Trường Quốc Gia Sư Phạm
Lưu Nhơn Nghĩa
Mấy ngày nay, bịnh thì không nhớ, tôi lay quay tìm tài
liệu và những kỹ niệm ngành Sư Phạm, rán
viết truớc khi vô bịnh viện.
Thầy Lê văn Thời kể, thầy học Ecole
normale ra, năm nay thầy chừng 100 tuổi, ai
muốn biết cứ đọc cuốn " Hơn
nửa đời hư " của ông Vương hồng
Sển. Tôi chỉ kể lại thời sau 1954.
Ông Huỳnh Lộc, kể, ông khoá 3 năm, điều
kiện thi , Bằng Trung học Đệ nhứt
cấp, khóa trình 3 năm, ra dạy Trung học Đệ
nhứt cấp, đây là khoá cuối cùng hệ thống
nầy, niên khóa 1960-63, ngạch Giáo học bổ túc.
Trụ sở trường ở đường Thành
Thái, Sài Gòn.
Ông Huỳnh kim Quế, sinh năm 1933 kể.
Trường Quốc Gia Sư Phạm đặt trụ
sở tại trường Kỹ thuật Cao Thắng
ngày nay. Ai có Brevet ( Trung học Đệ Nhứt cấp
sau nầy ), chỉ cần học 1 năm, năm
1949-1950. Năm này, vì nhu cầu gia tăng, trường
tuyển 100 giáo viên, ghi tên thi có 60 người nên tất
cả đều được nhận. Học sinh
từ 17 tuổi đến 40 tuổi, lương $4075,
cao hơn lương thư ký $ 200 ( tôi ăn cơm tháng
$200/tháng).
Ông Quế học niên khoá 1951-1953, điều kiện thi, chứng chỉ lớp 3ème année, Đệ ngũ hay
lớp 8. Học kỳ 3 năm. Thi ra trường có
bằng Brevet, ngạch giáo viên Tiểu học, dạy
lớp Nhứt, lớp Tiếp Liên , rớt thì dạy
Sơ cấp, năm sau thi lại, đậu thì lên
ngạch, rớt thì năm sau tiếp tục thi.
Ông Lưu Văn Nghĩa, hiện ở tây Đức, sinh
năm 1937, bắt đầu khóa Sư Phạm hệ
thống mới, điều kiện: bằng Trung
học Đệ Nhứt cấp, học 1 năm, năm
1960. Học bổng $800/tháng, ra trường
$4075/tháng,ăn cơm tháng chừng $550-$600/tháng, phụ
cấp vợ $700/tháng, con $600/tháng, chỉ có vợ chánh
mớì được phụ cấp, vợ bé không
được. Nếu có bằng Trung học ĐNC,
đi dạy, lương $2300/tháng. Ông già tôi nghiếng
răng nhức xương về ước mơ tôi
được vào Quốc Gia Sư Phạm.
Thạch ngọc Múi vô Sư Phạm SG năm 1961,
Bằng Tú Tài 1, khóa 2 năm, ngạch Giáo học Bổ
túc, hình như là khoá đầu hệ thống nầy.
Tôi thi vào mà rớt, hai bài Toán Lý hóa không trúng
được nửa câu. Không biết lương bao
nhiêu.
Đại khái, ở quê, mỗi tháng $1200 là dư
sống, trước năm 1963, chỉ hưởng
chừng 6 năm. Sau nầy lạm phát nhanh quá, giáo viên
khốn đốn.
Đó là truờng QGSP Sài Gòn. Năm 1963, đã có
trường Sư Phạm Long An, không biết Sư
Phạm Vĩnh Long bắt đầu từ năm nào.
Sau có SP An Giang, SP Sóc Trăng mở từ năm 1973. Khi
bỏ thi Tú Tài 1, muốn thi vô QGSP phải có bằng Tú
Tài 2, học 2 năm, dạy Tiểu học, có khi
dạy Trung học.
Năm 1963, có mở khóa Sư Phạm đêm, công chức
Sài Gòn có Tú Tài 2, có thể xin vào học dễ dàng, trụ
sở tại trường Đại học Sư
phạm , cạnh trường Khoa học, ngạch Giáo
sư Đệ nhứt cấp.
Năm 1957, tôi học Đệ ngũ, có thầy
Phạm Lự, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư
Phạm ( Tú Tài 2, thi vào học 2 năm), không biết khóa
nầy ngưng năm nào. Sau các giáo sư tốt
ngiệp Cao Đẳng Sư Phạm đều
chuyển sang ngạch Đệ nhị cấp nếu có
chức vụ.
Ông Bùi văn Đoàn, khóa Đại học Sư Phạm
đầu tiên 1958-1960, kể. Khóa 2 năm, điều
kiện Chứng chỉ năm đầu Văn khoa hay
Khoa học thi vào, rất ít sinh viên, nên thi rất dễ,
ngạch Giáo sư Đệ nhị cấp hạng 4,
chỉ số lương 470 . Ông Đoàn đổi
về dạy trường Trung học Thoại ngọc Hầu, Long Xuyên, tô
phở Bắc giá $3, cuốc xe lôi khá dài $2, chi tiêu các
cuộc $1000/tháng, lương trên $5000/tháng, có thể
mỗi tháng mua 1 lượng vàng, tương
đương Aus$800 năm 2007.
Năm 1960, đã có khóa ĐHSP, Tú Tài 2+3 năm, cũng
ngạch GSTHĐ2C. Năm 1963, khóa Tú Tài + 4 năm, thêm 1
năm, nhưng ngạch như cũ. Niên khóa 1964-65 không
có khóa nào. Năm 1966, bắt đầu khóa Dự bị
Đại học Văn Khoa hay Khoa học + 3 năm,
tất cả là 4 năm. Khóa nầy kéo dài tới 1975.
Năm 1970, lương trừ tiền cơm Quân
trường Thủ Đức còn được hơn
$8000, lượng vàng $12 ngàn. Lương năm 1975,
ngạch Đệ nhị cấp hạng 2, $34000, lít
xăng $250, lượng vàng tháng 2-75 chừng $125000.
Tôi thuộc nhóm nầy, nhớ đến đâu kể
đến đó. ĐHSP gồm 2 ban, Văn chương
và Khoa học, mỗi ban có 2 ngành, Đệ nhứt
cấp và Đệ nhị cấp, thi vào phải có
chứng chỉ năm đầu Văn khoa hay Khoa học.
Đ1C học 1 năm, Đ2C học 3 năm.
Ban Khoa học gồm :
1 Vạn vật
2 Lý Hoá
3 Toán
Ban Văn chương gồm
1 Triết học
2 Sử Địa
3 Việt Hán
4 Pháp văn
5 Anh văn
Nhóm Toán Khoa học, học bên dãy Khoa học, ít qua
lại, dù
cùng học ban Văn chuơng hay Khoa học cũng
chỉ biết lớp mình thôi. sau nầy nhờ đi
chấm thi hay huấn luyện Quân sự mới biết
nhau. Sinh viên các môn có lối cư xữ riêng.
Ban Vạn vật.
Sinh viên ban nầy không nổi,đông nhứt ban Khoa
học, nhưng có nữ sinh viên đẹp tươi
mát nhứt bên khối Khoa học. Biết thân, môn
học nghe nói dễ, không cần thông minh, chỉ cần
học gạo là đậu, tỷ số ra
trường cao. Ra truờng chỉ dạy tư thêm,
không mở cours luyện thi riêng được.
Ban Lý Hóa.
Sinh viên ban nầy không có mặc cảm với ban Toán,
tính theo hệ số thông minh,ngang ngửa với sv Toán,
ra trường có thể dạy tư và mở cours,
tiền bạc không kém Toán.
Toán.
Năm tôi học, ban nầy rất ít sinh viên, nghe nói khó
đậu, phải thông minh lắm mới dám học
Toán. Hầu hết nam sinh viên, chỉ có duy nhứt
một nữ sinh viên. Chị nầy rất
được ngưỡng mộ. Bọn nó nói cô
mập và nhan sắc tàn phai, vì học Toán khô khan. Toán là
môn tàn phá sắc đẹp, nghe nói vậy, tôi không dám
phẩm bình cho mang vạ miệng.
Sinh viên Toán đánh xì phé và xập xám hay lắm, vì
giỏi Toán. Khi đi gác Sinh viên học đường
hay trong trại lính, mở sòng bạc, SV Toán
thường kiếm tiền khá. Dĩ nhiên có vài
ngoại lệ. Chàng Trần Ch., hôm ấy thua liên
tiếp mấy đêm, mượn tiền bạn
đòi không trả. Trong câu chuyện cải nhau, Ch.
chỉ tay lên trời nói, " Toán là một Khoa học chính
xác nhứt, Toán là môn học gần nhứt với
Thượng Đế, ". Anh cho mượn tiền
đâu có chịu nhịn, " Ê, mầy gần ai kệ
mẹ mầy, mượn tiền thì phải trả ".
Ban Triết học.
Mấy anh Triết không anh nào giống anh nào. Anh nào
cũng nghiêm trang,đi đứng ra vẽ Triết,
ăn nói rất Triết, khi cười một mình,
chỉ có ta mới hiễu ta, khi nhìn đời bằng
nửa mắt, khi lắt đầu hay gặt
đầu cuời như Francois Sagan, un certain sourire, khi
bất cần đời, áo quần lết thếch
như Triết gia theo phái existencialism của Jean Paul Sartre
( có anh đọc là Xát trờ ). Vì quá siêu hình, nên không
chơi được với ai. Mấy anh là
người cỏi trên. Sau năm 1966, vì ít nhu cầu, ban
Triết dẹp.
Ban Sử Địa.
Sinh viên ban nầy kiến thức thông kim bác cổ,
nắm vững thiên văn địa ký, rành chuyện
năm châu bốn biển. Biết Nga Mỹ nó muốn
gì, hốt nắm cát biết có vàng. Vào quân trường
Thủ Đức, anh em mới biết tài dân Sử
Địa. Năm 70, khóa 4/70, bị Động viên. Môn
địa hình, đi phương giác, chấm tọa
độ, vòng cao độ..., mẹ ơi, bọn
Văn chương gốc ban C ở Trung học như
điếc. Mỗi lần đi hành quân, tìm cọc
tọa độ, cứ đi theo mấy anh Sử
Địa thì yên chí. Năm đó, Mỹ cúp quân viện,
quân trang quân dụng bị cắt, nhiều đứa
không cần bắn đạn mã tử, khỏi lau súng.
Môn tác xạ súng cối, Bazooka, hạn chế
đạn, mỗi Trung Đội chỉ đuợc
bắn tối đa 10 viên, thường có Thanh tra
kiểm soát tại chổ. Hôm bắn thực tập
biểu diễn cho Thanh tra coi, dĩ nhiên 3 anh Sử
Địa có khả năng đuợc chọn bắn,
danh dự lắm. Cả Đại đội chăm
chú nhìn. Một anh cầm ống dòm chấm tọa
độ, một anh điều chỉnh súng cối 60
ly, " chuẩn bị, chuẩn bị, sẳn sàng, sẳn
sàng, bắn ", viên đạn phụt đi, thay vì
hướng đông, nó bay về hướng Tây, rớt
xuống trật mục tiêu, mấy con bò ăn cỏ
trong tầm đạn một phen hoãng vía bỏ chạy.
Viên Trung uý huấn luyện viên la, " Ê, anh quay tay quay
chiều hướng ngược.".
Ban Việt Hán.
Xui là năm tôi chỉ có chừng 7 cô học, không thấy ai
chim sa cá lặn, hương trời đắm nguyệt
say hoa, xin lổi, không phải ý kiến tôi. Nhiều anh
gốc Hoa nói tiếng Quảng Đông. Một anh gốc
Quảng Đông tán tỉnh cô Sử Địa, hôm dán kết
quả thi các môn, nặng nhứt là môn Hán văn, dân
gốc Việt ớn, hay rớt môn nầy nhứt. Trên
đầu bảng, chàng Việt gốc Hoa đậu
đầu, tên anh chỉ có hai tên, nghĩa là tên và họ,
H M , không có tên lót , trai văn gái thị như Việt
Nam, môn dễ là môn Ngữ học VN, anh lại rớt. Cô
Sử Địa nhìn lên bảng bỉu môi, "thấy là
biết Tàu rồi". Đi ngang qua lớp, nghe anh chị
ban nầy ngâm thơ cổ, gân cổ cải, " chữ
Việt gồm bộ "tẩu " và chữ gì, nét đá lên
khi viết thảo, có thể là chữ " nhung ", Việt
Nam nghĩa là mặc nhung y đi về chinh phục
phương Nam. Hay, hào hùng quá ! Cũng có thể là
chữ " Tuất ", nhà Thanh không chịu phong cho vua Gia Long
là Đại Nam hay Nam Việt quôc vuơng. Đại
Nam, lớn lối hả ? Nam Việt, vậy là bắt
chước Quan Trung, Triệu Đà , ý nói phía Bắc là
Bắc Việt hả ? chữ đó là chữ Tuất,
chó chạy cong đuôi về phía Nam, đừng có quay
đầu trở lại. Hay là chữ cân là cây búa,
đúng theo ý, ta xách búa về phương Nam khai sơn
phá thạch cho lúa ngập những cánh đồng bao la.
Hay, cải nữa đi.
Ban Pháp văn.
Sinh viên ban nầy, chừng hơn 15 người, có trình
độ, hầu hết con nhà giàu, học thức,
gốc trường Pháp ra. Nam SV tướng rất sang,
nói tiếng Pháp như Pháp. Nữ SV thì khỏi nói, dáng
khoẻ mạnh, mặc đầm, dù áo quần cũ
cũng trang nhã, mặc thế nào cũng đẹp
tự nhiên, thường đi học bằng xe hơi,
không hiểu sao các cô lại chọn ngành Sư Phạm,
vì ra trường,, ít thấy các cô đi dạy, các cô có
gia đình cao sang hoặc xuất ngoại sang Pháp, hay
dạy các trường tư thục Pháp ở Sài Gòn. Các
cô ban khác cũng may đồ đầm mới mặc,
nhưng dáng còn ngượng nghịu mất tự nhiên,
không cách gì giống mấy cô Pháp văn thiệt. Các cô
Pháp văn nói vậy, tôi lập lại, đừng trách
tôi. Chưa thấy cô nào lấy anh gốc Sư Phạm
ra, ai thèm theo mấy người đi tỉnh nhà quê.
Ban Anh văn..
Tôi rành ban nầy nhứt. Nhờ viện trợ Mỹ,
Pháp bắt đầu lung lai. Bọn tôi được
nâng đỡ, Giáo sư Lê Văn là thầy vừa là Giám
Đốc ban Văn Chuơng. Anh văn đang thịnh
hành, giờ dạy tư, dạy kèm, kiếm tiền
dễ. Lớp tôi ra trường trước sau 32
đứa, còn 5 đứa ở VN. Đây là lớp quá
đặc biệt về vợ con. Trong lớp nhiều
phe nhóm.
Nhóm dạy tư, phát những tấm quảng cáo "
tốt nghiệp MA, HC..." ở Mỹ, bạn bè có
đứa chơi ác, lấy tấm quảng cáo dán ngay
phòng ông Giám Đốc. Bọn nầy chỉ dạy
Đệ Nhứt trường tư và mở cours,
năm nào cũng thi kỳ hai, vậy mà dạy tư
rất thành công. Ra trường, không cần chọn
nhiệm sở, mặc áo 4 túi ở Sài Gòn không bị
động viên, xách cặp cho mấy ông lớn, có anh
hãnh diện với học sinh trường tư, trong
đó có em họ tôi, rằng họ là giáo sư cao
cấp, được giử lại Sài Gòn, bọn tôi
bị động viên long đong ở quân trường.
Mà tên học thủ khoa không dạy được
trường tư, dạy học trò không hiểu.
Bọn tôi gầy nhóm 6 đứa, sưu tầm bài
vở soạn tài liệu chia nhau học, giử kín.
Bọn nhóm khác cũng giấu. Thời đó mà có
đứa gốc Bắc trong nhóm tôi chưa biết
Chợ Lớn ra sao, nó chỉ lẩn quẩn ở khu
quận Nhứt, giáo dục theo Tây. Sau nầy dẫn nó
đi ăn mì lòng đèn Năm ngọn, hít hà ngon quá,
đòi đi hàng tuần tới khi ra trường đi
lính. Ở nhà hàng Đại La Thiên, có màng, khi hút
thuốc, có cô phì phà chảy đẹp, hai tay trắng,
quẹt lửa cho khách. Sau vụ đó, bọn nó bắt
đầu hút thuốc . Lại nhớ dẫn bọn nó
ăn cơi nững té " kê noãn trà ", trúng gà trà ở
hẽm Nguyễn tri Phương, các cô Lý xiểu chể
tới già H già còn mê. 6 đứa bây giờ còn 5, Quách Hên
đã đi, rồi tới tôi, còn 4.
Bọn tôi bị nhốt trong chương trình nặng
phần trình diễn, không mấy thực tế. Môn
Ngữ học ( Linguistics ), không biết học làm gì,
nhồi nhét đến độ bọn nó tiếu lâm hóa
các từ ngữ chuyên môn thành từ ngữ thô tục.
Lão Prof. Lombardi mập, ngồi xuống tới hết
giờ với gói thuốc lá, Lão Clark giảng văn
chương Anh, chữ 't' lão đọc như âm 't' VN,
hỏi, lão nói ," Chớ nghi ngờ người gốc
Đại học Oxford ", Lão Klotz nhảy lên nhảy
xuống đóng vai làm mục sư trên bụt giảng
trong the Scarlet letter, mặt giả đú đởn
ngạo ông mục sư. Mụ La Porte dạy Pháp văn,
mở miệng là chửi Mỹ. Ba năm học,
tập sự dạy mấy tiếng và 15 phút ra
trường, không khùng là may. Mụ Culpepper, cái máy chém.
Thằng Lâm cay cú, dạy position của noun và adjective trong
tiếng Anh va tiếng Pháp, nó cho thí dụ, ' she has a long
neck," tiếng Pháp ," Il a le cou long ".
Ngày chọn nhiệm sở mới rỏ mặt ai
trắng ai đen. Nói là chọn tỉnh nầy, lúc ra
Hội đồng Đại học thì chọn tỉnh
khác, người chọn sau chới với, có khi
chọn chổ xấu dù còn chổ tốt. Tôi vuớng
vô trường hợp nầy, nhưng ở phía may.
Ngày 12-10-69. tất cả SV tốt nghiệp khóa I ra
chọn nhiệm sở đã thông báo mấy tháng
trước. Tên K trên tôi 3 hạng, nói nó chọn Rạch
Giá, tôi chọn Củ Chi, cách Sai gòn 20 km, sáng đi
chiều về, tuần 3 ngày, 3 ngày còn lại dạy
tư Chợ Lớn, đêm dạy kèm mấy thằng
Tây con lương cao. Dĩ nhiên luôn luôn chọn thêm vài
nhiệm sở phòng hờ. Phút chót nó nói chọn Củ
Chi, tôi chới với, bất giác nói," mầy đi
Củ Chi tao đi Rạch Giá, " nói là nói, thằng bạn
thân ngồi cạnh nói nhỏ, còn Bến Lức, lại
hiểu lầm có sự trao đổi ăn tiền, mà
ăn tiền thật. Nghe tôi quạu nói, tên Th. dặn K.
chọn Vũng Tàu, vì TH. đậu thấp. K. lên
chọn Vũng Tàu, theo dự định Th sẽ
chọn Củ Chi đổi cho K, mánh mung gì đó làm cô
bạn chọn Vũng Tàu xanh mặt, phải chọn
Cần Thơ. K. không ngờ tôi đậu trên TH., tôi
chọn Củ Chi, hắn tiu nghĩu nghe anh khinh ra
mặt.
Nhóm tôi 6 đứa còn thân nhau. Lúc ra trường bàn
tới gia đình, tên trưởng thành bàn ra, chưa nhà
cửa, chưa thành , bao nhiêu cơ hội học
bỗng, chưa về được SG, lấy vợ
chi cho vướng, lại phải tìm người có
căn bản, 1 đầu lương khó kham. Đang
đi dạy, bị động viên bất ngờ,
lại mất thêm thời gian, mãi lo tính toán, đổi
đời, đi học tập cải tạo về
hơi sồn sồn. Tính già thành non. Có đưá bây
giờ con mới 9 tuổi, đứa nào cũng trên
dưới 64. Nhớ ngày được biệt phái, tên
bạn lè phè trong quân đội có sau mặc vậy,
hắn lại may mấy bộ quân phục mới, "
Biệt phái về dân sự, cần gì quân phục.
Hắn nói tỉnh bơ, ' Mặc để chạy
Lambretta xuống tỉnh đó anh ", Thì cứ mặc bình
thường có sao đâu, " Không có bằng lái xe đó anh
", Vậy thì thi bằng lái xe. Hắn nói thật, '" thi
biết bao nhiêu lần mà không đậu đó anh ".
Bằng Đại học Sư phạm dễ hơn
bằng lái xe.
Viết ra cho bà con biết cái mặt trái của nghề
giáo. Học sinh tưởng thầy là nhứt trên
đời. Đúng ra, nghề không có quyền có thế,
muốn ăn cùng không được, muốn quậy
thì ngại. Giáo sư ban Việt, Sử Địa
cần chức tước, Giám học, Hiệu
Trưởng, chỉ có con đường đó tiến
thân. Hiệu trưởng mới lên Thanh tra, Giám
đốc. Đám Toán, Lý Hóa, Sinh ngữ lo mở Cours
kiếm tiền. Ở trong chăn mới biết
chăn có rận, không quơ đủa cả nắm,
nhưng anh giáo thua anh thiếu uý về uy quyền. Tôi
không quơ đủa cả nắm. Tỉnh tôi dạy,
chưa thấy tên nào làm tôi phục, nhứt là khi ăn
giổ. Tên Hiệu trưởng trường tôi cúi
đầu đốt thuốc cho tỉnh trưởng,
class B, ngạch B, luồn cúi để làm Trưởng
ty, mẹ, nó nhục làm sao. Đối với
đồng nghiệp thì hống hách, ăn gian giờ
Thể dục, nữ công, vẻ, không ai dạy, cứ
khai rồi chia nhau, làm học bạ giả, rồi
vợ hắn thầu xây cất, bàn ghế.Tên khác bị
bắt gian lận thi Đệ thất, đúng ra
hắn mới ở Tiểu học lên , chân ướt
chân ráo bị gài , ngồi ăn, vừa than, " Hồi
đó giờ tôi chưa có để người ta ở
trên phiền á ". Mặt hắn thật hèn. Năm 1972
ở Tây Ninh, giám khảo gốc cùng trường chơi
nhau.Tỉnh trưởng đãi ăn, nhìn thấy tư
cách khi ăn, biết người. Sau nầy có Ty học
chánh, cơ hội ăn.
Ở Âu Mỹ, không có thành ngữ " không thầy
đố mầy làm nên ". Giáo viên không đòi hỏi
sự kính trọng của học sinh. Khi vào Sư
Phạm, đã có qui luật rồi, thích thì làm, không thì
nghỉ, lảnh lương chứ dạy không đâu. Tôi
than phiền anh cảnh sát phụ cấp lương cao,
anh nói khi gặp bọn cướp có súng, anh hứng
đạn, còn bọn giáo viên có 12 tuần holiday sao
chưa ai than phiền ?
Sau 1970, lạm phát phi mã làm nghề giáo lung lay, nhứt là
ở quê, có gia đình sống chật vật lắm,
túng làm càng. Xưa thầy Tín dạy thêm giờ, đó là
tình thương với học trò, thời đó nghề
giáo, công chức, nếp sống rất cao, không cần
tham nhũng.
Gần chết rồi, ngày mốt vô bịnh viện
không biết ngày ra, sợ gì không nói hết. Nằm
xuống, ai chửi người ấy nghe.
Chung cuộc, tôi may mắn chứ không phải tốt hay
giỏi gì. Biết bao tên bạn giỏi mà nghèo không có
cơ hội. Nhắc tới muốn khóc, thằng
Điểm gốc Tri Tôn ra Châu Đốc học, ở
nhà bà con, phải tiếp dọn hàng không rảnh tay.
Trưa thứ bảy, tôi leo lên xe nhà về Tri Tôn, nó theo
ra bến xe đứng nhìn, " mầy sứớng quá, tao
nhớ má tao mà không tiền về ".
Thời ở VN, thảnh thơi, không ai làm khó dễ, tôi
không ham danh chức, nhẹ người. Tôi chỉ ham
tiền, nhưng hà tiện ít xài, ham sắc mà chưa
gặp người. May mắn có việc làm tốt, ngoài
trường công, dạy thêm trường Tàu, lãnh
luơng năm 12 tháng, ban đêm kèm mấy thằng Tây con
và mấy đứa Tàu học Tabert, Bác Ái từ nhỏ
tới lớn, ăn cơm nhà. Khi về Sóc Trăng,
cơm nhà chệt ( chú ) tôi sẳn, sáng hủ tíu tiệm
hia Tỷ con Túa Pề ( bác lớn ) Thêm Phên, trả
tiền không lấy. Ông già tôi chở nước mắm
xuống bán, cần bao nhiêu có bấy nhiêu nên tôi không bòn
rút. Dạy Củ Chi, sáng đi chiều về, có học
sinh thương để mấy trái sầu riêng
đầu mùa trong giỏ xe gắn máy, cám ơn, dọc
đường, tôi ghé cho lại học sinh nghèo khác,
không phải tôi tốt, vì chịu không nổi mùi thúi
sầu riêng.
Ngoài ra còn hai khóa Sư Phạm cấp tốc đặc biệt do Mỷ tài trợ. Tú tài thi vào học 1 năm, ra dạy 1 năm, trở lại học 3 tháng hè,
lại đi dạy thêm 1 năm, rồi trở về học 3 tháng hè là xong, ngạch Giáo sư đệ nhứt cấp.
Coi điểm thi.
Mỗi kỳ thi, có đám cò mồi chạy lo tiền cho thí sinh thi đậu. Hắn nhận càng nhiều càng tốt, tìm giám khảo quen hỏi điểm nếu gặp đúng trung tâm.
Sau khi chấm, ráp phách, cộng điểm xong, vài ngày sau mới niêm yết kết quả. Thí sinh trung bình khó đoán kết quả, cò mồi biết trước điểm chừng vài ngày,
báo cho phụ huynh biết trước, lấy tiền, phụ huynh tuởng con mình nhờ cò mà đậu, còn thí sinh rớt thì có đủ lý do để nói. Mỗi năm vào 2 kỳ thi kiếm cũng khá,
trong túi cò luôn luôn có danh sách thí sinh, gặp bàn bè giám khảo thì chìa ra nhờ coi điểm, nghề nào cũng có cách làm tiền.