Tết Xứ Xà Tón
Lưu Nhơn Nghĩa
Cuối năm âm lịch, các tiệm thực phẩm Á
châu bày bán những tờ báo Xuân dầy. Bài vở chủ
đề Xuân và Tết như bất cứ năm nào,
chỉ khác trang tin tức, tử vi, con giáp, quảng cáo,
hình ảnh. Tôi có thói quen đọc các phong tục ngày
Tết để nhớ và giải thích cho bạn bè
ngoại quốc. Bài vở về phong tục đều
có nhiều trong sách nghiên cứu, hầu hết là phong
tục cổ truyền, ngày nay chưa chắc còn
giử.
Đêm qua được đãi ăn cháo, nằm trên
thảm nghe hai ông bạn già nhắc chuyện Tết
thời mấy ông, một ông gốc Sa Đéc, ông thì
gốc Huế. Hai ông tranh nhau nhắc, ông bắt
đầu nói, tôi đã đoán ra chữ kế tiếp,
" Cu...", tôi đoán ngay chữ kế tiếp là " kêu ", Nêu
cao," kế là pháo đỏ.., thịt mỡ dưa
hành...", mừng tuổi, xông đất, chùi lư, bánh
chưng, giao thừa, từ ngữ tôi nghe từ
nhỏ, có gì lạ đâu. Nghe một lúc tôi ngủ lúc nào
không hay. Mấy ông đánh thức tôi dậy để
nghe, mẹ, tôi đâu phải là cái thùng rác, cái thùng rác có
lúc đầy chớ. Tới phiên tôi kể, mấy ông
phải nghe cho công bình.
Tết xứ Xà Tón tôi vui hơn xứ mấy ông
nhiều, khoảng thời 1948-1954. Vui làm sao?, nghe tôi
kể.
Trước Tết mười ngày, người ta nôn
nóng trông mau tới Tết, không có cái vụ dựng nêu
ăn chè. Ngoài chợ, phố xá tráng xi măng,
đường đá xanh " cứng như đá ", ai mà
trồng cây nêu. Xóm ngoài kinh, mặt nhà quay ra
đường xe đi Long Xuyên, còn chút đất
đặt bàn Thông Thiên là phước, trồng nêu cho xe
đò cán ngả rồi nói xui. Xóm kinh bên nhà bác sáu Sâm,
mặt nhà day ra kinh, trồng nêu dưới nuớc cho nó
mọc thành cây thủy trúc. Xóm chuồng bò, xóm lò heo, xóm lò
rèn, nhà cửa ở chen chúc, đường hẻm
chật hẹp, trồng nêu cản đường
đi vô ích. Chỉ có cây nêu trước đình, đúng
ra là cây phướng khi có lễ lạc. Câu " dựng nêu
ăn chè " để dạy học trò làm bài học
thuộc lòng, còn có tên là ám đọc. Xứ tôi không có ông
đồ già, dân Tàu buôn bán loại hàng có lời
nhiều, ai mà bán chữ rẻ tiền, mà mấy giả
có đủ chữ đâu bán. Phố không dán câu
đối, cột xi măng vôi, dán không dính. Tạt vô xóm
lò heo, xóm ngoài kinh, vách lá, cột bằng cây tạp cong
queo, u nầng lồi lõm, thân cột nhỏ, dán lên
đọc không thấy chữ, dán liễn chưa
chắc may mắn, chỉ tốn tiền. Muốn ra
Bắc ăn Tết thì đọc bài thơ Chợ
Tết " Những thằng cu áo đỏ chạy lon ton,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẻ ".
Người ta chuẩn bị Tết nhắm về
ăn mặc, ăn ngon, mặc mới ba ngày Tết (
xứ tôi không ai nói Xuân , chữ Xuân dành cho học trò
đọc trong Quốc văn Giáo khoa thư. ) Tiệm
bán thực phẩm bán không kịp, trà bánh,
đường kẹo, chà là, mức bí, thịt
heo...Kế bên tiệm tôi, tiệm guốc của củ
Phú, củ đóng không hở tay, khách kiên nhẫn ngồi
chờ củ đóng cho đôi guốc mang ăn Tết,
ngày thường đi chưn đất, tối rửa
chưn, mang guốc lên giường cho sạch. Guốc
vông trắng, nhẹ, rẻ, mau mòn, guốc cây cứng
nặng lâu mòn, guốc sơn mắc tiền mang vào
dịp Tết. Củ Phú cẩn thận xỏ tay đo
quay đóng cho khách hàng mang thử cho vừa, mới dùng
nẹp đóng thêm hai bên hông guốc. Đám Mối Chay,
thằng Tức, Xỉu Phà tiếp cha mẹ không
nghỉ tay. Ăn Tết mang được đôi
guốc sơn sướng lắm, sướng hơn
mang đôi giày Adidas hay Puma sản xuất ở Tây
Đức. Ngày nay, củ Phú đã mất, dép Nhựt
ngàn thiên, tiệm guốc dẹp.
Tiệm hớt tóc, khách ở trần ngồi chờ,
đầu tóc chôm bôm, bờm xờm. Chú mười Quanh,
chú chín Tỷ, chú năm Sạn giủ cái khăn
trắng choàng cho khách, cầm tông đơ đè
đầu khách, mảng tóc trên sàng nhà thấy ớn.
Tiệm may bận rộn từ đầu tháng
chạp, tiếng máy đạp suốt ngày đêm không
kịp. Chiều cuối năm, tôi thấy một
chị mặt sưng xỏ trước tiệm may, "
Sao nói chiều nay rồi mà chưa rồi", chị quay
mặt đi, muốn khóc, tôi thấy cái buồn tủi
nhà nghèo thất vọng hiện trên mặt chị,
đứa con không có aó Tết năm nay. Ngày nay,
đồ may sẳn, đồ " nghĩa địa, Sida
" chở tới chổ thợ gặt bán hay đổi
lúa. Tiệm may hết thời, đóng cửa.
Qua Tết, dân thợ may, thợ hớt tóc, tiệm
guốc được nghỉ dài hạn. Ông già tôi bán
đồ sắt, ế nhệ từ cuối năm.
Trước đó mấy tháng, bà già tôi xây bột
chuẩn bị làm bánh ít. Bà bao bột trong miếng
vải, buộc chặc, lấy cối đá dằn lên
cho ráo nuớc, sau đó cắt từng miếng bột
ướt để trong nia phơi nắng cho bột
khô. Khi làm bánh thì đâm nát, pha nước và
đường. Ngày nay bột xay bằng máy sẳn.
Thời đó cái gì cũng làm bằng tay. Lại lo làm
dưa kiệu, dưa cải, chưa kể làm lạp
xưởng phơi trên sào. Ông già tôi nhận xét, " con gái
bây giờ làm không nổi đâu ".
Chiều 23 Tết, trời lạnh lạnh, chưa
nóng như bây giờ, thấy cúng đưa ông Táo về
trời, thành tâm lắm, mong ông tâu cho Ngọc Hoàng
chuyện tốt lành gia chủ đã làm suốt năm,
khói ấm trong bếp. Cuối năm ai cũng rọc lá
làm bánh tét, bánh ít nhưn đậu nhưn dừa, dư
bột bánh ít thì làm bánh tổ. Luộc bánh ban đêm, sáng
đem treo cho ráo nước. Ông già tôi chỉ quét dọn
nhà cửa cho thật sạch, trả nợ và đòi
nợ cuối năm, có khi nghe ông chửi lầm
thầm, " thú mẹ, hia Hái dai quá ".
30 Tết, lo kêu réo người gánh nước xài cho
đầy lu không phải dễ, thêm nước uống
Chưn Num. Sinh hoạt cuối năm rộn rả
nhưng vui. Người lên núi chặt mai rừng,
lựa nhánh có bông sẳn về chưng Tết,
thường là người nghèo mới rảnh rang làm
chuyện nầy, không ai cầu kỳ lặt mai cho
nở đúng ngày. Ông già tôi khô khan như đinh dây chì,
không cần bông hoa gì cho choáng chổ, mất công xả
rác, hoa đào nở và ông đồ già ở ngoài Bắc
chưa vô. Trời lạnh vào mùa Tết, ở đây
không có chữ " đón Xuân ", nói " ăn Tết " cũng
được.
Trưa 30, bà già tôi nấu nướng mâm cơm (
không phải mâm cổ ) cúng rước ông bà, nói là mâm,
nhưng thức ăn dọn để trên chỏng
trước tiệm. Nhớ man mán, ba chén cơm, chai
rượu, ba chung rượu,bình trà, ba chung trà, diã gan
heo xào rau cần Tàu hay hẹ bông, canh da heo, kim châm bún Tàu,
thịt kho trứng vịt, dưa kiệu, dưa
cải, bánh ít bánh tét, mì xụa, xấp áo giấy áo
quần, giấy tiền vàng bạc. Đó là chuyện bà
già tôi. Chuyện cúng kiến là trách nhiệm ông già.
Ông đốt nhang, để mỗi cây nhang nằm
trên mỗi dĩa thức ăn, chung rượu chén
cơm. Kể tới đây hai ông bạn Sa Đéc và
Huế nhao nhao phản đối, " Ai cúng kiến gì
kỳ lạ vậy...". Ê, im cái miệng, tại ổng
cúng vậy, ông bà mới chịu ăn, cúng như mấy
ông, ông bà chết đói, dĩa mì xào không có nhang đưa
khói, ai dám gắp?, nhờ khói nhang mà ruồi không bu ". Ông
già tôi chắp tay khấn vái khá lâu, thành tâm, nói lầm
thầm bằng tiếng Tiều. Ổng khấn vái
đủ người, từ ông nội bà nội tôi
tới mấy cô tôi, mời về ăn hết.
Độ hơn nửa giờ sau, ông bà ăn xong, ông
châm trà rượu, một bàn tay nắm lại, bàn tay kia
bụm bàn tay nắm lại, hai tay đưa lên trán vái
vái, quì xuống, hai bàn tay mở ra như cầm hai trái
cam lớn, chống xuống đất, đầu
gặc gặc xuống, rồi chắp tay lạy như
lần đầu, lạy kiểu đó đúng ba
lần. Ông bạn gốc Huế lại ngắt lời,
"tôi chưa thấy ai lạ vậy, người ta ...
như vầy". " Kệ ông, cúng vậy ông bà mới
độ con cháu phát tài, ông thấy không, tôi qua sau ông mà
mấy căn nhà, ông qua trước mà còn ở nhà
mướn ".
Sau khi ông bà no say, ông già tôi châm thêm rượu trà,
khấn vái, lấy xấp áo quần và giấy tiền
vàng bạc đốt trong nồi lớn. Khi vàng bạc
cháy thành tro, ông đổ rượu lên, lửa lại
cháy bùng. Sau nầy hỏi, sao cúng nhiều quá, ông bà ăn
sao hết, đồ ăn dư. " Sao không hết,
năm ăn có một lần ". Trà rượu làm gì?.
Ăn mỡ phải uống trà rượu mới tiêu
chớ, áo quần rách thì mình đốt vải xuống
may cái khác, tiền để dành xài." Con có hiếu
phải lo cho ông bà đầy đủ. Thấy
đồ ăn còn nguyên, có ai ăn đâu? ". Thì mình
ăn. Sau đó ông mời bà con lối xóm, ai đi ngang
cũng vô ngồi ăn cho vui, tôi cũng ngồi ăn
chung. Ông không buồn dạy tôi cúng kiến, từ
nhỏ tới lớn, tôi chưa biết cúng cơm hay
cúng Giao thừa. Ở ngoại quốc, ngày cuối
tuần đi ngồi lê đôi mách, nhằm ngày đi làm,
tôi ngủ mất.
Quên nhắc, còn xách hui ná đi tết quan quyền,
bạn hữu, đền ơn trả nghĩa cuối
năm. Đoàn lân dượt từ cả tháng
trước.
Trưa cùng ngày, xe đò, xe hàng về buổi
trưa, như ngựa về chuồng. Chủ xe lo cúng
cô hồn, người sống biết ăn, nhín chút cho
người khuất mặt. Trưóc đầu xe, con gà
con vịt luộc, có khi con heo quay, vàng bạc cúng cô
hồn. Cuối năm, cô hồn đói rách ghé ăn,
người ta đâu hẹp dạ, mình biết ăn, cô
hồn không ai cúng kiến cũng biết đói, ăn
xong độ cho xe khỏi tai nạn, tránh mìn. Đây là
dịp chủ đãi sớp phơ, lơ xe ăn
uống, thêm tiền lì xì cuối năm cho vợ con.
Buổi chiều chạng vạng, thấy ông già tôi
cúng ông Tì chủ iá, địa chủ thần góc nhà.
Nửa đêm, bài dĩa báng cúng Giao thừa rồi đi
ngủ, cúng cho có lệ, sau 9 giờ đêm, ít thấy ai
ra đường, pháo cũng ít. Có người dùng cây
đu đủ, hay tre, khoét lổ, để khí đá và
nước vô cho sôi, lấy cây đuốc châm, nổ
ầm ầm như đại bác.
Khuya mồng một, khi chuông nhà thờ đổ,
trời còn thanh vắng, tiếng trống lân linh thiêng
rập rình từ chùa ông Bổn vang khắp quận. Lân
múa lạy Ông trước khi xuất hành. Nằm nghe
tiếng trống, biết lân đang lạy tạ Ông,
lân lên, lân mừng, lân ăn, lân ngủ. Tiệm chưa
mở cửa làm sao ra, đành ngủ nướng. Ông già
tôi, như những ông Tiều khác, lợi dụng
tiệm đóng cửa, ngủ bù, dậy trưa, ăn
no rồi ngủ hoặc tới lui tiệm cà phê. Dân buôn
bán, năm nghỉ ngơi được 4 ngày Tết,
họ ăn ngủ thât sự, xả hết chuyện
khác. Ai tới thăm được đãi mức bí, thèo
lèo, hột dưa, chà là.
Sáng đầu năm, bộ mặt chợ thay
đổi thấy rỏ, không khí Tết hiện ra trên
bộ áo quần mới dù là bộ pyjama, mặt vui
hẳn lên, đường rộn rả tiếng
guốc. Trẻ con người lớn hướng
về khu chợ, tiệm nước, món hủ
tiếu, hột vịt lộn, chỉ Tết trẻ con
mới có dịp ăn.
Nghe xứ khác có tục xông đất, mồng hai
Tết, ai vía tốt mới xông đất, ở đây
miễn. Ai muốn tới cứ tới, không ai siêng trách
chuyện xui xẻo. Mồng một Tết, tôi nhác vì thi
rớt 2 năm, cẩn thận sợ gặp xui
đầu năm. Vừa bước ra cửa, lấm
lét ngó, chạy trời không khỏi nắng. Ngay
trước mặt, già Xấu, con củ Thiếu
nhăn mặt cười, giả tưởng tôi ưa
giả lắm. Mẹ, tên " Xấu ", củ Thiếu
đặt vì sợ ma bắt giả, mặt giả hãm
tài, gặp giả xui suốt năm, tôi thi rớt luôn
năm đó. Biết mình mặt xấu, tên " Xấu ", mà
sáng sớm chường mặt ra cho người ta
gặp xui, nhớ mặt giả tức lộn ruột.
Dọc theo dãy phố củ Xál tới tiệm cà phê
chệt Căn, họ trải đệm mở sòng bài.
Các sòng lớn chơi riêng trong nhà. Năm đó, 1949, ông
Quận Mao Kim Sóc làm cái ngay trong tiệm củ Chón. Chú
Thiệu theo hầu, kêu tô mì cho ông, dặn, " làm cho ông
quận một tô nghe, đừng để mỡ nghe ".
Sòng đề 12 con của chú Thôm, kế bên, con chú mở
sòng bầu cua, con nối nghiệp cha, mai sao nối
dược nghiệp nhà, trước là đẹp
mặt sau là ấm thân. Mỗi xóm đều có sòng riêng,
dân Miên tham gia bông dụ, bót đay xi xon, buông tay ăn
thua. Dân chợ chơi với dân chợ, có ăn có thua
đậm, nhưng thật thà, lọt người
lạ vô là họ biểu nhau nghỉ chơi, không tin
người lạ, họ bảo vệ nhau.
Mấy chiếc xe đò xe hàng có sẳn tài xế
chủ xe chạy vòng chợ, cho trẻ con, người
lớn lên ngồi xe. Nói thiệt, thời đó không
phải ai cũng có cơ hội ngồi xe hơi.
Thời nay, nói không ai tin, có người tới chết
chưa được ra tới chợ Long Xuyên.
Người lớn ngồi trên mui, con nít vỗ thùng xe la
" ghê ghịt ...", chỉ vậy mà vui.
Cái lệ mừng tuổi ông bà cha mẹ, lì xì, theo
sách vở không áp dụng triệt để. Đám con
cháu kéo tới nhà cô bác đòi lì xì, có người cho, có
người không cho. Đám con củ Sáu tôi,
được ông già tôi lì xì, nhưng chưa bao giờ
củ Sáu tôi lì xì cho đứa cháu nào. Ngày nay, đám con
ổng khó mở miệng xin tiền Việt kiều khi
bọn tôi về xứ, ở cho có thuỷ có chung. Ông già
tôi biết ai cho tiền tôi, ông cho con người đó
lại. Chính ông cũng không lì xì cho tôi. , hộp tiền
treo góc tiệm, chỉ cần bước lên ghế là có
ngay. Sáng mồng một, ổng dậy trể. Lúc thua bài
cào, tôi hỏi tiền lì xì, ổng nạt, " Tiền
giấy bán cây đụt và hộp bản lề mầy
hốt hết, chỉ còn bạc cắc, tao hổng
biết hả ?". Ừ, tôi muốn lương thiện
mà ông coi như tôi có quyền lấy tiền trong hộp,
rồi ông biết. Xui là mấy ngày Tết đâu có ai mua
đồ sắt. Tôi không thích chơi bài, chỉ thích
ngồi tiệm ăn hủ tiếu như người
lớn, hoặc theo lân múa bổn phố. Côn ngoại tôi
ngồi mệt mỏi, không đứa nào mừng
tuổi. Bà ngoại tôi cho cháu đeo vàng, thương thì
ít, khoe thì nhiều. Mấy củ tôi và ông già tôi ăn
uống nghỉ ngơi, bỏ hết lo âu bốn ngày
Tết. Suốt năm làm ăn quả thật mồ hôi
ướt mồ hôi ráo. Dân làm ruộng còn thảnh
thơi hơn sau mùa lúa mùa đìa. Sau nầy, lúc con cái
đã lớn, không hiểu sao ổng kêu lên đưa
xấp tiền lớn, không nói gì, ông cho từng
đứa ngày Tết, lúc đó có ai cần tiền
đâu.
Tiếng trống lân bắt đầu ngoài chợ,
múa mừng bổn phố trước, phố thẳng
hàng nên dễ múa. Con nít theo vây quanh coi, pháo nổ lẹt
đẹt. Trưởng đoàn lân vào trình gia chủ,
đưa thiếp " Lân chỉ trình tường, Cung chúc
tân Xuân ", lân đứng trước cửa chờ.
Đầu lân nâng cao, bắt đầu, tùm phụp, lân
hụp xuống. Trống lạy nghiêm trang, lân run
đầu nhìn hai bên, thẳng về trước, cúi
đầu xá, rồi vái bên phải, bên trái, nhảy lên
mừng, trống dồn ba lần múa nhanh, mệt
bước chậm, lúc nháy mắt trêu, chân đá theo
bộ tấn võ, đùa dởn với ông Địa,
chủ nhà bưng dỉa trái cây cho lân ăn, ly
nước cho lân uống, ăn no lân ngủ, cho tiền
nhiều thì bao lì xì đỏ treo trên cây tre, lân leo lên
ăn bao lì xì và lá cải, cải là "thái', thái bình
thịnh vượng. Ông Địa hả miệng
cười, phe phẩy cây quạt.
Nghe tiếng còi thổi, lân múa lạy tạ gia
chủ ba lần lui ra, tiếp tục múa nhà khác, múa lâu
mau tùy tiền lì xì, có khi chủ hà tiện, lân múa
năm ba đường thì vái rụp rụp ba vái
ngắn. Lân không vô xóm nhỏ múa, nhà lá cất lụp
xụp khó vô, nghèo không cần phước.
Mồng hai Tết, bên ngoại tôi gốc ai có
vợ Mỹ Đức thì lên xe đi, tôi tham gia ra
Mỹ Đức ăn Tết hùn, cơ hội
được ngồi xe hơi sướng lắm.
Mồng ba, Tết còn vui, còn cờ bạc. Có năm
ông Quận Sóc cho ăn Tết thêm một tuần,
nghĩa là được cờ bạc, phố xá
vẫn đóng cửa tiếp tục ăn Tết,
thời no đủ, chưa lo lắng cơm áo,
đất rộng người thưa. Dĩa trái cây,
hột dưa , bánh kẹo chưng trên bàn vơi bớt,
bắt đầu ăn bánh tét thịt kho dưa
kiệu, lạp xưởng, bớt ăn hàng tiệm,
áo quần bắt đầu nhăn, ăn uống quá
độ hoài cũng nhàm, Tết sắp qua. Thức
ăn dự trử ba ngày đã cạn, tiền lì xì
nướng hết trong sòng bầu cua, bọn con nít
mới quay về nồi xà bần, nồi canh còn dư
hôm ba mươi, thêm cải, nêm chút muối nước
mắm hâm lại, ăn chén nầy qua chén khác, thêm bánh tét
xấy, bánh ít. Tết qua, lát bánh tổ cắt ra
nướng kéo dài dư vị ngày Tết. Lân đã lên xe
đi xứ khác kiếm ăn, vài ngày sau mới về
múa tạm biệt chờ năm sau.
Dân làm ruộng dọc theo bờ kinh còn dư
thời giờ, cuối năm gặt xong, lúa đầy
bồ, ruộng khô, chưa tới mùa tát đìa, trời
cho nghỉ thêm. Tết đồng nghĩa với
thảnh thơi, ăn rồi nghỉ, chờ mưa sa
cầy ruộng.
Thoáng qua mà đã mấy mươi năm,
đứa bé ngày xưa bây giờ già hết. Năm 2000,
mừng Tết thiên niên kỷ như trên biểu ngữ
căn trên trụ sở đảng bộ. Chiều 30,
nóng ơi là nóng, bôm nuớc giếng ông Bỏ cả
buổi mới được đôi nước gánh
về xài, nhà giàu đều đào giếng trong nhà.
Người héo hắt đi. Chiếc xe rác chạy qua,
mùi hôi nồng từ xa, công nhân nam nữ mặc mấy
lớp áo, bao tay, khẩu trang, đeo trên xe chở rác ra
ruộng đổ. Chợ bông còn mấy chậu vạn
thọ bơ vơ khoe nhan sắc cuối mùa, một
người ở trần đạp xe ba bánh chở
chậu mai về.
Đêm giao thừa, pháo nổ rang liên hồi trong TV,
nhạc Xuân " quá xá là vui". Tiệm cà phê chệt Xên Kim
tối mù mù. Sáng mồng một, xe gắn máy nam nữ
chở nhau chạy rần rần. Tìm hoài không thấy ai
mặc áo dài kẹp tóc mang guốc. Sáng mồng một,
Lân vẫn nhảy múa, trống thình thình...Ai mở
cửa bán cứ bán, nhà nào nghỉ cứ nghỉ.
Mỗi năm ,Tết một ngày cũng đủ, kéo
dài thêm mệt. Chim se sẽ không còn, nói chi tới
tiếng cu kêu ba tiếng cu kêu.
Tết xứ tôi như vậy, không dám mời, không
phải thiếu tấm lòng, nhưng ai muốn vui, thôi
đừng tới, tới chỉ làm chủ khách
buồn thêm.
Spingfield, 16-2-07