TRẠM CƠM
Lưu Nhơn Nghĩa
Ai cũng biết xứ tôi có ba luồng văn hóa,
Việt, Miên,Tàu, ba đức tin, nhưng không bao giờ
va chạm nhau. Mỗi nhóm có cuộc đời và mục
đích sống. Dân Miên theo Phật giáo Theravađa, nguyên
thủy, sống đạm bạc, vui với gì sẳn
có, chỉ cần cơm no sàrong ấm, sống hạnh
phúc trọn vẹn với giáo lý Đức Phật, xem
nhẹ vật chất, chùa thì lớn, nhà thì nghèo. Dân
Việt ngoài kinh theo Phật Giáo Hòa Hão, tu hành thực hành
giáo lý Đức Thầy trọn vẹn, mong ngày mở
hội Long Hoa. Dân trong Lương An Trà theo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa, làm lành lánh dữ. Dân Tàu ở chợ, là
đợt di dân tới đây sau cùng, thờ
Phước Đức thần và thần Tài, thần
độ làm ăn phát tài. Xứ nầy không có chùa
Phật, giáo dân Thiên Chúa ít quá, vài gia đình, lại không
có chùa Phật Đại Thừa.
Xem ra, ai cũng có mục tiêu rỏ ràng, dân Việt
sẽ gặp hội Long Hoa, dân Miên sẽ lên Niết Bàn,
dân Tàu về với tổ tiên.
Tôi gốc Tàu, theo gia đình thờ thần Tài, bà
ngoại tôi gốc Tàu, gốc Mỹ Đức, vừa
theo Phật giáo ( chùa Truông ) và PGHH. Trưa trưa, vì không
biết chữ, bà bắt bọn tôi đọc Giảng
cho bà nghe. Trên lầu bà thờ tấm trần
điều, bên dưới thờ ông bà và thần Tài.
Xa nhà từ nhỏ, tôi có cái nhìn phiến diện về
PGHH, nền đạo mới được đấp
bồi từ hơn nửa thế kỹ nay. Tệ
nhứt là tôi chỉ nhìn bề ngoài, cái tốt không
thấy, chỉ thấy khía cạnh xấu.
Xứ tôi có hai ông gốc gác ở đâu đến, ông
Ph. va ông B., nhờ tiếng PGHH, được chánh
quyền Ngô Đình Diệm đưa lên trấn an tín
đồ PGHH. Ông Ph. làm dân biểu, hai vợ, hiền
lành ít nói. Trong Quốc hội không bao giờ lên tiếng
( biết gì nói ). Ông thường nói, " Trời ơi, nó
bôi tên tôi rồi sao ? ". Tôi phục thái độ ngay
thẳng ông.
Người thứ hai là ông B, cao lớn trắng
trẻo, ăn nói trôi chảy, lý luận chặt chẻ,
" bởi gì, chính vì vậy, vì thế cho nên .."thời ông,
trong bổn đạo không ai đủ khả năng
như ông. Nhờ sói đầu, ông có dáng trí thức. Tôi
nghĩ, ông học hàm thụ thế hệ xưa,
biết nhiều thành ngữ Nho, " giấy rách phả
giử lấy lề, phải đạo làm
người. Chắc chắn ông không học
trường công lập, vì tuổi ông , lớp ba
phải biết chút ít tiếng Tây, ông thì không biết
một tiếng, khi đọc nhựt trình, lúc
đầu, ông dùng ngón tay chỉ từ chữ.. Thời
chánh phủ Ngô đình Diệm, ông xăng xái gia nhập
đãng Cần Lao, rồi vào Phong trào Công chức Cách
mạng Quốc gia, làm Chủ tịch, " ông quận phong
trào ", bà vợ lên chức bà Quận. Ông trung thành với
chế độ mà bị tù chánh trị cũng lạ.
Thời ông Thiệu, ông vào đãng Dân chủ, nắng
chiều nào che chiều đó, như cá gặp nuớc,
ông nhờ phiếu tín đồ PGHH. Cờ tới tay,
ông phất coi được lắm. Người ơn
nghĩa xưa, từng giúp gia đình ông khi ông ngồi
tù, nhờ ông giúp đở, ông phán, " Quân pháp bất
vị thân ". Có lần ông đi xe đò, thằng lơ
con hia Lốn chưa biết mặt ông, lấy tiền
xe. Ông giận lắm, dám thâu tiền xe ông Nghị viên
Hội đồng tỉnh, hăm một tiếng, hia
Lốn quýnh quán chạy tới nhà ông xin bà nghị viên nói
giùm, bà trả lời, " Ra chổ ổng làm việc xin ".
Làm sao hia Lốn dám gặp mặt ông xin cái tội tày
trời của thằng con ngu dốt, phạm
thượng. Phước ba đời, hia Lốn
biết đường chạy, tìm con gái ông, cũng
chủ xe đò, thông cảm nhau, nhờ người con
thân hành ra Châu Đốc tạ lổi ông mới bỏ
qua. Làm nghị viên, ông tự cho mình kiêm nhiệm thêm công
tác của An ninh, Cảnh sát, Quân cảnh. Ông điều
tra người trốn quân dịch, ông biết
điều tra dân có máu mặt.
Nhắc lại tôi nóng mặt, già Lốn là thằng cha
chết nhác, cựu hạ sĩ Không quân thời Bảo
Đại, to xác, mặt gà mái.
Tôi nhìn PGHH tiêu cực qua hai ông nầy, quên mất
người tu hành xóm kinh. Hai năm trước,tình
cờ gặp người bạn cũ, gốc Bắc,
du học Nhựt bổn từ năm 1965, học xong,
anh tu theo phái Thiền Lâm tế, giờ là thầy
Triệt Học Trần Đức Giang. Giọng
thầy sang sảng, có hơi hướng Nam kỳ,
thẳng thắng, có sao nói vậy, không câu chấp lễ
nghi cúng bái, chưa biết vị nễ ai, dù là các vị
chức sắc. Có lần trong câu chuyện, vài vị
tỏ vẻ coi thường PGHH, thầy Triệt
Học lớn tiếng hỏi, " Mấy ông chê PGHH, chê
chỗ nào, nói cho tôi nghe ". Câu hỏi như nhát kiếm
chém thẳng vào vấn đề. Nếu đó là câu
hỏi của tín đồ PGHH thì tôi không ngạc nhiên,
nhưng đây là câu hỏi của vị sư Thiền
tông gốc Bắc, chưa hề đặt chân xuống
miền Tây. Tôi có anh bạn gốc Sa Đéc, dân Luật
sư, gốc PGHH, nói dài, nói dai..không thể ảnh
hưởng tôi, chỉ câu hỏi chát tai của ông sư
Thiền tông làm tôi sửng sốt, gây hứng viết bài
Trạm cơm.
Khoảng năm 1965, PGHH bắt đầu hồi
phục sau nhiều năm bị kềm kẹp. Tín
đồ tổ chức ngày Khai Đạo, ngày 18 tháng 5
âm lịch, tại thánh địa làng Hòa Hảo, một
làng nhỏ trong quận Tân Châu, theo nghề nông. Tín
đồ PGHH sống rải rác miền quê các tỉnh
miền Tây. Số tín đồ không dưới vài
triệu. Số người hành hương dù là 1%
cũng là vấn đề. Một làng nhỏ, không nhà
trọ, hàng quán, làm sao dung chứa số khách hành
hương trong 3 ngày liên tiếp, chưa kể nhơn
lực chủ động phục vụ khách thập
phương, chổ nghĩ ngơi, chi phí thực
phẩm.
Ban Trị sự Trung ương nhờ các Chi hội
tiếp tay, vấn đề then chốt là cơm
nuớc được giải quyết dễ dàng. Ban
Tổ chúc lập những " Trạm cơm " trên
đường đưa tới Thánh địa.
Cả tháng trước ngày lễ, Tỉnh hội
đến từng nhà tín đồ quyên góp gạo, rau
cải cho ngày lễ, ít nhiều tùy hoàn cảnh.
Người trong xóm biết rỏ hoàn cảnh nhau, khi
thấy gia đình quá túng quẩn, ban quyên góp bỏ đi
luôn. Nói chung, ai cũng muốn quyên góp không ít thì nhiều,
trên căn bản có gì cho nấy, vài giạ gạo
sậu, gạo sóc nâu ruộng nhà, chục trái bí rợ,
bí đao, dừa khô, dưa leo, sả, cải
ngọt...Người nhiều ruộng góp cả
chục giạ, người nghèo nhứt cũng
được một giạ, mỗi giạ đủ
nấu nồi cơm cho 30 người ăn.
Người làm rẩy tự chở cả xuồng bí
rợ, khoai, bắp cải...đến thằng Thánh
địa.
Đúng ngày hẹn, thực phẩm để sẳn
trước nhà, Tỉnh hội cho nguời kéo xe ba gát
đến chở chuyển về làng. Họ làm việc
dưới cơn nắng cháy da hay trong cơn mưa,
đất trơn trợt xuống ghe chèo chống xuôi
nước ngược dòng giao đúng hẹn cho ban
tổ chức. Nhiệm vụ họ đã xong. Tại
trung ương, ghe xuồng đậu nghẹt bến
sông. Gạo, rau cải, chất đầy lẩm,
xếp theo tùng loại. Việc khuân vát ghi vài hàng,
nhưng nếu tận mắt nhìn mới thấy, ghe
xuồng chồng chành, đòn dày long chong, vác bao gạo,
trường dưa leo, quày chuối sống, cà ròn
khoai...mới thấy sự khó khăn người công
quả. Gạo chất cao đụng nóc kho, rau cải
xếp loại để phân phát cho các trạm cơm.
Đồng thời, họ bắt đầu dựng
trạm cơm, dãy nhà lá dài sơ sải đủ che
nắng mưa, bàn ghế mượn tạm trong xóm,
ghế cao thấp không đều bàn tròn bàn vuông nối
dài, miễn có chổ ngồi cho thực khách. Nồi
chảo, củi sẳn sàng. Trước đó nhiều
ngày các bà thức đêm nạo dừa vắt nuớc
cốt, trộn sả bầm trộn tương chao
ớt làm nước chấm, món căn bản, mấy
cô thôn nữ lo lặt rửa rau cải, bí rợ bí
đao, thanh niên xuống sông gánh nuớc, lóng phèn . Tất
cả làm việc quần quật nhịp nhàng, không ai
dạy ai, cần là có người thay thế trám ngay vào
việc, " anh chín ơi, gánh cho em đôi nước, chú
Tám ơi, thêm bao gạo...Anh kéo xe ba gát kêu, " tránh ra,
củi đây ". Anh ôm bó củi giao từ trạm nầy
tới trạm khác. Việc làm thấy ngột, thấy
như vô tổ chức, nhưng thật trôi chảy,
đâu ra đó, không hổn độn, không cải
vả nhau.
Người dự lễ đến đều phải
qua trạm cơm ăn no trước khi vào hành lễ.
Nét mặt thanh thoát, khách lủ lược về ,ghe
xuồng nghẹt bến sông, kẻ đi bộ, đi
xe, chen chúc trên đường đất.
Đường đến thánh địa còn xa, khách nghe
chủ nhà hai bên đường mời, " cô bác ghé vô nhà
nghỉ ăn cơm cô bác ơi ", nếu cơm chưa
kịp chín, " cô bác ngồi nghỉ uống nước,
đi chơi đâu đó rồi trở lại ăn
cơm ". Lời mời chân tình trên đường đến
Thánh địa khác lời mời thương mại
trên bến bắc Mỹ thuận. So sánh vậy là sai.
Lời mời cơm trên đường đến làng
Hòa Hão chân tình, tự nhiên phát xuất từ tấm lòng vô
vụ lợi.Trong lòng người mời không dợn
chút ý tư lợi bạc tiền, khách ăn cơm
tự nhiên như ở nhà, bình thường, không
đắn đo ngại ngùng. Cận ngày, khách càng
đông, chủ nhà bận không kém, sự đóng góp không
cần thông báo làm nhẹ phần nào cho nhà bếp
trạm cơm. Ngày 17-5,, khách đến hàng trăm ,hàng
ngàn, hàng mười ngàn, nhiều không đếm
được.
Đoàn người đến đây ,không ai cần
tiền, hay lo đói, không có gì mua bán, không có gì còn, không có
gì mất, chưn hành hương buớc dồn mà lòng
thanh thản, thành tâm. Vừa đến trạm cơm
đã thấy đói. Ngối vô bàn, mặc tiếng kêu
người phục vụ, "khách tới," mâm cơm bày
ra, gắp đủa đậu que kho tương chao,
chấm khúc dưa leo với nước chấm, thêm anh
bí rợ chan cơm, lua một hơi mấy chén cơm,
chén nầy qua chén khác.
Quen lạ trên bàn ăn, càng đông càng vui, kẻ ngồi
ăn không biết ai là kẻ sang người hèn, kẻ
giàu người nghèo, cùng món ăn, chén đá, đủa
tre. Sang hèn nghèo giàu bỏ hết trước khi vào
đây, áo quần một màu. Quanh họ, hai người
đàn ông lực lưỡng khiêng chảo đụng
cơm úp chảo trên miếng lá chuối trên bàn, " cơm
đây ".Một thanh niên khác tới xúc thau cơm tiếp
tế cho các bàn khác, " canh hết rồi", cô thôn nữ
bưng tô canh bí lên. Khi khách cầm đôi đủa
đưa lên trán xá, đứng dậy thì thì chén
đủa đã được dọn rửa sạch
sẽ. Khách tự động đến múc gáo
nước sả, ổi, màu đỏ nóng giải khát.
Hết nhóm nầy tới nhóm khác.
Suốt ba ngày hành lễ, khách được đãi
cơm từ sáng đến chiều, ai tới sớm
tới trể , bất cứ giờ nào cũng có
cơm. Suy ra, nguời phục vụ như cái máy, làm
việc quên ngủ.
Bà ngoại tôi rất dễ ăn , mà kén ăn dàn
trời, mấy người con dâu ngay cả bà già tôi
khổ tâm với bả..Bả đòi ăn cá tép vụn
mới bắt dưới ô ( lạch nuớc ) hàng ngày
ở Ô Thôm nơi bà sinh sống thời trẻ. Mua cá tép
vụn, kho với sả, nghệ, nuớc mắm
bằng nồi đất được chừng
một chén. Canh thì đòi ăn canh xiêm lo, canh mít, canh
thốt nốt, nêm với thính, mắm bù hóc. Mấy
thứ nầy rẻ tiền, nhưng ngoài chợ làm sao
có bán. Vậy mà mỗi lần đi hành hương
về, ba khen ăn ở trạm cơm ngon lắm.
Hỏi bà món gì ngon, " món nào cũng ngon ".
Đêm chánh, mê nhứt là ngắm ghe cộ đèn trên sông
Hậu giang và Tiền giang khi trời chạng vạng
tối, ánh đèn sáng rực trên sóng nuớc bao la.
Sau ba ngày, khách ăn bửa cơm cuối cùng Trạm
cơm rồi ra về, mang theo niềm vui mỗi năm
một lần, thời gian thong dong, sảng khoái, xả
bỏ mọi thứ trên đời, tiền bạc,
lợi danh, để lại rác rến ngổn ngang.
Tới phiên người phục vụ cùng nhau ăn
những bửa cơm cuối cùng, dọn dẹp
mấy ngày xong, khuân vác đồ đạc trả
lại cho chủ, hạ trạm, làm sạch khu
đất.Thực khách không cần cám ơn, chủ nhà
không đòi hỏi, cả hai đều vui, kẻ
nấu người ăn, đồng đạo, khách
sáo chi cho mệt.
Đưc Huỳnh hoằng đạo khoảng tám
năm, đơn giản và thi văn hóa giáo lý từ bi
của Phật giáo nhắm cho người nông dân. Giáo lý
thi ca thâm nhập tận đáy lòng người dân quê,
họ ngâm nga và thực hành trọn vẹn. Trong vòng tám
năm, hột giống lành đã được
trồng cho mấy triệu nông dân miền Tây, vừa
buông búa khai sơn phá thạch thì chiến tranh ập
tới, họ kẹt giửa hai lằn đạn,
thời nào nông dân cũng bị thiệt thòi. Năm lúa
xuống giá, Người kêu gào,
Cả kêu điền chủ phu nông
Đứng lên đừng để ruộng
đồng bỏ hoang
Mấy mươi năm qua, tưởng giáo lý
Người đã bị lãng quên, nhưng hột
giống đã tiềm sinh vừa nẩy mầm trong
thế hệ mới dưới hình thức khác. Tại
các tỉnh miền Tây, thế hệ mới theo
gương trạm cơm, âm thầm nấu cơm
miễn phí cho bịnh nhân nghèo trong các nhà thương.
Họ làm phước, chánh danh ngôn thuận, người
dân địa phương biết và tin họ, chỉ
tin họ mà thôi, họ tự động góp tiền
gạo xây dựng cơ sở tinh thần " làm
phước ", họ chỉ tin người hậu thân
trạm cơm. Nấu cơm nấu cháo cho bịnh nhân
ăn là hình thức mới của trạm cơm.
Đơn giản vậy mà mấy ai làm được.
Tôi không phải tín đồ PGHH, không biết nhiều
giáo lý Đức Huỳnh, chuyện giáo lý dành cho các
bậc cao minh, tôi chỉ nhớ Trạm cơm, và theo cá
nhân tôi, những người vô danh phục vụ
Trạm cơm xưa đã vượt qua lý thuyết,
họ sống và thực hành " trọn cái đạo làm
người ".
Câu hỏi của thầy Trần Đức Giang gây
hứng cho tôi cố gắng viết cho xong bài Trạm
cơm trong Bịnh viện , đang chửa bịnh nan y
bằng hóa học trị liệu, vượt qua bao nhiêu
phản ứng và còn viết được là chuyện
lạ .
Brisbane. PA Hospital Rơm 56.2,. 00:32 am, March 29th, 2007.
Ngày cuối chửa Chemo giai đoạn đầu.