Việt
Nam khôn quá
Phong-Hưng Lưu-Nhơn-Nghĩa
Trường
Tiểu Học Việt Miên trong khuôn viên chùa Swayton có lâu lắm rồi, thành lập đâu
hồi Tây đào kinh tới quận nầy. Trường có tới lớp Cours Supérieur, lớp Nhứt hay
lớp 5 ngày nay. Bây giờ là năm 2004, chỉ còn biết có người đậu Certificat đã 77
tuổi, học trò của ông Đốc Nâu. Trường được chánh quyền quận (trước đó là Phủ,
bây giờ là Huyện) và Tây nâng đỡ. Tất cả Thầy Cô giáo đều gốc Tàu lai Miên (Tàu
lai Miên mới đẹp và thông minh) gốc xứ sở nầy mà ra.
Xứ Swaton
(âm ra tiếng Tiều "Xài Tóng", viết ra chữ Nho là Tri Tôn) cung cấp đủ
nhơn tài (đậu Certificat, Tiểu Học) để làm việc cho văn phòng Nhà Việc (1) như Thầy
ký và Giáo viên cho trường Việt Miên nầy. Con đường học vấn tương lai của học
trò trường nầy không phải tiếp tục qua ngả Châu Đốc, Cần Thơ, Sài Gòn, mà là Tà
Keo, Sway Riêng, Nam Vang (khoảng năm 1948 mới có College de Châu Đốc). Thời Pháp
thuộc còn Liên Bang Đông Dương, việc qua lại với Miên dễ dàng. Một số dân gốc
Miên khá giả có thân nhân ở Miên, đều gởi con lên đó học, xong, làm việc và ở
luôn trên ấy, đất rộng người thưa, dễ sống, đỡ bon chen hơn ở Việt Nam.
Có một
ông họ Hứa (Tàu lai Miên) đậu tới Diplôme, làm Chánh Tham Biện (Chủ Tỉnh) ở Sway
Riêng. Người ta nhắc ông như cái gương sáng cho kẻ hậu sinh. Học trò gốc Miên
có đứa khá chăm chỉ, được khuyến khích, nề nếp, đếm tiếng Tây dẻo nhẹo, on, đơ,
tro, cách... Mấy Thầy giáo gặp Tây cũng xổ tiếng Tây rôm rốp. Khi ông cò Tây (Cò
Le) đổi đi năm 1950, ông cò Miên đổi tới thay thế. Ông Quận Mao Kim Sóc chết thì
ông Cai Tổng Mau Xem lên thay.
Trường
Tiểu Học Việt Nam thành lập sau khá lâu, lấy ngôi đình làm lớp học, không có
bảng tên trường, lúc đầu, đến năm 1950, chỉ có một thầy giáo duy nhứt dạy cả ba
lớp. Học xong lớp ba, tất cả học sinh xem như biết đọc biết viết, nghỉ học ở
nhà làm ăn, muốn theo học lớp Nhì trường Việt Miên cũng không nổi vì không giỏi
tiếng Tây và tiếng Miên, ít ai đủ khả năng cho con ra tỉnh học, dù tiền cơm
tháng có chừng 150 đồng tới 200 đồng. Sau này, khoảng năm 1956 mới có lớp Nhứt.
Dần dần, việc giáo dục phát triển, có vài thầy gốc Quốc Gia Sư Phạm đổi về dạy
lớp Nhứt gây sự thay đổi có lợi về phía trường Việt.
Các giáo
viên già gốc Miên, dù đậu Certificat, biết tiếng Tây, mà Tây đã về nước thì còn
ai nương tựa thi thố. Ngạch trật lại thấp, lương bổng lúc xưa thì sống thoải mái,
sau nầy bị lạm phát, tính ra chỉ bằng hơn phân nửa giáo viên gốc Sư Phạm. Dân
chợ dù gốc Tàu đều cho con học trường Việt, cấp bằng được công nhận rộng rãi.
Việc giao thiệp Việt-Miên khó khăn dần khi ấp Vĩnh Lạc (2) bị lùa bò đốt phá,
trường Việt-Miên vẫn tồn tại nhưng mất dần ưu thế, chuyển dần về chương trình
Việt để dễ dàng thi vào Đệ Thất ở tỉnh khi có cơ hội.
Năm 1963,
Quận được mở trường Trung Học. Ông Hiệu Trưởng gốc Sư Phạm, ngạch trật cao nhứt
lên làm Hiệu Trưởng Trung Học mới mở. Trường Việt Miên từ đó mất hẳn ưu thế ban
đầu, muốn học lên chỉ còn con đường duy nhứt là thi vào trường Trung Học sở tại.
Vì hoàn cảnh, tiếng Việt càng ngày càng phổ thông hơn.
Sau khi
ông Quận Mau Xem về hưu, có nhiều người, nhứt là giới làm việc, tiếc rẻ "Phải
Tây còn, cuộc sống thanh bình sướng hơn, chậm tiến mà dễ sống". Ông Quận Mau
Xem ít nói, hiền hậu, bị thay bằng mấy ông Quận ở xa đổi lại: Quận Sử, Quận Bổn,
hai tay khét tiếng làm dân tình khốn đốn. Quận Sử thì tham nhũng, hống hách,
hiếu sắc, hiếu sát. Các cô gái đẹp, nhà giàu, được gởi đi xứ khác lánh nạn, giả
lay hoay với các cô Thanh Nữ Cộng Hòa mặc đồng phục xanh. Thương gia gốc Tàu dù
"chung" đủ cũng còn nơm nớp sợ không riêng gì giả, mà luôn cả đám đàn
em giả. Quận Bổn, ngoài tiền "chung" của các chủ tiệm, giả lùa bò từ
Sóc nầy qua Sóc khác. Dân Miên khốn đốn với hai tay nầy.
*
* *
Sáng
hôm ấy, phụ huynh và học sinh đứng ngồi rải rác khắp sân trường, trước dãy
phòng mới cất. Thời gian qua rất chậm. Chau Rết ngồi chồm hổm dưới gốc dừa lo
âu nhìn vào văn phòng trường. Các thầy cô giám khảo còn làm việc, chưa chịu ra
đọc "Kết quả kỳ thi tuyển vào Đệ Thất". Hình như họ cố ý câu giờ bắt
phụ huynh và học sinh chờ đợi để chứng tỏ sự quan trọng của họ.
Chau
Rết gốc trường Việt Miên, là học sinh đầu tiên ở Sóc Xà Lôn đậu Tiểu Học. Cả
Sóc tới chia vui, ghé đầy nhà ăn trầu, hút thuốc, khen tặng ồn ào.
Ì O,
mẹ Chau Rết bán bốn giạ lúa đưa tiền cho cô giáo Ni lo cho Chau Rết, nên dù làm
trúng có nửa bài toán, Chau Rết cũng đậu. Với giấy Chứng Chỉ Tiểu Học đóng khung
treo ở nhà, chưa chắc Chau Rết kiếm được việc làm bù lại bốn giạ lúa Xo Ùm Pên.
Thầy Sét, thầy Kul cũng chỉ có Certificat, bây giờ là Tiểu Học, đừng nói đâu
xa, cô giáo Ni chỉ học tới lớp "Nhì On" (3), cũng làm cô giáo, ra
khỏi nhà đều đi xe lôi. Gia đình Chau Rết được cả Sóc kính nể, mấy ông Xã, ông
Quản hết làm khó dễ. Chau Rết được các nàng Nen Srậy (4) con nhà giàu chú ý, mà
phải Nen Srậy (4) lai Tàu trắng mới được, như Sàm Nơn, Ni Bồ Rum. Các cô con
nhà dân dã, còn gánh nước giếng thì không dám mơ ước được sánh cùng Chau Rết.
Năm 1963,
có hai lớp Nhứt trường Việt và một lớp Nhứt trường Miên. Sau khi đậu Tiểu Học,
một số thi vào Trung Học ở trường Tỉnh, hầu hết nghỉ học vì nhà nghèo. Nghị Định
cho thành lập Trường Trung Học khá trễ, nên cuộc thi tuyển vào Đệ Thất cũng muộn
màng, sau khi thi ở Tỉnh. Học sinh có Tiểu Học, dĩ nhiên được dự thi, ai đậu
vào trường Tỉnh được miễn thi, học sinh lớp Tiếp Liên cũng miễn thi. Số thí sinh
nộp đơn thi chưa đủ một lớp, vậy mà cuộc thi vào Đệ Thất cũng được tổ chức rình
rang, dù thi cho có hình thức. Phụ huynh làm sao hiểu được chuyện đó, cứ nghe
tới thi là sợ, lo chạy chọt gởi gấm khi có cơ hội quen biết như cha mẹ Chau Rết.
Ì O lại tiếp tục xúc lúa bán lo chạy cho Chau Rết.
*
* *
Ì O ngồi
trên chõng tre xay bột, cái cối đá hôm nay sao nặng tay quá. Gạo được ngâm như
thường lệ mà cối hình như không muốn ăn gạo. Ì O xúc từng muỗng gạo cho cối ăn.
Ngày thường Ì O xay nhanh lắm, hôm nay vì nôn nóng uể oải, tay chân lụp chụp,
quên trước quên sau, bột chảy từ cối xay lỏng bỏng nhỏ trong diệm hứng bên dưới.
Cái áo cánh bạc màu đưa theo thân hình tới lui theo nhịp cối xay, bóng dáng nầy
lặp đi lặp lại hàng ngày từ khi Sóc nầy bỏ nghề nắn nồi. Xay đã hết cối bột, Ì
O lén nhìn ra sân. Sao Chau Rết chưa về kìa? Hay là nó đã Chuop (thi đậu) rồi
ghé nhà ông ngoại nó ở Nam Vi báo tin. Ì O lại ngại, hay là nó Flét (rớt), nó
buồn không dám về. Đêm đêm Chau Rết ngồi chồm hổm trên sàn nhà học lép nhép, không
thể rớt được. Ì O lại nhớ cô giáo Ni chê Chau Rết làm không được nửa bài Toán.
Giấc mơ Ì O có thành sự thật không, cối xay bột nghiền gạo, nghiền nát luôn cái
ước mơ.
Diệm
bột xay hôm qua để ở góc nhà đã nổi phồng lên. Ì O bước xuống giường dọn dẹp
rửa ráy cối xay. Giờ nầy mặt trời đã lên gần ngọn tre tầm vông, sao Chau Rết
chưa về báo tin mừng. Ì O bưng diệm bột đi lom khom, hôm nay diệm bột tự nhiên
nặng quá. Cầu cho Chau Rết đậu vô Đệ Thất, mát mặt với dân Sóc. Mấy năm nay một
mình vất vả nuôi con ăn học nhờ mấy cây thốt nốt và diệm bột. Đứa con trai cuối
cùng còn lại trong gia đình, mấy người chị Chau Rết đã có chồng từ 16 tuổi, mấy
người anh làm ruộng, hoặc theo đám "khăn trắng" (5) đóng ở Cầu Bưng
Tiền, con gái không kể làm gì, con trai Ì O chưa đứa nào được học cao, mang
danh dự về gia đình. Giấc mơ gởi Chau Rết lên Tà Keo học không thành, chỉ còn
con đường thi vào Đệ Thất ở Xà Tón, gần nhứt, dễ đạt được.
Ì O móc
đường thốt nốt trong om trộn vào bột trong diệm, đường thốt nốt thơm hơn đường
mía, màu vàng sẫm, rải thêm nước cốt dừa trên mặt bột. Hai bàn tay thô kệch đen
sậm nhồi bột thật đều, cả thân mình di chuyển lên xuống như lạy Phật trong
chùa. Ì O vừa nhồi bột vừa lầm thầm đọc kinh cầu cho con thi đậu. Kế đó, Ì O
bắt đầu gỡ những cái "mú" (6) trên đầu trái thốt nốt, vừa thở dồn
dập, hai tay luống cuống, gỡ muốn gãy móng. Sau đó lại tướt vỏ thốt nốt, vỏ màu
vàng tím, bám chặt những thớ xơ bên trong. Chau Rết vẫn chưa về. Những trái
thốt nốt bằng trái dừa xiêm, sau khi lột vỏ, xơ vàng óng như tơ tằm, tươm chất
ngọt lờ lợ, thơm mùi thốt nốt, không giống mùi gì cả. Muốn biết thơm ra sao chỉ
có cách ngồi bên Ì O, khi Ì O xé từng hột thốt nốt chà vô rổ lấy thịt, giống
thịt xoài chín, rồi lấy vải mùng bao thịt đó vắt cho hết chất xền xệt vô diệm
bột đã trộn sẵn, bỏ xơ và hột. Trã nước sôi đã chuẩn bị xong sau nhà, Ì O bắt
từng vắt bột lỏng nhỏ hơn nắm tay, dùng lá cơm nguội (lá chừng bằng bàn tay,
mặt nhám) gói chừa mặt bánh, xong để thêm ít dừa nạo trên mặt. Thường vẫn gói
bằng lá chuối, nhưng gói bằng lá cơm nguội thơm và bánh có vân đẹp khi lột vỏ.
Hấp một trã bánh đủ bán buổi trưa. Bánh Ì O làm rất xốp, không bằng bánh men,
bánh thuẫn (7) ở chợ, nhưng dân ruộng rẫy ăn cầu no chớ không cầu ngon.
*
* *
Chau
Rết ngồi xuống đứng lên nhiều lần dưới gốc dừa. Trời đã đứng bóng, Rết cũng
biết mẹ mình nôn nóng chờ tin con. Cha Chau Rết, Pù Sul, đang leo thốt nốt, hạ
những ống tre lấy nước về nấu đường, rồi lại vạt những bông đực và treo ống tre
khác để nước trong bông chảy vô ống. Tà Xai, ông ngoại chắc đang cúng vái ông
Tà cầu phước cho Rết. Me oi! (8) Nếu thi đậu, về Sóc thênh thang nghỉ ngơi, Me
oi! Nếu rớt, về cắt cỏ nuôi bò. Nghĩ đến quẩn trí, đầu Chau Rết lắc lắc. Giám
khảo tới lui trong văn phòng cười cười nói nói.
Tiếng
ồ ề trong cái máy micro cũ phát ra thứ âm thanh uy quyền. Sau 5 năm học, mới
thấy sự quan trọng và uy quyền của giám khảo. Thí sinh và phụ huynh nín thở
chăm chú lắng nghe từng số từng tên học sinh trúng tuyển, tiếp theo là tiếng
reo lớn của thí sinh, cái cười thỏa mãn của phụ huynh. Chau Rết chờ đợi, lơ mơ
dưới cơn nắng, thoáng nghe tên ai mà không phải tên mình. Cuối cùng Chau Rết
thót tim nghe số ký danh mình, vội nhảy lên xe đạp lập cập chạy ngay về Sóc,
cùng lúc vị giám khảo cũng đã đọc xong danh sách. Bỏ lại sau sân trường ồn ào,
Chau Rết hối hả mang niềm vui về Sóc. Đường xa hơn hàng ngày, chiếc xe đạp nhảy
nhún lộc cộc trên đường đá xanh, những hòn đá bóng láng màu hổ phách như mai
con cua đồng lồi lên mặt lộ vì đám mưa hôm trước. Chau Rết thở hồng hộc, mong
cho tới xóm Nam Vi báo tin cho người chú rồi chạy thẳng về Xà Lôn. Bánh xe lún
trên khoảng đường đất lao chao, Chau Rết tưởng tượng gương mặt rạng rỡ của mẹ,
cha, anh em và bà con trong Sóc. Ông Tà Oanh hết dám coi thường gia đình Rết,
hết khinh miệt chê khen Ì O bán bánh thốt nốt, bánh gói, bánh ống (25), biết
đâu, tới tuổi, theo đám Khăn Trắng làm Trưởng Đồn, đi một Cours nào đó. Ngày
cưới Sàm Nơn sẽ vang tiếng nhạc ngũ âm (9) ngày đêm, thanh niên thiếu nữ sẽ tha
hồ nhảy Lam Thôl. Chau Rết và Sàm Nơn sẽ hát đối. Chiếc xe đạp bị dằn, sút dây
sên làm ngưng óc tưởng tượng Chau Rết.
*
* *
Ì O miệng
lảm nhảm, chạy ra cổng nhìn về phía đường lộ Nam Vi khi thấy Chau Rết từ xa. Í
bỏ trã bánh đang hấp sau nhà, chạy lết bết đón con. Chau Rết thấy mẹ từ xa, vừa
cười vừa la "Me oi, kha nhom chuop hoi" (má ơi, con đậu rồi) Ì O lặp
lại như tiếng vang, eo éo, "Me oi, A Ret chuop hoi" (mẹ ơi, thằng Rết
đậu rồi) bà la cho nhà ông Tà Oanh ở cuối xóm nghe cho biết danh. Ì O lặp lại
câu đó, kéo dài chữ "chuop" (đậu) mà không thấy ông Tà Oanh ló mặt ra.
Thân
nhân bước xuống nhà sàn ra đón Rết, chia vui. Bà con Chau Rết xôn xao, mỗi
người một câu chuyện. "Cho Pù Út biết mau lên, vô cho Tà Xây hay
tin...". Cái tin Chau Rết đậu vô Đệ Thất lan đi rất nhanh, ai nấy đều khen
ngợi. Cũng có người hiểu biết, tò mò hỏi ai đậu ai rớt. Chau Rết nhớ lờ mờ, tìm
đứa thi rớt để cho bà con biết, "rớt nhiều lắm", nhưng không nhớ tên
được một đứa. Thằng Tư, dân chợ, 11 tuổi cũng đậu. Chau Rết 15 tuổi làm Thế Vì
Khai Sanh còn 13 tuổi.
Mải lo
trầu thuốc, Ì O quên mất trã bánh thốt nốt. Trưa đó, em Chau Rét bưng bánh đi bán
rẻ, bánh có mùi khét.
*
* *
Ì O lại
bắt đầu xúc lúa bán để may mấy bộ đồng phục cho Rết. Lên Trung Học, phải khác
Tiểu Học. Trước đi chưn không, bây giờ có xà bai chơn (10), dép Nhựt. Quần dài
xanh, áo trắng có gắn phù hiệu Trung Học, Chau Rết bước lên nấc thang danh dự
trong gia đình, được miễn việc nhà, khỏi lượm tàu lá thốt nốt khô, khỏi bẻ lá cơm
nguội để mẹ gói bánh, khỏi mót củi, xắn măng tầm vông. Ngày ngày quanh quẩn ở
nhà, áo quần tươm tất sạch sẽ, để dành thì giờ nghỉ ngơi, chuẩn bị đi học. Câu chuyện
hàng ngày bên thau cơm, rau dưa với mắm, xoay quanh câu chuyện thi đậu Đệ Thất,
mỗi ngày thêm vào ít chi tiết. Nhớ kể lại bài toán hai chiếc xe hơi chạy, tốc
độ 60 km/giờ, khởi hành từ điểm A, chiếc xe chạy từ điểm B, mấy giờ gặp nhau.
Bài Toán nước chảy vô hồ, có vòi nước chảy ra, mấy giờ hồ nước đầy, Chau Rết
nhớ lỏm bỏm, giải nghĩa cũng lơ mơ, gia đình thiếu học làm sao theo kịp, chỉ biết
thán phục sự thông minh của Rết, quên mất, hay cố ý không nhắc chuyện bán lúa
lo tiền cho cô giáo Ni. Kiến thức Chau Rết bao la, khó áp dụng ở vùng Sóc nghèo
nầy. Con đường đất từ lộ Nam Vi vô Xà Lôn, mùa mưa chỉ đi được trên bờ cỏ, dành
cho xe bò và người gồng gánh, hiểu sao được mấy giờ hai chiếc xe gặp nhau. Còn
bài toán nước chảy vô hồ, ừ, cái vũng ngoài ruộng hay bàu sen chùa, mưa thì đầy,
nắng cạn, chảy ra chảy vô làm gì mà tính làm sao ra. Chính Chau Rết cũng nói
càn, hắn làm chừng vài câu chưa chắc trúng.
Bạn bè
ở Xà Tón, ít đứa siêng đạp xe vô Sóc Xà Lôn thăm Chau Rết, nếu nó tiết lộ chuyện
Chau Rết ngồi liếc chờ cọp-dê trong phòng thi chắc hư chuyện. Xứ nầy không ai
đi học, Rết mới có địa vị, mới được Sàm Nơn chú ý; sợ nhứt là thằng Thạch Xul ở
xóm Chè Êng biết tẩy Rết, nhưng hắn ở xa, muốn vô Xà Lôn chơi cũng trẹo đường.
Chau
Rết hơi lo lo, nghĩ tới lớp Đệ Thất, học thua xa bọn học sinh chợ, nhứt là bọn
gốc Việt Nam và Tàu. Mè ơi! Lúc thi Tiểu Học, bài luận văn "Viết thư thăm
người bạn bị ốm"; Chau Rết viết chưa đầy trang, chân thành khuyên bạn:
"Bạn ốm thì nhớ xi bai, xi tầm lôn, xi num bồ chóc (ăn cơm, ăn khoai, ăn
bún) bạn sẽ hết ốm, sẽ mập lại liền". Bài đó may mắn được thầy Sàm Căm
chấm, cho 5 điểm. Rết bẽn lẽn tránh gặp bạn học, sợ bạn nó mang chuyện
"bạn ốm" ra trêu chọc, hơn nữa, dù lớn nhứt lớp, mỗi lần kêu hạng,
Rết đứng gần chót sổ. Việc học hành Chau Rết không lọt vô xóm Xà Lôn nên vẫn
được chiêm ngưỡng, làm gương tốt cho trẻ con thế hệ sau và sự chú ý của Sàm
Nơn. Sàm Nơn con ông Quản Tén, nhà danh giá, khá giả, mặc áo cánh trắng, quần
nhuộm mạc-nưa, mới qua lại từ ngày Chau Rết đậu vô Đệ Thất. Chau Rết đã bước
lên giai cấp cao hơn, các cô tắm ngoài giếng hết dám cười đùa với Rết, nhứt là
khi biết Sàm Nơn thỉnh thoảng mang bánh gói, bánh ống đứng khép nép gõ cửa nhà
Rết, đưa bánh, tránh đôi mắt Rết, rồi bước xuống nhà về ngay.
Pù Sul,
cha Rết, kê bàn ghế, mua thêm cây đèn ống khói cho con học thêm, ước mơ thầm
kín là muốn thấy con mình mặc đồ Tây, ngồi bu-rô làm việc thoát kiếp ruộng vườn
lam lũ từ đời ông cha để lại.
Câu chuyện
thi đậu cũng loãng dần, sau ba tháng khi mùa mưa ngập ruộng trên, mùa cày cuốc
đã tới. Chau Rết ngại bước xuống ruộng vì đã quen ở nhà.
*
* *
Ngày
khai trường mới trọng đại, chiếc xe đạp được người nhà lau sạch, tới cây căm
cũng sáng, mấy đứa nhỏ không được đụng tới. Ngày đó, Chau Rết mặc chiếc áo
sơ-mi trắng đầu tiên trong đời, thơm mùi vải mới, giắt cây viết trong túi trên
huy hiệu trường. Áo bỏ vô quần xanh dương dài, dây nịch cao-su, mang dép Nhựt.
Chau Rết cẩn thận kẹp hai ống quần cho gọn, sợ nghiến dây sên xe đạp, cái cập
da giả niền trên bọc-ba-ga. Chau Rết nghiêm trang dẫn xe đạp ra khỏi nhà. Cả
xóm, có cả Sàm Nơn, đứng nhìn ngưỡng mộ, thèm thuồng muốn con cháu mình được
như Chau Rết. Vợ chồng Pù Sul sung sướng ra mặt, thấy con đủ lông đủ cánh bay
xa, "A Rết tâu riêng" ( Rết đi học) nghe sang trọng quá.
Chiều
đó, Chau Rết đạp xe đạp về, nằm lăn ra sàn nhà nghỉ, Ì O dặn "nó học mệt
rồi, cho nó nghỉ". Chau Rết bơ phờ, than thầm "Me oi! nghép!"
(Mẹ ơi, chết) mắc cỡ với sự săn sóc quá đáng của cha mẹ. Cả ngày ở trường Chau
Rết có biết thầy nói gì đâu. "Me oi!"môn nào cũng khó. Trước học
trường Việt Miên, tiếng Việt nhờ nghe người chung quanh và học chút ít ở
trường. Lý Hóa, Vạn Vật, Giảng văn, Sử Địa... tất cả hoàn toàn bằng tiếng Việt.
Chau Rết không đủ khả năng nói cho cha mẹ hiểu và làm cha mẹ buồn.
Chau
Rết lựa bàn sau cùng ngồi, ngượng nghịu vì cao lớn, khó xoay sở, lại lớn tuổi,
mỗi lần chào cờ là một cực hình, cao bằng giáo sư, đứng chung trong lớp, lộ
liễu là giấu hai tuổi, lại lớn hơn tuổi cấp lớp thêm hai tuổi. Biết thân học
kém, Chau Rết tìm đủ mọi cách tránh lên bảng, không đưa tay tình nguyện lên
bảng giải toán, may là có những đứa đầu bàn giải quyết chuyện đó. Ở nhà nói
tiếng Miên, bây giờ vô Trung Học, tiếng Việt còn ngọng ngọng, chưa bỏ được chữ
"Dớ", "Me oi!". Chau Rết tự an ủi là trường chỉ mở tới Đệ
Tứ, chịu đựng bốn năm nữa, lấy chứng chỉ đi cours về theo Nhóm Khăn Trắng làm
Trưởng Đồn. Giáo sư không buồn để ý Chau Rết, họ là giáo viên Tiểu Học lên dạy
giờ, như thầy Sết, chỉ có Certificat mà dạy Pháp văn liên tiếp từ Đệ Thất tới
Đệ Tứ sau nầy. Thầy cô thương Chau Rết vì
nhờ vả được. Các giáo sư ở xa đổi lại, tò mò muốn vô Sóc chơi, được Chau Rết
hướng dẫn, thông ngôn, Chau Rết hay mang quà cây nhà lá vườn cho thầy cô. Chau
Rết lại được danh dự (do trường chỉ định) làm chức Trưởng Ban Trang Trí cho
lớp, công việc như khiêng bàn ghế, leo lên cột cờ để sửa cái rõ rẽ làm kẹt dây,
đập con rắn lục trên cây me sau trường, cuối năm được Bảng Ban Khen Hiệu Đoàn,
lên lớp.
Đây là
năm đầu tiên của Trung Học, nên dù lớn tuổi, Rết đỡ ngượng vì không ai học trên
lớp mình, chỉ thua mấy đứa bạn trong lớp và các nữ sinh, bọn nầy chỉ ham chơi
chớ chưa biết so sánh việc học. Vì lớn tuổi và lớn tác, nói chuyện học hành thì
quên trước quên sau, chiều thì về Sóc nên không học hỏi thêm được điều gì của
bạn, gặp bài khó, biết hỏi ai! Ngoài ra, Chau Rết ở trường không tham gia được
các trò chơi của bạn học, cô đơn nhìn các nữ sinh xinh đẹp chuyện trò với nhau.
Thật là một cực hình khi đi học, nhưng lúc về Sóc, Chau Rết là vua trong xứ mù.
Năm lên
Đệ Lục, Chau Rết hoàn toàn mất hết căn bản các môn, cái gì là hình lục giác, tam
giác, đồng dạng, toàn là từ ngữ Hán học. Về Sóc chỉ nghe cha mẹ khoe con mình
học giỏi, Chau Rết thật khổ tâm mà nào ai biết.
*
* *
Cơn mưa
núi tầm tã buổi chiều tan học dai dẳng tới tối. Chau Rết đụt mưa, dưới mái hiên
trường chờ dứt hột sẽ về, khi mưa lớn sẽ ngưng lại ghé nhà ai đó tránh, bớt mưa
sẽ tiếp tục đi. Chau Rết lo, từ chợ Cây Me tới Nam Vi, vắng nhà, nước từ ruộng
trên đổ xuống đào khuyết đoạn đường, đá xanh gồ ghề làm đau xe và đau người.
Chau Rết nao lòng, tự hỏi, sao mình sinh ra ở Sóc nghèo quá, phải ở chợ Quận
thì đâu có khốn đốn như chiều nay. Bạn học đều về tới nhà ăn cơm chiều, còn mình
thì long đong ngoài mưa gió. Ở chợ Quận có đèn điện, tiệm cà-phê mở cửa tới 8
giờ tối hay trễ hơn. Người ta ăn mặc chải chuốt dập dìu ra tiệm cà-phê ngồi uống,
hoặc vào tiệm đánh bi-da, có radio hát Cải lương hoặc Tân nhạc, nam thanh nữ
tú. Nghĩ lại xóm Xà Lôn, nhà cất rải rác theo ruộng, xa xa mới có căn nhà sàn,
đêm đêm nghe bò, heo ột ệt, mùi phân heo, phân bò bốc lên, những đống khói un
muỗi mịt mù, cay mắt, buồn hiu, khói đốt đồng mờ mịt, đom đóm bay lập lòe. Khi
trời sụp tối, cả Sóc không thấy một ánh đèn, bóng tối phủ chụp, chỉ có màn đêm.
Vào mùa mưa như hôm nay, nền nhà đất nện, ẩm ướt trơn trợt, gió dập rào rào phên
lá, tiếng ếch nhái quanh nhà, ngoài ruộng, đều đều buồn tênh. Cái hấp lực của
chợ Quận, với nhà đúc ngay hàng thẳng lối, với đèn điện kéo Chau Rết xa Sóc Xà
Lôn u ám mùa mưa. Chau Rết khám phá nếp sống và nề nếp ở chợ, nhà lót gạch tàu,
nấu ăn bằng than ít khói hơn rơm, trấu. Trái cây ngon trong Sóc đều bán ở chợ,
còn chủ vườn ăn trái đèo bán không được giá.
Chiều
đó, Chau Rết đành ở lại ngủ nhờ nhà người quen vì mưa gió và sấm sét, lúc mưa
tạnh thì đã 9 giờ đêm. Cái buổi tối đẩy đưa Chau Rết đi ngang tiệm may.
"Anh
Rết, vô nhà chơi, anh Rết, trời tối anh đi đâu?". Tiếng mời thật êm ái
chưa bao giờ được nghe của Lài, cô bạn cùng lớp. Lài tự nhiên mời Chau Rết ghé
chơi.
Chau
Rết luống cuống chưa biết xưng hô ra sao cho đúng, "bòn, pà ol".
Tiếng "anh, em" nghe ngượng ngùng quá. Rết riu ríu vào nhà, đứng xớ
rớ. "Ngồi chơi nghe anh Rết", Lài vào rót tách trà bưng ra cho, Rết
khép nép "Hổng có gì đâu!". Muốn nói thêm mà nghẹn như bị Ông Tà bóp
họng. Lài bưng thêm dĩa bánh bò mời. "Mè ơi! Bánh bò màu trắng như bông,
có cái màu xanh màu đỏ, mặt bánh nứt ra như đài hoa, sớ bánh bò như rễ tre,
thơm béo ngon quá". Chau Rết khen thầm, nhớ tới cái bánh gói màu nâu sậm, chan
nước cốt dừa nhơn nhớt, không mùi vị gì, bánh thốt nốt một màu như bánh gói,
bánh ống thì ăn xam xảm. Chau Rết đưa mắt nhìn lên tường, tấm ảnh bán thân Lài
lộng kiếng, ngón tay để trên má. Lài thân mật tự nhiên, nói hay như chim hót.
Lần đầu tiếp xúc với gái Việt Nam rặt, nhứt là người bạn cùng lớp xinh đẹp, Chau
Rết lúng túng thấy tội nghiệp, uống không dám nuốt, ăn không dám nhai.
"Ăn
bánh bò đi anh Rết", giọng nói mát mẻ của Lài như nước giếng tưới mát cho
tình cảm khô khan của Chau Rết, nở hoa như cái bánh bò bông trước mặt.
Mấy năm
học, môn Việt văn Chau Rết có tiến bộ không nhiều thì ít, tình cảm Việt Nam thấm
nhuần dần dần vào tâm hồn lúc nào không hay. Phân nửa thời gian dành cho tiếng
Việt, phân nửa dành cho tiếng Miên ở Sóc. Đêm đêm Chau Rết bắt buộc nhơi những
đoạn văn thơ Việt Nam, học lâu lắm mới thuộc những câu hay hay mà khó hiểu:
"Hoa
giải nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt
lồng hoa, hoa thắm từng bông..."
Năm Đệ
Lục đề thi môn Vạn vật "Con Khỉ". Chau Rết viết thành bài luận văn
thật hay: "Ba tôi lên núi làm rẫy, bắt được con khỉ phá vườn bưởi. Ba tôi
bắt nó về đập đầu, thui con khỉ cho cháy lông, nấu với lá dang. Thịt khỉ ăn như
thịt nhím, thịt trúc...". Chắc Giáo sư Vạn vật phải nhờ Giáo sư Việt văn
chấm bài đó.
Lúc bị
kêu lên bảng giải phương trình, giáo sư biểu cân bằng phương trình, Chau Rết nhìn
quanh quẩn tìm cây cân để cân.
Lên Đệ
Ngũ, đề bài luận văn "Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó
vì lòng người ngại núi e sông". Chau Rết viết chưa được một trang giấy,
chợt thấy có chữ "sông", "núi", cảm hứng kết luận bằng câu
thơ đắc ý nhứt: "Thương em mấy núi cũng trèo, Mấy sông cũng lội, mấy đèo
cũng qua". Chau Rết muốn đọc cho Lài nghe hai câu thơ.
Sàm Nơn
không đi học, ở Sóc làm sao hiểu nổi, mỗi lần mang bánh biếu Chau Rết, mặt "ol"
tối sầm, để bánh trên bàn, cúi đầu đi một nước.
Dì Bảy,
mẹ Lài, ăn mặc cao sang, áo quần vải lụa màu, bới tóc có bao lưới đẹp hơn mẹ
Chau Rết. Dì Bảy cũng ăn nói lưu loát "Ngồi chơi đi cháu", rồi ra sau
nhà, cho hai đứa tự do. Dì Bảy văn minh quá!
Lài vui
vẻ hỏi: "Sao anh Rết hổng ở chợ đi học cho gần, ở Xà Lôn xa quá. Mưa gió...".
Chau Rết ậm à, nhăn mặt, mất tự nhiên, ngồi vặn vẹo trên ghế, tay chơn lúng
túng, miệng ấp úng: "Dớ (11), nhà tôi ở Xà Lôn".
*
* *
Từ ngày
gặp Lài, tâm hồn Chau Rết như cánh bướm bay khỏi Sóc Xà Lôn đến đậu trên hàng
rào trước nhà Lài. Gương mặt Lài rạng rỡ hơn gương mặt u ám của Sàm Nơn. Chau
Rết bạo dạn bẻ mấy chục trái sa-bô-chê ngon nhứt trong vườn biếu Lài. Dịp Tết
năm cuối Trung Học, năm Đệ Tứ; tuy học kém nhưng đủ tư cách làm đàn anh trong
trường, Chau Rết tỉnh táo hẳn lên, tuổi khai sanh là 17, tuổi thiệt là 19. Tuổi
nầy, người Miên, người Việt hay người Tàu ở xứ nầy đã biết yêu thương. Sàm Nơn
17 tuổi, Lài cũng 17 tuổi. Chau Rết tìm đủ cách ở lại chợ sau giờ học, khi đạp
xe về tới Xà Lôn đã tối, tắm rửa, ăn cơm là Sóc đã lên đèn, ít gặp Sàm Nơn. Chủ
nhựt, Chau Rết cũng đạp xe ra chợ Quận chơi, nói là học bài chung với bạn học,
cốt ý là mang trái cây cho Lài. Đêm Lài mời Chau Rết ghé nhà uống nước, Rết đã
bước sang thế giới Việt Nam ở quê mình. Từ trước, Chau Rết loay hoay ở Sóc Xà Lôn,
nói tiếng Miên, tương lai là Nam Vang. Lài là cây cầu bắc ngang cho Chau Rết
hiểu thêm, nghe thêm những chữ mới "anh, em" dịu dàng ngọt ngào như
bánh bò bông, bánh da lợn, bánh men, bánh thuẫn, nghe hoài, ăn hoài không chán.
Có những đêm mưa, nhìn sang căn nhà Sàm Nơn xa xa, Chau Rết nhớ Lài, nhớ gương
mặt Lài thanh thoát, cử chỉ nhã nhặn, cười tươi như bánh bò bông, nhưng Lài cao
sang quá, người đẹp Việt Nam như Lài làm sao về làm dâu ở Sóc Xà Lôn hẻo lánh
nghèo nàn. Chau Rết cứ mơ, bạn bè đều tốt với Chau Rết, nếu lỡ dở cũng không ai
chế nhạo, chưa có đứa nào chê Chau Rết "Mai Liên" (Miên lai) hay chết
đốt. Lài vẫn niềm nở, không hiểu xã giao hay chân tình với Chau rết. Sự vui vẻ
dành cho mọi người, điều nầy Chau Rết khó hiểu nổi. Nhà Lài là tiệm may, phải
chiều khách, nhứt là giới lính tráng ở xa đi hành quân ngang, mang áo lành lặn
nhờ Lài vá, để có cơ hội ngồi nói chuyện hàng giờ, Lài vừa may vừa tiếp chuyện.
Biến
cố gây sự hiểu lầm to tát cho gia đình Rết là ngày Lài biếu Rết (hay cho ba má
Rết) gói bánh chợ, bánh bò, bánh da lợn, bánh men sau buổi cúng cơm. Pù Sul và
Ì O sung sướng vô cùng, con mình được bạn gái Việt Nam ở chợ cho bánh.
"Con nhỏ đó trắng không?". Ì O hỏi, khi mấy đứa cháu giành ăn bánh
chợ muốn đánh lộn. "Lấy gì cho lại?". Không lẽ gởi bánh thốt nốt,
bánh gói, bánh ống? Sóc nầy có ba thứ bánh, màu tối sậm, so với bánh chợ màu mè
sao được. Lài là cái bánh bò bông, Sàm Nơn là cái bánh thốt nốt. Lài trắng
trẻo, cổ tay đeo sợi dây bạc đẹp và thanh nhã, tóc dài mướt trên vai, lơi lả.
Sàm Nơn da bánh thốt nốt, có bao nhiêu nữ trang bằng vàng đeo hết lên người vào
dịp đám cưới, lễ lộc nào hoa tai, dây chuyền, neo, kiềng chân... vàng hực.
Chau
Rết đã dạn dĩ ở chợ, dám theo bạn uống cà-phê, lén phì phà thuốc lá, để tỏ ra
mình cũng như ai. Đối diện với Lài, Rết luống cuống, tay chân làm như dư thừa,
muốn nói văn chương mà vốn liếng học giờ giảng văn trốn đâu mất, lâu lâu nhớ
một câu thơ mà ấp úng, ngượng ngập không ra lời, chưa dám gọi Lài là
"em". Ôi! Tiếng "em" nghe thân ái mà phát ngôn chưa được.
Buổi
Liên Hoan Tất Niên, như thường lệ, Rết là Trưởng Ban Khánh Tiết, dọn bàn ghế,
treo hoa kết tụi, vẽ bảng mừng Xuân. Khi treo tấm bảng "Hâng Hoang Tất
Niên", thầy cô nhìn đoán không ra Rết muốn nói gì. "Liên Hoan"
hay "Hâng Hoang" cũng giống nhau mà.
Lúc học
sinh đệm đờn hát tặng thầy cô, Rết đứng sau nhịp chân trong bản hợp ca "Ly
Rượu Mừng", miệng lép nhép, đóng góp chương trình văn nghệ như ai. Lài
được bạn đề cử lên. Tiếng hát Lài đưa Chau Rết gần Việt Nam hơn, khúc ca
"Nụ Tầm Xuân" gì đó. Nụ tầm xuân ở ngoài Bắc, Chau Rết lơ mơ theo
tiếng Lài hát, cảm tưởng Lài hát cho riêng mình nghe. Cây quạt máy thổi tóc Lài
bay bồng bềnh, Lài hất mái tóc dài ra sau, Chau Rết tấm tắc, lim dim, gật gật
như thưởng thức, "Dớ! Việt Nam hay quá". Bản nhạc sắp chấm dứt, tiếng
hát nhỏ dần sang điệp khúc chót "... Tình chung muôn đời ta đắp xây, Tình
chung muôn đời ta đắp...". Lài chưa kịp hát dứt chữ "xây" cuối
cùng. Chau Rết đã xớn xác hét lên, vừa vỗ tay lộp bộp.
*
* *
Bốn năm
qua, Chau Rết hăng hái hưởng cái Tết cuối cùng của đời học sinh ở chợ quận với
các bạn. Tất cả học sinh Đệ Tứ năm đó, dù trai hay gái đều tỏ vẻ rất trưởng thành,
đàn anh trong trường mà. Có đứa đã được nhận chân dạy học ở các xã ấp xa. Chau
Rết ở lại chợ ba ngày ăn Tết Việt Nam, nghỉ đêm thoải mái ở nhà bạn học. Chau
Rết là thành viên chánh thức của lớp rồi. Anh em rủ nhau đến từng nhà bạn bè
trong lớp, đến đâu cũng được đãi trà bánh tươm tất. Chau Rết biết thêm, ngoài bánh
bò, bánh men còn có mứt hột sen, mứt bí, thèo lèo, lúc cắn hột dưa lần đầu, hột
bể nát, có khi hắn nhai luôn vỏ, răng đỏ vì màu nhuộm hột dưa.
Buổi
trưa ghé nhà Lài, được đãi cơm trưa, có thịt kho trứng, dưa cải, bánh phồng
tôm. Tất cả ngồi tại bàn ăn, có ghế ngồi chứ không như nhà sàn ở Xà Lôn, ăn cơm
ngồi chồm hổm hay xếp bằng trên sàn nhà. Chau Rết ăn thiệt tình, món nào cũng
ngon. Buổi chiều, được đãi nhà thằng bạn gốc Tàu, con chủ tiệm vải, nhà ở phố
lầu, ăn cù lao, dĩa thịt xào nấm đông cô, mì xụa (12) xào hẹ, thằng Xòn chủ nhà
còn kéo la-de ra uống. Chau Rết nhìn thấy Lài ngồi bên bàn kế, ăn chậm chạp như
mèo.
Ba ngày
Tết Việt Nam vui quá. Chau Rết muốn ở luôn ngoài chợ. Sóc Xà Lôn bên góc núi xa
mù trong trí nhớ, dù có ba ngày. Hình bóng Lài đã thay thế hẳn Sàm Nơn trong
lòng Chau Rết. Nhưng Chau Rết chưa có chỗ đứng trong trái tim Lài, Rết đâu có
gì đặc biệt, ngoài cái to xác, đen đúa, thô kệch. Chau Rết giận chính mình, muốn
cạo cho hết chất đen trên làn da sạm nắng. Con trai ở chợ, trắng trẻo, thư sinh,
nhà giàu, chỉ mặc đồng phục khi đi học, về nhà bọn nó ăn mặc đúng mốt.
Chau
Rết chỉ có mấy bộ đồng phục, nhờ có quần xanh dài, che những cái thẹo ngang dọc
trên chân đen mốc. Tết người ta ăn uống say sưa, ngon lành, có đốt pháo, có
Radio hát "Mừng Xuân nâng chén...". Còn Chô Snăm Mây (vô năm hay Tết)
chỉ biết gói bánh tét, bánh ít, đi chùa, đi cúng tro cốt trong tháp, chán quá.
Dịp Chô Snăm Mây, nếu mời Lài vô Sóc, có gì vui cho Lài. Ngày nầy sang ngày
khác, cứ có trái cây là Chau Rết bẻ cho Lài cầu thân, nói chuyện, thăm hỏi
chuyện thường tình bâng quơ lạt lẽo. Lài đi học về còn phải ngồi vào máy may,
đâu có dư thời giờ ban ngày tiếp chuyện. Thoáng nghỉ tới muốn mời Lài vô Sóc
cho biết, mà vấn đề xe cộ chưa giải quyết được. Chau Rết nhìn chiếc xe đạp đòn
dông ngao ngán, phải chi có chiếc Mobylette như con chủ tiệm hủ tiếu thì dễ
quá. Sóc Xà Lôn, một bên là núi trọc, một bên là ruộng, nhà cửa rải rác xa
nhau. Vườn chỉ có vài loại trái cây ăn được, phải đúng mùa mới có trái, ngoài
ra, trái xây. trái trâm (13), trái sa-kê, trứng cá, me, chùm ruột, toàn thứ
trái cây rẻ tiền, trồng chỉ tốn đất. Chau Rết rất ngại. Lài mà vô đây một lần,
chắc hết dám vô lần thứ nhì, nếu Lài nhìn thấy bọn con nít đen đúa trần truồng,
mặt mày lem luốt chạy nhảy bên mấy bòn ca quấn có mỗi khăn chàng tắm bên bờ
giếng, xong lại ra gốc dừa cọ mình trên cây dừa cho đã ngứa. Trong chùa có vài
ông Lục xếp mon đọc kinh tiếng Miên xưa, Chau Rết còn chưa hiểu hết. Phân bò,
phân heo khắp xóm, mấy con kỳ nhông rắn mối chạy sột soạt dưới đống lá sẽ làm
Lài giựt mình. Nhà sàn không có ghế, phải ngồi trên sàn, áo quần Lài trắng bông
dễ bị dơ. Chau Rết chưa tìm cách làm Lài vui, không lẽ dẫn Lài đi quanh Sóc nghe
các bà con Miên nói chuyện eo éo, con đường đất cát mùa nắng cũng như mùa mưa
không thích hợp cho đôi guốc cao gót của Lài. Tới giờ "nhăm bai" (14)
lấy gì đãi Lài cho vừa miệng, canh thốt nốt, xiêm lo đều nêm mắm bồ hóc, húp
canh vô ngứa răng thêm.
Chau
Rết tủi lòng mỗi lần qua nhà Lài, thấy các sĩ quan ngồi cười cười nói nói, Lài
vừa đạp máy may vừa trả lời vui vẻ lắm. Chau Rết than thầm, làm sao bằng các sĩ
quan trẻ, dù là Đại úy Chau Uốt, Đại đội trưởng nhóm Khăn Trắng so với các sĩ
quan nầy còn chưa thấm vào đâu. Lài hình như chưa hiểu cái tình bạn bất thường
của Chau Rết, mỗi lần nói chuyện với Lài hắn luống cuống khi chạm mắt Lài. Mỗi
lần Lài cần điều gì, Chau Rết sốt sắng quá độ. Xin một bó xà đâu trộn cá nướng
ăn buổi chiều, Chau Rết bẻ hết bông trên cây xà đâu cho Lài. Mùa xoài đông ken
(15), Chau Rết mang cả thúng xoài tượng cho Lài ăn với nước mắm đường, ăn tới
xoài chín cũng chưa hết.
Ì O ngạc
nhiên thấy con xỏ từng xâu bưởi lớn mang đi học, "Ăn nhiều quá vậy!".
Ì O đâu biết Chau Rết muốn làm vừa lòng Dì Bảy. Đêm đêm thấy Chau Rết cầm nhìn
không chán tấm ảnh chụp chung học sinh lớp Đệ Tứ. Chau Rết đứng hàng chót vì
cao lớn, Lài đứng nghiêng, áo dài tha thướt. Chau Rết buồn và lo, Lài đang được
các sĩ quan theo đuổi.
Lài nhìn
Chau Rết như người bạn chân thật, vui tính, mỗi lần mở miệng làm Lài khó nín
cười, đó là lý do Lài có cảm tình với Chau Rết. Nhưng tình yêu thì chưa có, dù
vui vẻ với Rết. Ở Sóc, trai gái dù thích nhau, chỉ để trong lòng, không bao giờ
dám cười nói lộ liễu. Dì Bảy thì gọi Chau Rết "cháu" ngọt. "Ngồi
chơi cháu, mai mốt ghé nhà chơi nghe cháu, về cho dì gởi lời thăm ba má
nghe!". Sao dì Bảy lịch sự quá. Chau Rết chuyển lời thăm xã giao cho mẹ, Ì
O không hiểu tại sao, chưa quen biết mà sao gởi lời thăm, trả lời sao cho phải.
Quanh quẩn trong Sóc Xà Lôn có ai từng gởi thăm ai đâu. Pù Sul lù đù lo ruộng
rẫy, nghe tiếng Việt không hết "Mè oi, Xà đấp chon bét cà ba á". (Mẹ
ơi, nghe muốn bể đầu).
*
* *
Chau
Rết nằm một mình trên sàn nhà, chán chết, đầu óc còn ở chợ, nhớ bàn tay Lài,
ngón tay thon thon trắng ngà đẩy cái áo trên bàn máy may, chân đạp nhịp nhàng.
Tay chân Lài mịn màng như vải lụa, ngón tay trắng hồng, không có chút đất đóng
trong móng tay như Sàm Nơn. Chau Rết chưa dám tỏ cho mẹ biết ý định lấy vợ Việt
Nam, ở luôn ngoài chợ. Chắc mẹ sẽ đồng ý ngay, nhưng khó khăn về phía Lài, cưới
vợ Việt Nam cùng học Đệ Tứ trắng đẹp ai mà không chịu, chỉ ngại Chau Rết với
không tới. Chau Rết mơ ngày được cất cái chòi lá (16) nhỏ trước nhà Lài ngủ đêm
theo tập tục. Sáng hôm sau, Lài ăn mặc rực rỡ, đeo nữ trang đầy người, trịnh
trọng ôm cái ô bằng bạc đầy nước ra rửa chân cho Chau Rết, Chau Rết mới được
bước chân vào nhà Lài chánh thức làm rể. Hai đứa ngồi nghe ông Lục đọc kinh
trầm trầm, cầm bó bông nhúng nước rải chúc lành. Bạn bè sẽ ném hoa cau trắng
nõn như mưa hoa thơm ngát chúc cho cô dâu chú rể hạnh phúc, rồi một người cầm
cây kéo múa vòng quanh hai đứa, múa xong xén tóc Chau Rết. à, mà Chau Rết không
biết theo phong tục nào, ở rể theo Miên hay rước cô dâu Lài về Xà Lôn theo Việt
Nam. Ủa, ủa, ai gả con cho Chau Rết đâu mà mơ mộng, "ai lấy chồng Đàng Thổ
chết đốt?". Có chồng Miên, sau có chết, nó mua một thước củi chất lên lò
thiêu, bỏ tro vô tháp, nóng chết ai mà chịu được. Chau Rết thẫn thờ trước cái
thực tế bất lợi trước mắt. Hắn cố tìm trong trí nhớ coi có đứa con trai gốc
Miên lấy được vợ Việt mà tìm chưa ra, nghĩ tới đây hắn cuồng trí, lại hy vọng
rằng Ì O bán vài chục giạ lúa cưới vợ cho Rết. Tiếng xối nước của những người
tắm ngoài giếng làm Rết tỉnh giấc mơ ban ngày.
Học với
nhau bốn năm, Chau Rết chưa dám mời Lài đi Xà Lôn, từ chợ tới Sóc chỉ có vài chiếc
xe lôi kéo bằng xe gắn máy hiệu Folis. Lài không thể ngồi tênh hênh trên chiếc
xe lôi chung với mấy bà Miên bán rau, thúng gánh treo tòng teng, nhổ cốt trầu
chèm nhẹp.
*
* *
Mùa Thanh
Minh cúng mả vừa qua là tới mùa Chô Snăm Mây (vô năm, ăn Tết Miên). Năm nay tại
Sóc Nam Vi trúng mùa có tổ chức ăn Tết lớn, có múa Lâm Thol, mùa Chô Snăm ăn
mặc tươm tất hơn, thức ăn ngon, có thịt kho trứng giống Việt Nam và bánh ít
bánh tét. Chau Rết sẽ mời Lài đến nhà người chú là Pù Keo, làm Xã Trưởng, có nhà
sàn lớn cất trên những cột cây sao lâu đời. Buổi múa Lâm Thol và dàn nhạc sẽ diễn
ngay trên sân chùa bên nhà Pù Keo. Chau Rết sẽ nhờ Pù Keo đuổi hết mấy đứa nhỏ
xuống nhà dưới, dành tầng trên nhà sàn cho Lài ngồi coi múa Lâm Thol, Lài chưa
quen tham dự Lâm Thol lần nào, ôi, nếu thuyết phục được Lài cùng múa song đôi,
hạnh phúc và danh dự biết chừng nào, cùng hòa mình trong tiếng nhạc ngũ âm. Ì O
sẽ mặc cái xà-rông tơ hay áo tầm dông (17) đen mới. Pù Sul sẽ mượn cái áo bành-tô
thời Tây của ông Quản Eng choàng lên cái áo vải xiêm. Ông bà sẽ nôn nóng đến
xem mặt Lài, mọi người sẽ trầm trồ khen Rết có bạn gái Việt Nam, da trắng và sạch
sẽ. Ước mơ Chau Rết là vậy, còn có mời được Lài không là chuyện khác, khó là
mời cho được Lài, khó còn hơn thi đậu Đệ Thất. Năm nay là năm cuối thời Trung Học,
cũng là cơ hội cuối trước khi ra đời. Lỡ đã báo cho gia đình về việc Lài, nếu
bị từ chối thì biết ăn nói làm sao. Chau
Rết lo tới ngơ ngẩn.
*
* *
Trái
với sự lo âu tưởng tượng, khi Chau Rết mặt nửa nhăn nửa cười bước vào tiệm may,
gãi đầu chưa kịp mở miệng thì Lài linh cảm, đoán được ý nghĩ của anh chàng si
tình dại gái nầy. Nàng vui vẻ hỏi trước: "Nghe nói năm nay, Sóc Nam Vi sẽ
tổ chức Chô Snăm Mây lớn lắm hả anh Rết? Không biết người Việt Nam vô coi được
không?".
Chau
Rết như được vàng, mừng cuống cuồng, lắp bắp: "Ừ, ừ, Lài vô chơi nghe, tui
bao xe lôi cho Lài vô, mua nước cam xá-xị cho Lài uống, má tôi kho thịt nhiều
lắm, múa Lâm Thol đông lắm...".
Lài đặt
cái áo nhà binh trên bàn máy, vừa đạp máy vừa hỏi: "Lài muốn vô Sóc buổi trưa
đi coi vườn trái cây nhà anh Rết!".
-"Dớ,
mấy giờ cũng được, tôi kêu anh Bi chạy xe lôi rước Lài, chiều tối đưa Lài về,
tối có múa Lâm Thol vui lắm".
Chiếc
xe lôi đưa Lài và Rết tới Sóc vào xế trưa. Lài mặc đồ bộ màu vàng, đội nón lá
quai vàng. Lài xuất hiện như nàng tiên trong bộ lạc cổ sơ. Chau Rết đưa Lài đi
qua khu vườn trồng cây ăn trái. Vài người trong Sóc đi qua tò mò nhìn Lài và
Rết, chiêm ngưỡng.
Lài
cúi chào Pù Sul: "Thưa bác".
Pù Sul
cười cười ngỏn ngoẻn không nói được tiếng nào. Ì O đon đả hỏi thăm Lài, tiếng
việt lỏm bỏm, Í nói liên tục, năm nay lúa trúng, có nếp mới làm cốm giẹp sẽ gởi
cho má Lài ăn lấy thảo.
Chau
Rết bắt chước cung cách của giáo sư chắp tay sau lưng đi chầm chậm nói chuyện
với Lài, thân mình hắn cao lớn hẳn, bên Lài nhỏ bé xinh xắn. Rết tự tin hơn khi
cùng nhau đi trong vườn sa-bô-chê vắng, thỉnh thoảng hắn kéo cành cây có nhiều
trái lớn xuống cho Lài nâng niu.
Ngọn
gió từ núi Tô thổi qua cánh đồng ruộng trên, cỏ héo, chờ mưa đổ xuống để bắt
đầu mùa ruộng. Gió càng mạnh thổi lào xào các khóm tre, tóc Lài bay vướng vào
vai Chau Rết, thơm tho làm sao. Chau Rết sung sướng cứng người, hạnh phúc hơn
lúc thi đậu vô Đệ Thất, "bây giờ học Đệ Tứ, có bạn gái Việt Nam đẹp"
Chau Rết lẩm bẩm. Lài tha hồ hít không khí trong mát, thoát cảnh nhà cửa chật
chội, đường sá bốc bụi mỗi lần xe chạy qua, Lài tận hưởng cái êm ả quê mùa, xa
xã hội bon chen tranh giành ở chợ. Lài thích vườn cây xanh, nhìn lên cây thị
hết mùa, muốn có trái thị chín để ngửi. Chau Rết tinh mắt thấy trái thị sót lại
nằm lẫn trên đám lá, hắn nhanh nhẹn leo lên hái cho Lài, Rết to lớn leo cây như
con dã nhân. Trong khung cảnh khu vườn mát, êm đềm, chỉ có hai đứa, Lài chợt chú
ý tới mùi khét khét thơm thơm của Chau Rết, da nâu, ăn nói bộp chộp không ăn
nhập vào đâu, nói chuyện không đầu không đuôi. Lài khám phá cái dễ thương của
Chau rết, như cá trở về nước, tuy ra chợ thì lạc lõng. Rết rất tháo vát ở quê
mình, tiếng Việt của Chau Rết ngồ ngộ, lộn xộn, hay hay, nghe vừa tức cười mà
không làm ai giận. Lài nhớ Thiếu úy Tiên, và vụ tai tiếng vừa qua ở chợ, ai
cũng biết ngoại trừ Chau Rết. Thiếu úy Tiên hằng ngày ghé tiệm may nhờ Lài vá
cái túi áo, đơm cái nút quần vì Thiếu úy liên tục đi hành quân buổi tối, nên
"áo anh sứt chỉ đường tà, mẹ anh chưa vá, vợ già chưa khâu", rằng
"mắt Lài đẹp như mắt nai tơ". Thiếu úy Tiên ăn nói văn chương và
chững chạc. Chau Rết thì "Dớ, dớ, Mè oi!". Rồi ông Thiếu úy đi nhậu trong
ấp, trên đường về bị bắn sẻ. Vợ con ông ở Hố Nai tới lấy xác, lãnh tiền tử. Lúc
ông được thăng Trung úy mới có gia đình.
Lài cầm
trái thị màu vàng đưa lên mũi, mùi thơm thoang thoảng tầm thường của trái thị,
mùi khét nắng của da Chau Rết làm Lài cảm được cái chân thật của ruộng vườn.
Thiếu úy Tiên hào hoa, đường mật, Chau Rết thật thà chất phác. Ý nghĩ so sánh
thoáng qua nở thành nụ cười dành riêng cho Chau Rết.
*
* *
Tiếng
mấy ông Lục xếp mon tụng kinh trong chùa vừa xong thì dàn nhạc ngũ âm bắt đầu
đánh cồn cồn, thanh niên thanh nữ người lớn bắt đầu uốn éo tay chân thì cơn gió
bắt đầu thổi mạnh. Chau Rết đưa Lài lên nhà Pù Keo. Sàm Nơn lảo đảo bỏ ra khỏi
chùa. Mưa bắt đầu nặng hột, dàn nhạc dọn nhanh, mọi người giải tán vô chùa đụt
mưa. Chau Rết lo âu, thất vọng, giận ông trời làm lỡ dở cuộc vui, Lài chưa được
múa Lâm Thol, nhiều người chưa thấy mặt Lài, niềm hãnh diện Chau Rết chưa tròn
vẹn. Phải cho tất cả bà con lối xóm thấy Chau Rết nầy có bạn gái Việt Nam trắng
trẻo theo về Sóc chơi Chô Snăm Mây.
Ì O và
Pù Sul đã lo xong cơm nước cho hai đứa rồi qua chùa xếp mon. Mưa đổ xuống xối xả,
nước bắt đầu ngập sân chuồng bò, đường đất Xà Lôn - Nam Vi ngập, bùn tới mắt cá,
xe Folis của anh Bi chắc chắn vô rước Lài không được, dì Bảy sẽ rầy la Lài cấm
không cho Lài vô Sóc từ đây. Rết buồn bực, thất vọng, chắt lưỡi tiếc rẻ. Đêm nay
làm sao đây! Nghẹp hoi! (Chết rồi).
Lài nhìn
mưa, thỏ thẻ hỏi: "Anh Rết lo gì vậy?".
-"Dớ,
mưa lớn quá, không được múa Lâm Thol, làm sao anh Bi vô rước Lài về, dì Bảy
chắc rầy Lài dữ lắm".
Lài mỉm
cười: "Lài đã xin má ở lại chơi tối nay với em anh rồi, không sao đâu, mưa
lớn, má biết mà".
Chau
Rết nhảy lên reo mừng, thấy càng lúc càng được may mắn. Rết lấy dĩa bánh bò,
bánh men mời Lài.
Lài hỏi:
"Sao anh mua bánh chợ cho Lài ăn, bánh nầy Lài ăn thường ngày, phải có
bánh thốt nốt, bánh gói ăn ngon hơn".
-"Dớ!
Tôi sợ Lài chê bánh thốt nốt nhà quê, màu đen, nên tôi mua bánh ở chợ cho Lài
ăn!".
-"Không
phải đâu anh Rết, bánh thốt nốt Ì O làm có mùi thơm thốt nốt. Bánh chợ để đường
mía và để màu bánh mới đẹp".
Mâm cơm
Ì O dọn có dưa giá, thịt kho trứng vịt, như ở chợ. Chau Rết cười thỏa mãn, tin
là Lài sẽ vui, tránh được các món mắm mặn. Lài lại hỏi: "Món nầy Lài ăn hoài,
sao má không cho Lài ăn canh xiêm lo, canh thốt nốt, canh mít ?
-"Dớ,
má tôi sợ Lài không biết ăn canh Miên, nên nhờ người ta ở chợ nấu cho Lài ăn
cho vừa miệng.
*
* *
Buổi
trưa đó, Sàm Nơn trang điểm, áo cánh đỏ, chăn xà-rông đen, dây nịt bạc, đeo tất
cả nữ trang của gia đình. Cây kiềng, dây chuyền trên cổ, hoa tai, chiếc neo trên
cổ tay, cây kiềng trên cổ chưn, tất cả làm bằng vàng y, màu vàng hực khá nặng
trên người Sàm Nơn. Đêm nay Sàm Nơn sẽ sánh vai Chau Rết múa tới thật khuya,
cho con nhỏ Ni Bồ Rum con ông Xã Nol hết dám đón đường chào Chau Rết.
Vừa trong
chùa bước ra, Sàm Nơn thấy Chau Rết đưa Lài công khai lên nhà Pù Keo, rồi đi
dạo vườn cây, mọi người bắt đầu xầm xì rồi đồn ầm lên như thiệt là Chau Rết học
Đệ Tứ, lại được cưới gái Việt Nam da trắng cũng học Đệ Tứ. Cơn mưa bất ngờ đổ
xuống làm Sàm Nơn muốn chết ngất theo. Sàm Nơn con nhà danh giá trong Sóc, nhà
có bốn đôi bò, chưa kể mấy con bò con, hơn năm mươi công ruộng, nhà sàn làm bằng
cây sao. Nước da Sàm Nơn đâu có đen lắm như da Ni Bồ Rum. Ở Xà Lôn hết gái rồi
sao? "Chau Rết ngu ơi là ngu! Ngu hết bực, mới đi cưới vợ Việt Nam".
Sàm Nơn
càu nhàu, lảo đảo bỏ chạy về nhà. Cơn mưa tầm tã phũ phàng chụp xuống Sóc Xà Lôn.
Áo quần nàng ướt sũng, nước mắt nàng nhiều hơn nước mưa đêm nay.
Bốn năm
qua, ông Quản Tén đã gật đầu cho phép Sàm Nơn mang trái cây ngon, bánh ngọt cho
Rết, bây giờ Chau Rết mê gái Việt Nam ở chợ, da trắng, quên bạn Sóc nghèo "ăn
nước da trắng đó được không?". Sàm Nơn khóc sướt mướt, tức tưởi đập cây me
nước, gai đâm máu đỏ bàn tay. Me oi! Nuôi con bò cho lớn, con bò đi cày ruộng người
ta. Sàm Nơn sẽ tìm ông Tà Ngứt làm phép bỏ bùa cho Rết trở lại. Cơn mưa gió vỗ
trên mái nhà, xô cây cối ngã nghiêng không át được tiếng gào thét tru tréo như
bà bóng gọi hồn của Sàm Nơn, "Me âu oi! à Ret xà lanh col srậy Duông hoi!"
(Má ba ơi, chàng Rết thương con gái Việt Nam rồi).
*
* *
Đã quá
nửa đêm, gió luồn qua khe cửa, ngọn đèn dầu lập lòe in hai chiếc bóng lao chao
trên vách ván. Chau Rết rót xá-xị cho Lài, im lìm thưởng thức cái ấm cúng tràn
đầy trong phòng. "Anh Rết, cuối năm thôi học, anh tính làm gì?"
-"Dớ,
tôi theo chú tôi làm sổ sách cho máy xay lúa. Chú tôi có xe chở máy chà lúa
(18) ở Sóc. Sáng vô Sóc, chiều về, rồi tôi ra chợ ở". Chau Rết nhấn mạnh
"ra chợ ở", đắc ý câu nói nầy lắm, hắn sẽ nhập vào dân chợ, ở gần nhà
Lài, xa cái Sóc buồn hiu vắng vẻ nầy. Giọng nói Chau Rết vẫn còn run run. ミch
nhái ngoài đồng tấu nhạc huềnh hoang buồn chán. Chau Rết thở mạnh, ráng hết
sức, khi nhớ tới dì Bảy, mẹ Lài, lúng túng một lúc rồi hỏi thật nhanh theo hơi
thở ra: "Lài à, người Việt Nam có gả con cho người Miên không?".
Lài chậm
rãi trả lời: "Có chớ anh, nếu hai đứa thương nhau, không rượu chè, cờ bạc,
hút sách, chắc cha mẹ không ngăn cản đâu".
-"Ừ,
tôi không biết uống rượu, không đánh bầu cua ở chợ, không đánh bài cào, không
hốt me (19), không hút thuốc, có ăn chè thôi, được không? Má tôi ưa nấu chè
khoai lang ăn ngọt lắm".
Lài đang
nhìn lên vách, bóng Chau Rết che mất bóng Lài, cả thân mình Chau Rết với mùi
khen khét nắng nồng nực đã phủ lên mình Lài. Lài đang ngượng ngùng, nhưng khi
nghe Chau Rết nói tới "ăn chè", Lài bật cười, gian phòng vắng, gió
mưa