết lạnh
bên hông đình, chỗ để mấy cái hòm người ta gởi. Buổi sáng, học trò vô trường
đình, thấy ông nằm chết, đầu kê trên khúc cây, áo quần mỏng te, ông hả miệng
răng sún, người xanh tái, gió núi làm xác ông càng xanh cứng. Dân Việt nghèo,
chỉ cúng kiến đủ lễ là quí rồi. Đình mỗi năm chỉ tổ chức lễ Kỳ Yên, tống gió,
thường không có hát bội xây chầu, tài chánh giới hạn. Dân ngoài kinh theo đạo
Phật giáo Hoà hão, Cao đài, ít đóng góp.
Ông từ Me tuổi chừng 50, trưa trưa ông ngồi đươn thúng hay đươn giỏ, người
quanh đây ghé ngồi góp chuyện. Ông vui tánh, hay kể chuyện tục, mọi người cười,
ông Bổn ngồi trên bệ thờ chắc đã già, lảng tai. Ông từ sống an nhàn. Thào kê rất
thích tánh cẩn thận của ông. Buổi trưa, ông lau bệ thờ. Quét dọn trong ngoài rất
sạch sẽ, rành rẽ thủ tục nghi lễ, cúng ngọ, cúng nước ban đêm. Buổi sáng,
thường có cúng kiến, ông có lộc riêng, ngày rằm mồng một rất đông khách. Hầu
như sáng nào cũng có người xách cái hui ná đựng con vịt luộc, miếng thịt, bánh
trái vô cúng ông Bổn cầu xin hay trả lễ. Trước ngày sổ số Kiến thiết quốc gia
giúp đồng bào ta ...,xiếm Nghén xách miếng thịt cúng xin số, mà đâu phải chỉ
riêng có xiếm Nghén, ai mà không muốn giàu. Trúng nhiều thì cúng trả lễ, trật
thì tuần sau xin nữa, quanh năm suốt tháng, Xiếm Nghén đâu có mất gì, cúng
xong, để lại vài cái bánh bông lan rẻ tiền, xách miếng thịt ba rọi về xào cải,
nếu cúng gà thì mang gà về xé phai, mất mát gì, chỉ có mấy ông chủ tiệm để lại
món tiền cà phê. Khi có khách, ông từ mang dĩa sắp bánh trái, đốt nhang, lên
đèn, rót nước. Khách khấn vái thì ông đánh trống ầm ầm, dọng chuông bon bon.
Chùa nhỏ, lại kín, trống chuông thỉnh ông Bổn nhận lễ nghe sợ và mệt tim lắm.
Ngày Tết, trống chuông liên hồi, lộc vô như nước. Xứ nầy không bẻ lộc, chỉ có
sân cỏ, lộc đâu mà bẻ.
Mỗi năm dịp rằm tháng Bảy, cúng cô hồn vui lắm, địa vị ông từ Me nổi hẳn
lên. Theo lệ, con trai trên 18 tuổi ghi danh chờ làm Thào kê (đầu gia ) và một
người phó. Đúng ra thào kê là chức Thủ quỹ, coi tài chánh, giử sổ chi tiêu, tởi
tiền bổn phố, sắp xếp công việc. Đây là lúc ông từ Me lo làm khung dán giấy tượng
ông Tiêu, mặt dữ dằn, lưởi dài và Phật bà Quan Âm gương mặt hiền hòa, ông có
hoa tay, làm khéo. Sau đó chẻ tre lồ ồ đươn giỏ nhỏ, thưa, để phát cho bà con.
Ông tính toán sao cho vừa đủ số giỏ, mỗi nhà nhận từ 5 đến 10 cái giỏ. Trưóc
ngày lễ , họ để khoai lang, gạo, mía, cắm cờ đuôi nheo vô giỏ mang tới
chùa giao. Ông từ chất lên cao cả mấy thước trước chùa, bổn phố tấp nập cúng kiến.
Trưa nghe ông từ Me đi quanh chợ, đánh miếng kẻn nhắc, "Bổn phố cúng ngọ". Việc
làm ông từ chỉ có vậy, còn việc thí vàng có thào kê lo.
Ông từ Me làm từ cho chùa lâu lắm rồi, tên ông gắn liền với chùa ông.
Ông từng đề nghị xin thay cốt ông, vì cốt ông lâu quá bị mọt Sau khi ông chết,
củ Thiệu, con ông thay thế. Củ Thiệu mập, say rượu nhừ nhừ.
Sau năm 75, người ta lu bu, chuyện cúng cô hồn hơi trì trệ mấy năm. Ông
thần đình Tri Tôn, đúng ra ông là thần đình chợ Cây Me, đình Tri Tôn mượn sắc
thần đình Cây Me thờ. Ông thần đình phải kiêm nhiệm hai ngôi đình. Chánh quyền
Cách mạng nói sắc thần do vua Bảo Đại phong, mà vua Bảo Đại đã bị truất
phế ở bên Tây. Ông thần đình không có lập trường cách mạng nên phải dời đi, ông
mất tờ khai gia đình, ngày nay gọi là hộ khẩu. Ông từ Me vẫn đốt nhang thờ
cúng ông Bổn, như người tôi tớ trung thành với chủ. Chùa dùng làm trụ sở
chữ thập đỏ, mỗi lần đi ngang, ông từ Me còn thấy rõ ràng ông Bổn ngự trong
chùa. Ông Bổn không theo phe nào, mãi chí thú làm ăn, cúng cô hồn, hưởng
lộc thịt heo, thịt vịt, quà bánh no đủ. Nhiều người già đã chết, hiện hồn
về đứng đông nghẹt trong chùa, ông từ Me nghe tiếng chuông trống vang dội, tiếng
cô hồn kêu đói khóc lóc triền miên.
Sau nhiều năm không khí lắng dịu người ta cúng kiến trở lại. Ông từ
Me cả đời sống bên hông chùa lo hương khói và hưởng lộc. Ngày nay ông đã
mãn nguyện được về với ông Bổn hưởng hương khói ấm áp, linh hồn ông lẩn quẩn
đâu đó trong chùa.
Dân bổn phố sinh con đẻ cái quá đông, buôn bán ế ẩm. Khu chợ mất hẳn
vị trí trung tâm thương mại ngày trước. Việc cúng kiến cô hồn tháng bảy
đơn giản, mất không khí nô nức giựt vàng. Ông Bổn ngồi nhàn hạ, uễ oãi
rút xăm cho người xin số đuôi, nhâm nhi chung rượu và miếng thịt luộc trả lễ.
Mới đây, người ta cất ngôi đình mới, địa điểm cách đầu bờ kinh cũ hơn
cây số. Nghe nói ông thần đình đã xin được hộ khẩu. Ông thần đình
và ông Bổn lâu lâu tới thăm nhau, hai ông ưa nhắc chuyện cũ cả trăm năm trước.
Mỗi ông một trách nhiệm. Ông thần đình lo lễ kỳ yên, tống gió, đuổi âm
binh ôn dịch. Chính ông đuổi lũ ôn binh xuống bè thả trôi sông, ông được
hưởng con heo trắng. Dân không còn mời gánh hát bội hát cho ông nghe vở
tuồng Phấn Trang Lầu, San Hậu... Ông Bổn tiếp tục phù hộ cho dân chợ phát
tài được một đời thôi. Hai ông đã già, mệt mỏi. Ông Bổn gắp miếng vịt
luộc mời ông thần,” Anh Đình à, hưởng đi, nói gì nói, dân bổn phố cũng còn đủ lễ,
mình hưởng được cứ hưởng. Mình già rồi con cháu không có biết nhờ cậy
ai. Ông thần đình ực chung rượu, “ Răng cỏ đâu mà ăn thịt vịt. Hia
Bổn à, tôi được bổ nhiệm tới xứ nầy cả trăm năm nay, đã chu toàn thiên lịnh thượng
đế. Năm Mậu Tý, tôi sơ xuất bị bọn ôn dịch đậu mùa mộ binh làm chết cả
trăm người dân. Thượng đế quở phạt, ngôi đình bị giở đi, tôi sống bơ vơ mấy
năm nay, biết chừng nào mới được phong Thượng Đẳng Linh Thần. Bây giờ,
hương khói phưởng phất mà vật thực ít oi, trái cây bom, nho, chuối làm bằng nhựa
trên bàn thờ, ăn làm sao cho vô. Ông Bổn hít khói nhang, “ Thôi anh
Đình à, danh vọng chức tước như giấy tiền vàng bạc đốt thành tro khói.
Năm Dậu, tôi chở che người ngồi trong chùa bình yên. Dân phố bây giờ lạ lắm
anh Đình à. Họ mua vài lượng thịt ba rọi mỡ rẽ tiền đem tới cúng, rồi đòi
xin số trúng cá cặp bạc triệu. Tôi trộm lịnh bề trên, ăn cắp số đuôi cho
họ, họ ăn quen tuần nào cũng xin. Hôm nào gặp môn thần giữ sổ, tôi cho số
trật, họ cho tôi hết linh. Ở đâu quen đó, đi đâu bây giờ anh Đình?
Chỗ nào cũng bon chen. Dân Tàu bớt tin tưởng tôi rồi, tôi chờ hết hạn về
chầu Ngọc Hoàng, mà biết chừng nào hết hạn.” Ông Bổn chắc lưỡi, “ Thời kỳ
mình đã qua, uống đi anh Đình à”.
Brisbane, July, 01 2007