Phu Tùy Bạch Lộ
Lưu
Nhơn Nghĩa
Qua sách vở ,
tôi có đọc bài thơ " Ông Đồ " cuả Vũ Đình Liên ( Mỗi năm hoa đào nở..."),
đó là nếp sống văn hóa ngoài Bắc ngoài Trung. Tôi chưa thấy cái hình ảnh ông Đồ
già bài mực Tàu giấy đỏ khi Tết đến tại quê Xà Tón, có thể ông ngồi ở một góc
chợ mà tôi không để ý. Ngày Tết, đi ngang nhà bà con, ít thấy câu liễn Tết như
các nơi còn giử truyền thống dán liễn trên những cây cột. Người viết liễn ở đâu đó. Đọc sách chuyện, thấy
đám cưới cũng có dán liễn, đám ma cũng viếng câu đối, điều này không bao giờ thấy
ở xứ kinh cùng chợ ngang. Người Miên không biết liễn, hơn nữa, họ ăn Tết là ăn
Tết theo, vì họ đã có Tết riêng vào tháng Ba âm lịch rồi, nguời Tàu dân buôn
bán, lơ là, không quan trọng câu đối . Đại khái chỉ mấy câu, năm nào cũng vậy,
" Xuất nhập bình an ", Tết thì '" Hão ngữ, hão ngôn hành hão vận,
Tân niên tân nguyệt phát tân tài " Năm mới phát tài, Sinh ý hưng long, chữ
phuớc dán trên trái dưa hấu.." Miễn có tiền là tốt.
Có liễn ắt phải
có nguời viết, tôi nghĩ người ngoài kinh viết, đó là mấy ông già còn sót lại
truớc năm 1975, sau đó chắc không còn người biết chữ Nho viết liễn,đoán sâm,
coi bói .Nói vậy, mà khi cần cũng có dịch vụ đó. Đám ma, có chổ làm bàn đưa, lay quay mấy câu,
có khi bằng chữ Hán, hoặc chữ Việt,
"Vĩnh du Tiên cảnh, Nhựt lạc Tây thiên , Thiên thu vĩnh biệt
..." có khi cắt giấy dán trên bàn đưa bằng vải trắng, dán chữ lộn nét ,
không ai buồn đọc phê bình, mà có đọc được chữ Nho không đã.
Trên bàn thờ
tổ tiên, " Phước điền tiên tổ chủng, Đức trạch tử tông canh ", nhắc
nhỡ con cháu lấy đức hạnh làm đầu. Cuối năm , mỗi lần về quê ăn Tết, bà già tôi
nhắc qua đốt nhang cho củ X-l láng diềng, củ X-l hiền lành từ xưa tới giờ, củ vừa
mất, tôi như mất một kỹ vật xưa, củ dặn
kêu củ bằng " pề" ( bác ), ý nói liên hệ bên nội, dù không có bà con.
Tấm hình củ, nhìn như còn sống. Khói nhang cuộn lên chứng lòng thành. Dù hàng xóm, củ thuơng tôi lắm, khen tôi hiền,
lấy tôi làm gương cho con cháu củ. Rỏ
ràng củ nhìn tôi mĩm cuời. Kiểm X-l kêu to kéo dài ra, thói quen nói lớn,
" hia X-l ơi , Nghỉ nó về đốt nhang cho hia đó, phù hộ cho nó mạnh giỏi
" Tiếng kiểm kêu vang cả xóm cũng nghe. Tôi đọc câu liễn thờ, "Phu
tùy bạch lộ, quân an lạc. Thê tại hồng trần thiếp thống bi". (Chồng theo
sương trắng, chàng an lạc. Vợ tại chốn bụi hồng, thiếp đau xót) cái không khí
ngay tại bến xe, bụi mịt mù, nắng chan chan, nóng đổ lửa, mồ hôi rít rịt mà,
thèm không khí bạch lộ mát lành mà làm sao có. Kiểm đang quần quật rửa thịt nấu
hủ tiếu, thống bi chổ nào. Ngày xưa, củ X-l có nhà máy xay lúa, giàu lắm, sanh
tật có vợ bé, kiểm X-l can không được, bà mướn người đâm chết cô vợ bé, tìm
không ra thủ phạm, im luôn. Sau nầy nguời đàn ông giết người làm thợ mài dao,
mài xong ông tự cắt chân mình chứng tỏ
là dao bén. Lúc nổi cơn, kiểm X-l cũng la củ X-l xa xả "chết đâu chết phức
cho rồi, thằng cha già ăn hại " Chắc củ và kiểm X-l không hiểu nghĩa câu
liễn, hể chồng chết, vợ còn, thì thờ bằng hai câu đó. Đang lâm râm khấn ,nghe
tiếng kiểm X-l la, nhìn câu liễn, tôi cố nhịn cười, làm bộ ho, rồi ra về.
Cũng
hai câu trên thờ côn ngoại tôi khi ông mất .Xưa, chồng chúa vợ tôi, nhà thì
nghèo, bỏ xứ Mỹ Đức vô Sóc mầng ăn, ông khó khăn với vợ con vô cùng, với người
ngoài thì ông rất tốt. Vợ con hầu hạ, ông chỉ có tật uống rượu đánh bài. Bà ngoại tôi có 10 người con, chết 1 người
còn 9, vất vả nuôi con, làm bánh hủ tiếu khô đổi lúa với người Miên, nuôi heo,
suốt đời chưa từng mang đôi guốc, gia tài chỉ mấy cái áo Tàu vải xiêm đen. Bồ
lúa đầy, có người tới xút trừ nợ thua bài của côn ngoại tôi.
Lúc dời ra chợ
quận, tự nhiên ông mất thế, chỉ lo làm phước.
Hai ông bà không nói chuyện với nhau trên 23 năm tới ngày ông chết, ông mở miệng là bị bà nạt ngang. Ông có xin
được lạy xin lỗi bà ba lạy, vì bà đã vất vả nuôi 9 người con nên người. Bà ngoại
tôi nạt, không nhận. Hai câu liễn trên bàn thờ bà không đọc được, các người con
thắp nhang, bà lo tu và làm phước theo đạo Phật Giáo Hòa Hão. Côn ngoại tôi an
lạc, bà ngoại tôi chắc không thống bi. Nếu con thờ cha, thấy hai câu 'Sầu Bắc hải
phụ thân hà tại. Vọng Nam sơn híếu tử nan tầm’. Biết ổng đi biển Bắc mà trông về
phiá núi Nam làm chi cho khó tìm, ngược đời thằng con, hiếu tử chổ nào. Lúc còn
sống, ông già sanh tật, ăn đâu .. đó.
Săn sóc riết cũng chán mùi hôi , ổng đi là mừng thoát nợ. Không biết con
dâu thờ mẹ chồng hay cha chồng bằng câu gì, chưa tìm ra. Củ Minh Tân gốc Xà
Tón, ở chung với cha vợ, ông nầy canh cửa cho vợ củ đi đánh bài. Củ Minh Tân về
sớm bắt tại trận, vừa đánh vợ vừa chửi ông già vợ . Củ cũng thờ cha vợ khi ông
mất. Tôi ghé thăm đọc, nhớ được một câu " Tuy bán tử nhi tình do tử
"Củ không phải con , chỉ là nửa con, nhưng tình như con. Tôi chắc ông
không tha thiết gì ông già vợ. Trong vở Chèo Quan Âm Thị Kính, chàng Thiện Sĩ đến
gặp ông gìa để xin cưới Thị Kính, chàng chấp tay thưa "Thưa cụ, văn thanh
cụ có nàng thục nữ, con xin sang bán tử hầu người " Ông già ngạc nhiên,
"Ồ, anh bán cái chết cho tôi à ? " Rể là nửa con, khi đưa đám ma ông
già vợ, chỉ đội khăn và mặc quần trắng, áo thì sao cũng được, bán tử mà. Sơn Nam có
nhắc câu
"Một mai
ai đứng bên kinh,
Ai
phò giá triệu ai rinh quan tài ?
Bên
kinh đã có con trai
Giá
triệu con gái , quan tài nàng dâu
Hỏi
rằng chàng rể tôi đâu
Chàng
rể uống rượu đi sau nói sàm
(Chàng
rể nhậu xỉnh đi sau chửi thề )"
Bây giờ tìm không ta câu liễn con thờ mẹ, chồng thờ vợ, hay cha thờ con, cháu
thờ ông bà em thờ anh chị ...Ai nhớ cho tôi xin bổ túc.