Trường Học Xứ Xà Tón
Lưu Nhơn Nghĩa
Ở bịnh viện về hôm qua. Cuối năm,
hết thuốc chửa, cho về, 2 tuần sau trở
lại, đầu vẫn còn nặng. Hà hà, vậy là còn
đi rong mùa nghĩ Hè, còn kiếm tiền lai rai. Đêm
đêm nằm nhớ trường cũ, hứng chí
viết về trường mình học. Tôi ngồi
gỏ được bao nhiêu hay bấy nhiêu, biết ngày
nào đi chơi xa không bao giờ trở lại.
Tôi là đứa học trò duy nhứt thuộc thế
hệ lớp Ba năm 1952 tại trường Đình,
Tri Tôn, Châu Đốc, còn hứng thú, cơ hội kể
lại cho người quê tôi khi trà dư tửu hậu.
Xin viết lại những gì thấy hay nghe kể
lại, mức độ chính xác không cao lắm.
Người lớn tuổi xứ tôi già, lẫn lộn,
đi gần hết rồi.
Nghe kể lại, bà già tôi sinh năm 1918, học lớp
Năm (lớp 1 ) ở Ô Thôm ( Ô Lâm ). Chỉ có lớp 1
thôi. Củ Tư tôi sinh 1916, có ra Tri Tôn học tiếp,
ông Đốc Nâu dạy. Ông xã Sóc dạy ở Ô Lâm, sau
bị giết.
Các Sóc khác như Lương Phi, Xla Đom, Tà Pò, Sóc
Tiết không biết có trường không.
Trường Việt lúc đầu nghe nói ở sau Nhà
thương cũ, bên hông Chi Khu trước 1975, bây
giờ là Trụ sở Đãng bộ, ngày nay không còn
dấu vết. Thầy Huỳnh văn Rớt và cô Nho
dạy. Năm tôi chừng 4 tuổi ,
1945 ( thấy có trường tại ngôi Đình ) thầy
Khá dạy.
Tại Chùa Trên, có trường Việt Miên, hình như
dạy chữ Việt và Pháp, không biết có dạy
chữ Miên không. Giáo viên : Thầy Kul, thầy Xét, thầy
Hoạnh, thầy Dưng. Hầu hết học sinh
gốc Miên, có tới lớp Nhứt, giáo viên đầy
đủ. Ông Đốc Nâu về hưu khoảng
năm 1951-52. Thuở đó nghe nói chương trình Pháp,
nhưng lấy đâu đủ giáo viên giảng bằng
tiếng Pháp?, giáo viên chỉ có trình độ Tiểu
học. Mỗi kỳ Hè, giáo viên ra Châu Đốc học
bổ túc thêm. Các thầy gốc Miên hay Miên lai Tàu, nghe nói
đánh dữ lắm, già Đổi, già Quan, già Hạnh
lên lớp Nhì đập bàn ầm ầm, bị thầy
Xét đánh nhăn mặt bỏ học luôn. Học sinh
trường Miên giỏi tiếng Phắp lắm, un deux
trois quatre liền miệng.
Năm 1963, gặp lại Ngứt, gốc trường
Chùa Trên, Diplômé, đang là đốc công Trường
Tiền ở Nam Vang về chơi, uy lắm, cả xóm
ông Hội Đồng Mau tụ lại xem mặt nó, chiêm
ngưỡng. Bà con nó mời tôi đến chơi, nó nói
nó không rành tiếng Việt, tôi không rành tiếng Miên. Chú
nó lên tiếng, " Vậy thì nói tiếng Tây". Nó xổ
tiếng Tây rôm rốp. Mặt nào mặt nấy như
thách đố tôi. Bạn bè lâu gặp lại chưa
kịp mừng, làm trò gì vậy ?. Bà con nó ngồi quanh
thán phục, tôi chưa bắt kịp ý nó, đành
ngồi lỳ chịu trận, đỏ mặt tía tai,
bà con nó thích thú lắm, dàn cảnh hạ tên " Nghỉ
Khùng " học Sài Gòn cho sướng.
Tôi đành im miệng lắng nghe. À, té ra mầy nói
tiếng Tây Fransais à la Cambodgienne, loại tiếng Tây
coloniale. Mầy sẽ đụng thứ tiếng Tây
Fransais literaire của Faculté des Lettres. Cứ tiếp
tục nói tiếng Tây đi, nói tiếng Việt làm gì.
Từ đó về sau, bà con Ngứt không mời tôi
tới nhà chơi khi nó về Xà Tón.
Người Hoa có trường Tiều và trường
Phước Kiến, khi dạy khi nghỉ, nên tôi chỉ
học thời gian ngắn rồi đổi qua
trường Đình.
Ngôi trường Đình có khá lâu, Người sinh năm
1922 đã học trường nầy. Tôi nghĩ, tất
cả các trường học đều bắt
đầu sau năm 1906, vì chợ cất năm đó,
sau khi Tây đào kinh.
Ngôi Đình khá rộng, quay mặt về hướng
Đông, nền cao độ 1m, lót gạch Tàu, song
thưa bằng gổ cây sao mát mẻ, cửa hai bên hông,
lên bằng bực thang. Trước đình là sân
rộng, có vài cây dương, cây cột cờ và miếu
Thổ thần, ít khi chào cờ. Trong đình chia làm 3
phần, phía trong thờ Thần hoàng, chung quanh xây
gạch, cửa đóng kín nên tối tăm, chỉ
mở vào dịp Kỳ Yên. Phần giửa và phần
trước làm lớp học. Cửa phía Bắc là
chổ bán quà sáng, chỉ có khoai mì chan tương,
trưa có cà rem cây, chưa có nước đá bào như
ngoài chợ. Thường chúng tôi mua đồ ăn ngoài
chợ, cũng gần đó, trứng chim cò luộc,
khoai lang dương ngọc, bánh tầm, trứng
trăn, củ co, hột sen nấu...., ngoài chợ
nhiều đồ ăn hơn.
Năm tôi học lớp Năm ( Đồng Ấu,
lớp 1 ngày nay ), trường Đình chỉ có lớp
Ba cao nhứt, học xong nghỉ, thời chú bác tôi.
Năm 1949, chỉ có một thầy giáo duy nhứt coi cả 3
lớp, Năm, Tư, Ba. Ông chép " i, u, ư, a ă â, e ê
y" trên bảng rồi chạy lên lớp Tư dạy,
rồi lên lớp Ba, mạnh ai nấy học, rồi
cũng xong, sau ra trường làm lơ xe đò, buôn bán,
làm ruộng, đủ xài.
Thầy tôi, thầy Chấp thường mặc áo ba túi,
quần dài, mang sandal hay giày bố trắng. Thầy
người gầy, đáng cũng dữ, cây roi mây
đầu có củ đánh trên đầu u thành cục,
nhưng quất vô chưn thì đau lắm, thầy
đánh chừng 5 hay 6 roi thì ngưng. Thầy rất
bận cho cả chương trình 3 lớp. Năm
thầy dạy lớp Ba, có thêm cô giáo Ni dạy lớp
Năm, thầy Trang Thuận dạy lớp Tư,
rảnh rang nên hầu như ít đứa bị đòn.
Không nhớ tôi thôi học trường Tiều năm
nào, thời loại lạc, có khi ra Mỹ Đức
học tư ở Miễu Điền, rồi về
học trường Đình. Ngày ngày xách cái bảng đá
tới trường, học đúp không biết bao nhiêu
năm, lên lớp, biết đọc biết viết
hồi nào cứ đầu năm vô lớp ngồi,
lớn có nhỏ có, mùa ruộng bọn ngoài kinh nghỉ
bộn. Tôi chỉ biết không bao giờ làm
được bài toán cộng, trừ, nói gì tới toán
nhơn, chia. Lớp Tư, thầy chép mấy bài toán trên
bảng, xong chạy qua lớp khác, xong kêu đứa
giỏi lên sửa.
Sửa xong mang lên cho thầy chấm. Trước khi làm,
mấy đứa giỏi nhìn tôi, tình nguyện làm giùm,
giờ chơi trả tiền, hay đến nhà hốt
nắm lười ươi hột é cho. Vừa hối
lộ vừa run, nó mét là no đòn. Toán tôi cứ 10
điểm từ năm nầy sang năm khác. Lần
duy nhứt thầy chợt nhớ tôi, hại thật,
tôi ngồi lỳ tôi chổ, đòn tơi tả.
Thằng anh họ cũng bị, may quá, về nhà nếu khai
hai đứa bị đòn hết, nhưng chính nó ngu,
bị thằng Tây Lèo chọc tức khai tứ tung,
vừa bị đòn vừa bị Xà Phớp xách tai,
nhục ơi là nhục. Tôi không bao giờ quên trận
đòn ở nhà, cười không nổi. Trường
học và gia đình là địa ngục. Thời đi
dạy, chưa một lần tôi nặng lời với
học sinh, chỉ la đứa học trò nhà nghèo lại
lười, "Thi rớt đi lính khổ lắm nghe Oai". Chưa hết, thấy Xa Phớp như gà thấy cáo,
lẩn tránh khi thấy nó ngoài chợ ngồi bán bánh
với chị nó. Hôm sau, thầy lại kêu tôi lên làm
toán, thầy có vẻ nhẹ nhàng,cả lớp theo dõi, phép
lạ, tôi làm tỉnh bơ. Từ đó hết nợ,
đở bị nạn hối lộ. Nói cho ngay,
thầy có dạy cách làm toán hồi nào đâu. Sau nầy
ra Châu Đốc, học kém, đội sổ.
Y phục.
Học sinh chưa có đồng phục, áo ngắn, aó
thun lá, quần xà lỏn, ít đội nón, chân
đất, phải nói là hầu hết ở dơ. Có
năm thầy bắt tất cả hớt carê như
trọc, sợ chí rận. Con gái mặc bà ba, quần
đen, tóc bum bê, lớn thì kẹp. Ít thấy ai đội nón
Học cụ.
Viết ngòi lá tre, bình mực tím, viết chì, gôm, tập
vở ngày nay ở Pháp còn sử dụng. Lớp Năm
có tấm bảng đá, miếng giẻ lau bảng, vài
viên phấn trắng, kéo, bún để dán thủ công.
Tấm bảng có nhiếu công dụng, có khi bọn tôi vẻ
hình chằn tinh, xe máy ( xe đạp ) giải trí.. Bàn học
dài, ngồi sát nhau, chật như nêm, hay có cái nạn lay quay làm đổ
mực ướt áo về ăn đòn. Mấy đứa lớn, có được cây viết calô (viết máy )
Các môn học.
Nghe nói ở tỉnh có chương trình Pháp, quê tôi,
thầy ngạch trợ giáo, dạy tiếng Việt hoàn
toàn, chỉ tên môn học còn bằng tiếng Pháp.
Écriture ( tập viết ), dessin ( vẻ ), travail ( thủ
công ), đề ngày bằng tiếng Pháp,Tây còn nhiều.
Mấy bà bán hàng ngoài chợ cũng biết đếm tiếng Tây.
Chánh tả bằng tiếng Việt, lấy trong mấy
cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư, chỉ có ba
cuốn nầy thôi, ngoài ra không có cuốn nào khác. Nhà sách
củ Chón chỉ bán dụng cụ học sinh. Chúng tôi
chỉ học thuộc lòng bài Ám đọc, còn các môn khá
thì miễn, nên không có thói quen học bài ban đêm, ra Châu
Đốc te tua cái vụ học thuộc lòng. Năm tôi
học lớp Ba, thầy chép bài trên bảng, kêu
đứa giỏi sửa bài, chấm điểm, buổi học
chiều chép bài Cách trí hay Sử ký, Địa lý là xong.
Việc làm nhẹ nhàng, thầy ít đánh học trò, còn
chừng 25 đứa. Sau năm nầy, nghỉ học,
tôi là đứa duy nhứt bị đày đi học
tiếp ở Châu Đốc. Mãi đến năm 1955
mới có lớp Nhì ( lớp 4 ), ông Đốc Nhàn
dạy.
Giải trí.
Giờ chơi, bọn tôi chơi sau đình, sân rộng
trước nhà Việc, có vài cây me bóng mát. Con gái chơi
chiền chiền, bún hột me nước, nhảy dây,
cò cò. Con trai chơi u ấp, đẻo dây thun, bắn
đạn cu li, thẩy lổ lạc, bắn tràm.
Đồ chơi không có ngoài cái kèn quấn bằng lá
chuối.
Trong xóm, bọn nó có bạn chơi, thả
diều, ngoài ra có thú, chim, cá, rùa, sóc, nhen, lọ nồi,
khỉ, trăn, chim áo già, dồng dộc, manh manh, gà tre,
gà nòi, cá thia thia... Mùa mưa, bắt con rầy kẹp hai
cánh cứng nó trên xe làm bằng dây chì, hai cánh mềm
quạt cho xe chạy. Nhà tôi chật chội, tôi kéo cái xe
làm bằng hộp thức ăn của của lính Pháp chạy quanh nhà,
để mấy trái cân làm khách bộ hiền, trí
tưởng tượng tôi phong phú (?). Lâu lâu có gánh cải lương tới hát, học trò nghe, chép lại, hát theo,
như bài "Nổi lòng chinh phụ", hát hoài không chán. Trong xóm có khi bọn nó lập gánh cải lương hát cho con nít coi.
Bạn bè.
Thời đó chưa hạn chế tuổi tác, ai
học trể vẫn phải bắt đầu học
lớp chót, tuổi tác học sinh chênh lệch trong
lớp. Học sinh nghèo ngoài kinh đi học trể, mùa
lúa ở nhà tiếp việc đồng áng, xong việc vô
học lại, việc hiếp đáp nhau không tránh
khỏi. Tôi là nạn nhân các vụ làm tiền, vì thể
chất yếu đuối, nhác, mà hể bọn nó
tới nhà mắng vốn là tôi chết đòn, nên tôi
biết thân, nhịn tối đa. Đòn ở
trường sợ, đòn nhà cũng dữ, khi
bị hiếp đáp, tôi lăng tránh xa, không bao giờ
biết phản ứng, bị gạt cũng im luôn cho
yên thân, không có khả năng tấn công, đụng
chuyện là tôi tránh trước, nhờ vậy an toàn khi
ra Châu Đốc. Có lần lẻo đẻo theo đàn
anh, già G. , bạn học. Anh em cải lộn với
người cảnh sát, thời đó học sinh lên
lắm, không sợ cảnh sát. Nhiên chửi thề om xòm.
Ông cò cảnh sát chạy qua, ổng cảnh cáo Nhiên, " Nè,
cảnh sát không phải để cho mấy thầy
chửi nghe, mời thầy nầy về bót " Nhiên xanh
mặt. Liêm (con bác xă Thơi ) can nhỏ với ông cò, nó
kêu bằng bác, quen lớn, Liêm đã trưởng thành,
biết giải quyết vấn đề. Ông cò bỏ qua. Tôi ngứa miệng vuốt đuôi, " Tại
mình chửi thề quá ", già G. trút cơn giận lên tôi, "
Thôi ông nhác quá thì ông đi về đi ".Giá G, cháu ông
Đốc P. còn chổ dựa, tôi tứ cố vô thân,
đụng chuyện ai vô đây chịu. Nhờ nhúc nhác
mà sống tới ngày nay, chỉ hơi " mát mát ". năm
đi giử an ninh Sai Gon mùa bầu cử, tôi nổi
cơn dám chận xe Mercedes nghị sĩ Trần trung Dung,
xét trong cóp xe rồi mới cho đi. Gặp mấy ngày
không được tắm, ngứa ngáy, chận xe anh
chàng tóc dài, không nhớ anh ta nói gì, tôi để anh
một bá súng sưng mặt, bây giờ mỗi khi đau
răng, hối hận nhớ anh ta. Già G, gan quá, anh hùng, sau
nầy đi làm tà lọt .
Nhưng có đám con lính Quốc gia trên thành thì không ai dám
đụng, bọn nó không ăn hiếp mình là may
rồi. Nói cho ngay đi, bọn nó hiền, ít chơi
chung, bọn tôi nhịn nhục, có đứa nịnh
hót bọn con lính. Thầy không bao giờ đánh bọn
con lính, bọn nó hiền không phá phách, học bình thường.
Xứ tôi không có thiên tài và mỹ nhân.
Thế hệ lớp Ba năm 1952 chỉ có tôi bị
đày ra Châu Đốc tiếp tục học lớp
Nhì. Cơm tháng có 200 đồng mà ai cũng than không
tiền, học chi cho nhiều, ở nhà làm ăn với
người ta. Vài năm sau, có vài người ra học,
không đi tới đâu, vì học trể, thiếu
thốn. Hai đứa bạn Ch. và Thạnh nghỉ
ở nhà. Lúc học Trung học, đang ngồi thơ
thẩn trước nhà, ông Tích, ông già Ch. đi ngang
hỏi tôi học tới đâu. Ổng trừng
trừng, đôi mắt tóe lửa, gây gắt," Sao
hổng rủ thằng Ch. đi học với ". Giả
mắng tôi vô lý. Sau nầy, Ch., Thạnh ra học Bán Công,
thi hoài không đậu Tú Tài. Ch. đi sĩ quan,
Đại uý như ai, về quê ăn Tết, đi ngang
nhà, mời Đại uý vô chơi, Đ/uý không trả
lời, hoàn cảnh và giai cấp ảnh hưởng tình
bạn học cũ. Thạnh, Trung sĩ Chi khu có lòng
đối với riêng tôi, không hiếp đáp tôi như
khi còn đi học. Mỗi lần về quê, Thạnh
đều mặc quân phục ghé nhà tôi sớm, dẫn
tôi đi ăn bánh hỏi uống cà phê sáng. Tôi trả
tiền, chuyện bình thường, trong quận, quen
được Thạnh dân trong Chi Khu đâu phải
dễ, nhứt là xưng hô mầy tao thì ai làm khó dễ
mình. Thạnh hỏi tôi giấy Tình trạng hợp
lệ quân dịch, tôi thú thật không có. Sau nầy
mới hiểu,Thạnh có thiện chí bảo vệ tôi
tới cùng, dặn khi ai bắt bớ, nhớ chạy
ngay lên Chi khu cho nó biết, nó sẽ tìm cách lảnh tôi ra.
Cám ơn bạn tốt, nhớ nhau là quý. Anh họ tôi làm
Trưởng phòng trong Chi Cảnh sát, ông Trưởng chi
học khoá Thủ Đức sau tôi, Thiếu uý L.
Trưởng ban Nhân dân tự vệ sau tôi nhiều khoá,
đã nhận đều đều cặp rượu
Martial của ông già tôi. Quận trưởng nhận
đủ hội chết rồi, ai hơi đâu bắt
bớ tôi cho mệt. Tôi không có giấy Tình trạng
hợp lệ quân dịch, chỉ có Chứng chỉ
tại ngũ và Căn cước quân nhân. Tội quá
đi Thạnh ơi. Cám ơn lòng tốt. Còn nhớ
những tên bạn học cũ, Chùn, Nghĩa ( Trần
), Ân, Có, Đục hủ tiếu, Đực thợ
bạc, Huỳnh, Lái, Bờ, Bực, No, Thành, Tiếu. Con
gái chỉ nhớ Sang, Mách, Cà Tâm, Cà Chanh, Là Hón, Cúc, Cú Hìa,
Xà Phớp, Tây, Chót, Thạnh, già Long, Đổi, Thuỷ,
già Quang, Hỏm, ...
Cuối năm 2000, lầu đầu về xứ, ngôi
Đình, trường cũ đã mất, bạn bè
mất cũng nhiều, địa điểm ngày nay là
Công viên. Mọi người vất vả bán buôn tranh
sống. Tôi là bóng ma đứng chăm chăm tìm ai ? Gió
lồng lộng thổi tan kỹ niệm trường
xưa, rác rến và túi nylon lếch thếch bay trên Công
viên rộng tênh.
Brisbane, 5 giờ sáng, ngày 1 tháng 10 Năm 2006.