NUÔI RẼ*
Springfield,
cuối đông 2005
Phong-Hưng
Lưu-Nhơn-Nghĩa
Ông
Tà Nghét ngồi dựa vách trước nhà, trên chiếc chõng tre. Ông chớp mắt nhìn, đôi
mắt vô hồn không buồn chú ý đến mấy đứa cháu đang chạy lăng xăng trước sân.
Tiếng gà vỗ cánh gáy trong sân không làm ông động đậy. Đứng nhìn ông từ xa,
người ta dễ lầm ông với bức tượng trong đền Đế Thiên Đế Thích, nhứt là khuôn mặt
của ông.
Suốt
cuộc đời bình dị, làm ruộng quần quật nuôi bầy con, ông chứng kiến biết bao sự
thay đổi từ lúc còn là thằng bé chăn bò tới giờ. Thế giới chung quanh ông tiến
quá nhanh, nhịp sống mới hết sức vội vã tràn vào sóc, ông bị bỏ bơ vơ trong thế
giới xa vời cũ rích. Ông đăm đăm nhìn những ngôi tháp cổ trong sân chùa Préa
Theat dọc theo dãy xala bằng cây sao, nơi tổ tiên ông và rồi sẽ đến ông sẽ gởi
tro cốt.
* * * * *
* * *
Nhà
Pù Nghét đi bộ đến giếng nước Nòl Tô không xa. Nhà sàn, vách ván cây sao, cột
cũng bằng cây sao cứng như đá, một người ôm không giáp cây cột. Nhà lợp lá, có
thang lên từng trên. Mùa mưa nước cũng không ngập vùng này, nhưng nhà nào cũng
cất cao, bên trên ở, bên dưới để cày, bừa, vật dụng, tránh chuột, rắn hay thú
dữ. Sóc Ô Thôm chỉ có nhà sàn, trừ xóm người Chanh (người Tàu) ở xóm Tà Păng
Flúc, đất thuộc về ông Cai Tổng Tà Ul – Xóm Tà Păng Flúc mới có sau này, trước
năm 1945 có chưa tới mười gia đình nghèo ở xa tới lập nghiệp – ở đâu có khói có
lửa là có người Tàu. Cái sóc trong hóc núi trước khi Tây tới đào kinh, đâu có
đường xá như ngày nay, muốn tới phải đi bộ băng đồng cỏ ún ngập nước, vậy mà
trước đó mấy đời đã có người Chanh tới sinh sống. Ngày nay, nghĩa là ngày ông Tà
Nghét còn nhỏ, có nhiều người Miên rặc họ Lâm, họ Trương ở đã mấy đời không ai
nhớ. Ai ở sóc này cũng sống bằng nghề ruộng rẫy trực tiếp hay gián tiếp. Mỗi năm
làm ruộng sáu tháng, cá tép có sẵn dưới ruộng, dưới bàu, cần thì bắt lên làm mắm
ăn mãn năm.
Ông
Cai Tổng Tà Ul không làm ruộng (oai hơn ông Tỉnh trưởng ngày nay), chỉ cho mướn
ruộng, cho vay lúa đầu mùa, càng ngày càng giàu. Nhà nào cũng có đèn dầu lửa,
loại thùng dầu 20 lít hiệu con gà mua ở chợ Xà Tón lúc Tây đổ bộ. Phụ nữ có nghề
nuôi tằm, dệt xà-rông tơ, may áo. Tới mùa kéo tơ, buổi sáng ngoài chợ bán cả rổ
nhộng, mua về xào hay làm gỏi, ăn béo ngậy. Hai nhu cầu ăn no mặc ấm được giải
quyết dễ dàng, chẳng những không thiếu mà còn dư ăn, nên các sòng bông dụ ồn ào,
số người say rượu đếm không hết, nhứt là vào những mùa lễ lạc ở chùa Préa Theat.
Đất
ông Cai Tổng Tà Ul rộng mênh mông, nên ông cho dân Chanh cất nhà ở tạm thời,
không ai phản đối. Dân Chanh trắng và đẹp, có khi đổi thành họ Miên. Gái Chanh
mà lai Miên thì thôi khỏi nói về sắc đẹp “đầu gà đít vịt” - các cô này đương
nhiên thành phu nhân các nhà quyền quý, thành người Miên da trắng.
Dân
Chanh ở xóm nhà Tà Păng Flúc cung cấp các dịch vụ dân sóc chưa bao giờ nghĩ tới,
đó là việc buôn bán đổi chác, tiểu công nghệ về bánh trái. Dân Sóc chỉ biết ăn
chứ chưa biết làm bánh lọt, bánh hỏi, bánh xôi nước, hủ tiếu khô hay nấu nướng
các món ăn cho đám cưới.
Dân
Chanh đi bộ từ hai, ba giờ sáng ra chợ Xà Tón mua các loại hàng hóa thông dụng
về sóc đổi lúa hay bán lại. Trước năm 1945, hàng hóa như dầu lửa, rượu trắng,
bánh kẹo, đường muối, nhang đèn, đuốc dầu chai ... còn là những món cần mà hiếm.
Dân sóc cũng lạ, nhiều người có xe bò, ra chợ mua chở về bán tiện lợi mà không
thấy ai làm nên người Chanh mới có cơ hội sống được.
Sự
hiện diện đóng góp của người Chanh vì vậy trở nên hết sức cần thiết vào thời
điểm đó, nếu dân sóc biết đi guốc là người Chanh hết đất sống. Dân Sóc sống và
hưởng thụ sau mùa gặt, sống thảnh thơi, không lẽ mua cục đá lửa, vài cây đuốc
Nam Vang, thẻ nhang cúng chùa ông Sãi, lại phải mất công ra chợ, đi về mất cả
ngày ? Cần thúng hủ tíu khô thì đội thúng đầy lúa tới nhà người Chanh đổi, “pên
tâu pên mo” - đầy đi đầy lại, công bình mà, thúng hủ tíu khô cộng với công bằng
thúng lúa dẻ dặt.
* * * * *
* * *
Thời
đó À Nghét còn là chú tiểu Col Sóc ở chùa Préat Theat. Sóc buồn hiu, đêm không
trăng tối mịt mù, xa xa mới có căn nhà sàn, trước mặt là ruộng lúa mông quạnh,
sau lưng là núi, còn rừng tre, nhiều ác thú. Măng là món ăn thay rau rác. Ban
đêm, khi cần di chuyển, người ta đốt đuốc tẩm dầu chai soi đường.
Sóc
có tên là Ô Thôm, “Ô” là cái lạch nước, “Thôm” là lớn. Có nhiều Ô chảy qua Sóc,
Sóc này có cái Ô lớn nên có địa danh này, mấu chốt địa lý khỏi lầm với các Ô
khác như Ô Tăng Răng, Ô Tà Mít. Nước suối từ núi Tô quanh năm đổ xuống mấy cái Ô
chưa đủ nước thành sông.
Col
Sóc Nghét chơi dọc theo Ô, bắt cá, bắt cua, nước Ô sạch, trong, mát lạnh, uống
được. Nghét có người bạn Chanh cùng tuổi là Cảo Kía (chó con). Nghét tự do chạy
chơi khắp vùng, tha hồ bắn chim, bắt rùa, cúm núm về nuôi. Đêm trăng sáng, Nghét
chạy chơi quanh chùa, chán thì về ngủ, không bị la rầy. Cảo Kía con nhà buôn bán
trong tiệm chạp phô nhỏ, suốt ngày bị giữ ở nhà, đêm đóng cửa ngủ sớm. Gia đình
Cảo Kía nằm dọc theo Ô Tà Tưng, xóm Tà Pan Fluc, cùng xóm với những người Chanh
khác. Nhà Cảo Kía cột tre, vách và mái lá, mới cất sơ sài, đâu có ai muốn ở đời
trong Sóc này. Chệt Khên, thím Xẩm làm việc cật lực như những người Miên trắng
tay khác. Từ 3 giờ sáng Chệt Khên gánh thổ sản địa phương ra chợ Xà Tón bán, hai
cần xé gừng, trái cây, khoai, chuối, dừa. Trưa đứng bóng, Chệt Khên gánh hàng
hóa chợ về đổi, tối mịt mới về tới nhà cầm chén cơm. Thím Xẩm quán xuyến việc
buôn bán ở nhà. Cảo Kía thiếu cái tự do của A Nghét, nó thèm được nô đùa thỏa
thích như những đứa trẻ con Miên khác. Cuộc đời ấu thơ của Cảo Kía bị đóng khung
trong căn nhà lá vừa là tiệm chạp phô.
Tuy ở
cùng Sóc, cá mắm giống nhau, nhưng cách nấu ăn khác. Nghét suốt đời chỉ ăn cơm
với mắm, canh xiêm lo, canh mít, canh thốt nốt, bánh gói, bánh ống, bánh thốt
nốt, đói thì cái gì ăn cũng ngon. Cảo Kía được ăn món nấu kiểu Tàu, canh dưa
cải, xải pấu (củ cải muối), tàu hũ. Tháng 8 có bánh Trung thu, bánh Tào xa pía
(bánh nhưn đậu xanh). Cảo Kía cho À Nghét nửa cái bánh quai chèo dòn rụm, đổi
lấy mấy con rùa nắp và con chim áo già, chim dồng dộc. Nghét được nhai bánh dòn
rụm lần đầu. Tình bạn nẩy nở giữa Cảo Kía và À Nghét qua cái bánh quai chèo và
con chim áo già, giống như Pù Pai, cha Nghét, đổi thúng lúa lấy bịch muối của
Chệt Khên.
* * * * *
* * *
Năm
1945, nạn Cáp Duồng xảy ra khắp miền Nam nơi có nhiều Sóc Miên. Ngọn gió độc này
thổi tới các Sóc mẹt cô lập dưới chân núi Tô, núi Tà Pạ, núi Nam Vi thì tan mất.
Chuyện Cáp Duồng nghe nói lúc đó găng lắm, nghe nói chết ở đâu kìa, chứ Sóc này
dân chỉ theo đuôi cho có lệ. Mấy gia đình gốc Chanh có xuôi gia với ông Cai Tổng
Tà Ul thì ai dám động tới. Gia đình khác đều được lối xóm ơn nghĩa chở che, dấu
diếm. Đặc biệt gia đình Củ Búl được chính Lục Cru dẫn đi bộ công khai từ Ô Thôm
ra Xà Tón an toàn. Lục Cru đi đầu, gia đình Củ Búl đi giữa, mấy ông lục áo vàng
khác đi hai bên suốt đoạn đường 12 cây số. Dân Miên ít nhất còn giữ giới không
sát sanh trước những chiếc áo vàng từ bi, không làm đổ một giọt máu.
Xóm
Tà Pan Fluc không còn gia đình người Chanh nào từ đó. Nói cho cùng, đó là cơ
may. Họ dọn ra chợ Xà Tón, bà Xẩm và con là Củ Khì ra chợ ở phố ba từng, có xe
hàng, ai cũng đều khá và giàu hơn khi rời nơi tạm bợ này. Từ đấy chính những
người Miên phải đội thổ sản ra chợ bán rồi tìm chính những người Chanh gốc ở xóm
Tà Pan Fluc mua hàng và làm giàu cho họ.
Mỗi
lần À Nghét chạy ngang xóm Chanh chỉ thấy nền nhà trống, không hiểu Cáp Duồng là
gì, nhưng thèm bánh quai chèo và bánh bía ngọt.
Cảo
Kía theo gia đình ra chợ lập nghiệp, được đi học, tập buôn bán, quên mất con
sáo, con cưởng, con lọ nồi Sóc xưa.
À
Nghét bắt đầu biết chăn bò, cắt cỏ, lớn lên được cha mẹ chia cho căn nhà sàn và
mười công ruộng Tà Lấp. À Nghét thành Pù Nghét, cưới vợ, sinh bầy con sáu đứa,
cứ bao nhiêu lúa đủ ăn, gặp năm lúa háp thì vay lúa ăn đầu mùa, nợ chồng nợ,
nghèo càng nghèo.
* * * * *
* * *
Pù
Nghét vác cày về nhà chờ cơm trưa. Lo quá, năm nay mưa trễ, ruộng trên khô chờ
nước. Biết làm sao.
Pù
Nghét đứng tránh đường cho chiếc xe Mobylette chạy qua. Anh Chệt trắng mập ngừng
xe ngạc nhiên: “Nghét, mày nhớ tao không?” Pù Nghét há hốc: “Cảo Kía” Hai người
kéo tay nhau vô nhà mừng rỡ, bỏ mặc chiếc xe lôi bên ngoài hàng rào và mấy con
heo kêu eng éc trên xe.
Cảo
Kía bây giờ đã lớn, bỏ tên “chó con” thành Chệt Kía. À Nghét bây giờ là Pù
Nghét, chú Nghét. Gia đình Chệt Kía còn mang ơn gia đình Pù Nghét chở che thoát
nạn cáp duồng thời trước. Hai người bạn nói chuyện huyên thuyên bằng tiếng Miên
như thời còn chạy rong chơi xóm Tà Păng Fluc. “Mầy làm gì ăn bây giờ Nghét?”
“Mày sao khá quá vậy Kía? Có xe mobylette kéo xe lôi chở heo!” Hai người đi lòng
vòng khu đất nhà Pù Nghét. Chệt Kía bỗng nghiêm nét mặt lắc đầu thương bạn
nghèo.
-
“Nghét, miếng vườn sau nhà mày rộng, sao mày không nuôi bò, nuôi heo. Nuôi bò
làm ruộng, khỏi mướn bò, nuôi heo bỏ ống.
-
“Dớ, tao làm ruộng, đủ lúa ăn là phước, có năm háp còn đi vay, con một bầy lo
cho nó ăn còn không kịp, tiền đâu sắm bò cày.”
-
“Tao thấy mày nghèo, nghe tao, tao chỉ cho mầy ăn với người ta. Chỗ ơn nghĩa cũ.
Mầy dở quá, để tao tính cho. Bây giờ khoan nói, mày cất cái chuồng bò dưới nhà
mày, cái chuồng heo sau nhà, rồi tao sẽ nói chuyện.
* * * * *
* * *
Chệt
Kía đạp chiếc xe mobylette nổ máy, mừng thầm, thêm mối làm ăn. Chệt Kía vô Sóc
hàng ngày, lúc đầu mua heo, gà ra chợ bỏ mối. Dần dần cho dân Sóc nuôi rẽ gà,
heo, bò. Gần năm năm nay, cứ chiếc xe mobylette kéo thùng xe lôi ngày ngày chở
vài chục con gà, năm bảy con heo con về chợ, chưa kể mỗi năm bắt bò con, lúc đầu
ít, sau càng nhiều, nợ chồng nợ, tiền đẻ ra tiền.
Pù
Nghét mừng gặp lại bạn tốt bụng, vợ chồng con cái Pù Nghét mơ ước nhiều hơn Chệt
Kía. Pù Nghét đẽo đục cả nửa tháng mới xong cái chuồng bò dưới sàn nhà đang ở,
vừa làm vừa tưởng tượng, cười một mình, như sắp sửa đổ lúa vô bồ. Nghèo thì đầu
óc u tối. Ruộng thì nhiều, từ đời ông bà cha mẹ, mỗi đời để lại chia mánh mung,
mới có hai đời gia đình Pù Nghét còn vỏn vẹn chưa tới mười công đất, con thì
đông mà đất thì không đẻ thêm đất. Mực nước ruộng xuống thấp thấy rõ, cá tép
chim cò biến đâu hết, thú rừng thưa dần, đất đai mỏi mòn, cây cối già lão.
Pù
Nghét hạ được cây vông đồng vừa ý trong cánh rừng thưa dưới chân núi Cô Tô, mấy
cha con thay phiên khiêng mất cả hai ngày mới về tới nhà. Pù Nghét phải muợn
tiền ra chợ mua cưa, bào, búa, xẻ khúc vông đẽo ba cái máng heo mất thêm mấy
ngày nữa. Cái máng heo phải dài, Pù Nghét lo xa, muốn heo đẻ nhiều, mau lớn. Gỗ
vông mềm, cưa xẻ cũng dễ, nhưng phải khoét lòng máng cho đều, nạo cho sạch, đốt
cho hết dâm bào. Máng cao quá, heo con chồm không tới, máng thấp quá, cơm heo đổ
ra ngoài uổng phí. Mấy đứa con nhỏ đòi nuôi gà, Pù Nghét lại lui cui đốn tre tầm
vông, mua lá lợp chuồng, lên dàn lót ổ cho gà. Lợi đâu chưa thấy, chỉ thấy công
của bỏ ra bộn, chờ ngày thâu lại trong tương lai, nghĩa là vài năm nữa, biết lấy
vốn lại, có lời hay cụt vốn. Bao nhiêu vốn liếng đổ hết vô ba cái chuồng bò,
chuồng heo, chuồng gà. Vợ chồng Pù Nghét và đám con nghèo nên mơ mộng đơn giản,
tính xa hay buôn bán mù tịt, chỉ cày cấy, cuối mùa gặt bán lúa ăn, mất mùa đi
mượn lúa, chạy quanh vòng lẩn quẩn, dù có dư dả, cúng chùa làm phước cũng
xong.
* * * * *
* * *
Chệt
Kía đi quanh trong chuồng bò quan sát, vỗ mạnh vách chuồng bằng tre mở. Chệt
không còn vẻ mặt thân thiện như mấy lần trước, đây là vấn đề làm ăn, liên quan
đến việc sinh lợi, bạn là bạn, tiền là tiền. Pù Nghét đi sau lo âu, sợ Chệt Kía
đổi ý. Chệt Kía quay lại nói “Mầy đóng cho kín ba mặt vách, chừa vách hở về
hướng Nam, mùa đông gió bấc bò lạnh. Nhớ biểu con mầy đầm nền cho thiệt cứng, sợ
mưa đất ướt, móng bò bị lở. Cửa chuồng vậy là chắc rồi.” Pù Nghét nói thêm:
“Thằng Xít con tao ngủ trong chuồng, gần cửa canh, nhà có chó mà, không mất bò
đâu mà sợ. Xóm này không ai ăn trộm đâu.” Chệt Kía lại bước vô chuồng heo, gật
đầu rồi đi về phía chuồng gà “Ê Nghét, tối phải thả chó, coi chừng chồn bắt gà
nghe.” Chuồng gà dành cho đám con Pù Nghét, mỗi đứa nuôi vài con, gầy đàn, bán
trứng. Ì Phi, vợ Pù Nghét, nao nức chờ bầy heo đẻ vài lứa, nuôi lớn, bán và làm
thịt heo đãi đám cưới con gái lớn. Bầy heo thuộc về Ì Phi. Pù Nghét lời nhứt, có
đôi bò làm ruộng , rồi bò đẻ, sẽ chia, rồi sẽ có bò riêng làm ruộng. Rồi bò lại
đẻ, nhà sẽ có bầy bò, đất nhà sàn rộng, cất chuồng thêm, rồi heo đẻ từng bầy,
lúc nhúc trong chuồng, gà đẻ từng bầy, gà trống gáy te te, gà mái dẫn con bươi
đất túc túc gọi con nghe vui tai. Sáng nghe gà gáy, heo kêu đói, bò ủm mo về
chuồng buổi chiều. Khói xơ dừa hun muỗi cho bò bên dưới nhà sàn thơm thơm. Gia
đình mang ơn Chệt Kía. “Dớ, à Kía chen là o né” (À Kía tốt quá). Pù Nghét vừa
nói vừa thổi khói thuốc vấn.
* * * * *
* * *
Chệt
Kía đêm đó về bàn với vợ, hể hả: “ Trúng thêm mối khác nữa rồi! Thằng Nghét
thiệt thà, có ruộng, đất nhà nó rộng, con đông, chắc nó không dám giựt đâu mà
sợ. Tháng sau quá (tôi) vô sóc coi chừng mấy người nuôi rẽ khác. Quá vô bắt hai
con bò cái của thằng Xai, bốn năm con heo con của bà Nen, bầy gà giò của con
thằng Tút, vừa đủ giao hết cho thằng Nghét nuôi, khỏi chở về mất công, không cần
bỏ vốn ra mua. Tiền đẻ ra tiền, bò heo đẻ ra bò heo, hà hà! ”
Chệt
Kía bắt heo trong Sóc cho nuôi rẽ, cho vay tiền lúa đầu mùa. Lúc đầu cho nuôi
heo, nuôi gà, sau có vốn, mua bò con cho nuôi rẽ. Sóc nào cũng có người nghèo
lãnh nuôi rẽ hay vay lúa của Chệt Kía.
Khi
Chệt Kía dẫn đôi bò con, bốn con heo nái nhỏ, chục con gà mái, thêm con gà trống
tới giao cho Pù Nghét, cả nhà sướng run người, ai lo chuyện nấy.Pù Nghét nắm sợi
dây vàm kéo bò vô chuồng, hốt từng bụm lúa cho gà ăn. Trước khi về, Chệt Kía dặn
:“Nuôi cho kỹ nghe, bò heo đẻ mau lắm, giàu có mấy hồi, nuôi rẽ mau giàu lắm.”
Gia
đình pù Nghét vui nhộn lên, sân nhà buổi sáng nghe gà gáy, heo ột ệt trong
chuồng, thằng Xít hãnh diện dẫn bò ra đồng ăn cỏ, chiều đuổi bò về, trên vai còn
thêm gánh cỏ nặng cho bò ăn đêm. Trọng tâm là đôi bò con, ngày ngày ngoài cắt
cỏ, dọn chuồng, còn phải gánh nước tắm bò, cạo móng, chuốt sừng, đêm thì đốt bẹ
dừa un muỗi, ngủ canh trộm. Người Miên ảnh hưởng một phần đạo Bà la môn Ấn Độ,
có lòng thương bò, cũng có thờ thần Bò trong những ngôi đền, huống chi bò giúp
việc cày bừa, kéo xe, cộ lúa.
Ì Phi
như nuôi thêm bốn đứa con. Buổi sang dậy sớm nấu cháo heo, hạ cây chuối con, xắt
chuối, đăm chuối, trộn cám. Sau giờ cơm trưa, Ì Phi xách những thùng thiếc nhỏ
đi lấy cơm heo. Ì Phi biết điều lắm, những thùng cơm heo mới luôn luôn được rửa
sạch khi đổi lấy thùng cơm heo ở nhà người ta. Ì Phi còn dọn dẹp cho sạch bếp
nhà người ta để lấy lòng họ.
Xách
thùng cơm heo về nấu với chuối cây giã nát, trộn cám, nhìn bầy heo con táp bập
bập trong máng thấy vui vui. Heo ăn xong, rửa máng, dọn chuồng, tắm heo thì đã
gần xế trưa.
Mấy
đứa nhỏ ra đồng đào trùn, bắt dế, mót lúa nuôi gà. Gà tơ mà bọn nó cứ rình kiếm
trứng trong ổ. Buổi sáng chúng phóng xuống giường ngay khi nghe gà nhà gáy thi
với gà rừng từ núi Tô vọng lại.
Vui
nhứt là về đêm, gia đình con cái Pù Nghét ngồi ăn cơm dưa, mắm, vừa thưởng thức
mùi khói un muỗi và tiếng kêu của bầy gia súc. Vài ngày Chệt Kía ghé thăm, thỉnh
thoảng ở lại ăn cơm trưa, uống nước dừa.
* * * * *
* * *
Hơn
năm sau, cả năm mệt nhọc vì cỏ cho bò, vì cơm cám cho heo, hai con bò bắt đầu
tập tễnh kéo cày, Pù Nghét nhẹ hẳn tiền mướn bò cày. Quen cực từ nhỏ, cha con Pù
Nghét đã quen nghèo, việc chăn bò cắt cỏ là chuyện bình thường của nhà nông, họ
thương hai con bò như chính con mình, đặt tên cho bò con “Thôm” con Tút. Đám cỏ
ruộng khô không đủ, họ thay phiên đi xa dần về chân núi Tô, bò đã khá lớn, bốn
gánh cỏ ăn vài đêm là hết. Hồi xưa, ruộng còn bỏ hoang, cỏ đầy đồng, lùa bò ra
đồng trống bao la, thằng chăn rảnh rang bắn chim, rong chơi. Nay mới biết, đất
còn chưa đủ làm ruộng, cỏ mọc lún phún trên các bờ mẫu. Đâu có phải chỉ riêng Pù
Nghét nuôi bò rẽ, ai cũng nuôi, mạnh ai nấy tranh cắt cỏ được bao nhiêu hay bấy
nhiêu, đôi vai Pù Nghét cũng như đôi vai những người nghèo càng ngày càng oằn
xuống dưới những gánh cỏ xa tít từ chân núi Tô về nhà.
Mấy
đứa con đầu, thằng Xít bắt đầu nghỉ học lo cho đôi bò có cỏ, lo giúp đỡ cha cày
ruộng. Trời còn thương Pù Nghét, bò khỏe mạnh, con siêng năng, dành dụm mua được
chiếc xe bò cũ kéo cỏ, đỡ nhọc nhằn hơn. Hơn năm nay làm việc vất vả, có được
chiếc xe bò và hai con bò cày ruộng, đó là lời tiền mướn bò. Sau đó, bò sẽ đẻ
lứa đầu. Như giao kết, hai con bò đầu và hai con bò con đầu cũng thuộc về chủ là
Chệt Kía, đợt bò đẻ thứ hai sẽ thuộc về Pù Nghét, chờ từ lúc lãnh bò nuôi rẽ tới
khi có bò con là khoảng ba năm. Từ đó, đợt bò đẻ kế thuộc về chủ, đợt bò đẻ sau
thuộc về người nuôi, luân phiên như vậy, ai cũng sẽ giàu. Đó là lý thuyết, đó là
ước mơ. Sau mười năm, nếu bò đầu tiên đẻ đều, mỗi bên sẽ có tám con bò, chưa kể
con cháu, chít chắt của hai con bò đầu tiên. Cả cánh đồng đám ruộng mười công
đất của Pù Nghét sẽ có một bầy bò, Pù Nghét sẽ sắm thêm ruộng, cất thêm nhà – Lý
thuyết và ước mơ được gia đình Pù Nghét ấp ủ quên lúc vất vả tắm bò cẩn thận, Pù
Nghét chưa bao giờ săn sóc con mình như săn sóc bò.
Từ
đầu năm cặp bò xà co (bò tơ) đã lớn, bò vẫn chưa có dấu hiệu cho ra đời con bò
con. Chờ lâu sinh bực bội, bao nhiêu lo âu bực tức trút lên đầu mấy đứa con, lỗi
chúng nó ham chơi, cắt cỏ không đủ cho bò ăn. Cắt được bốn gánh trần thân, vừa
đi xa, vừa đi sớm tranh giành cỏ với người khác. Suốt ngày suốt đêm, cứ bò với
cỏ, cỏ với bò.
* * * * *
* * *
Chệt
Kía ghé thăm bò heo Pù Nghét thường hơn: bạn xưa, gặp bữa ăn cơm, Chệt Kía tự
nhiên. Có khi ổ gà đang ấp, Ì Phi luộc trứng gà lộn đãi chủ bò, khi Chệt Kía về,
mấy đứa con mới dám la bải hoải. Bầy gà ấp vừa lớn, giao phân nửa gà tơ, gà giò
cho Chệt Kía. Nhiều nhà trong Sóc nuôi rẽ cho Chệt Kía, không riêng Sóc này, còn
Sóc Xla Đom, Sóc Chè Ên, Sóc Tà Pò … nên mỗi ngày Chệt Kía đều chở đầy xe lôi gà
về chợ giao cho bạn hàng bán.
Chệt
Kía đi từ Sóc này qua Sóc khác coi chừng coi đỗi. Heo nái vừa lớn, phải kiếm heo
tốt bỏ nọc, phải biết ngày heo nái đẻ. Nhiều khi chủ heo không có mặt, túng quá,
người nuôi rẽ dám bắt heo con bán rồi vô sòng bông dụ nướng sạch tiền. Chủ heo
hỏi thì họ nói heo bịnh chết, không lẽ cắt thịt trừ. Cha mắng con cũng vì bò, mẹ
chửi con gái cũng vì heo, mấy đứa nhỏ đánh lộn nhau cũng vì gà. Mà bò, gà, heo
của thiên hạ, của Chệt Kía ở ngoài chợ, Chệt Kía có thấy có nghe đâu.
Ban
ngày thả bò ra đồng phải có đứa chăn, rủi bò chạy lạc mất, ai dám cho nuôi rẽ
lần sau. Cực nhứt là thằng Chóc, thay anh nó ngủ ngay trong chuồng bò, thở sặc
sụa vì khói un muỗi. Thằng Chóc cũng như anh nó, cứ trông cho có con bò nghé
riêng của nhà cỡi cho sướng, cỡi bò Chệt Kía chưa đã thèm.
Niềm
vui đầu tiên khi thằng Xil thấy vú hai con bò cái đã căng sữa, biếng cày, ngày
được cỡi bò nhà sẽ gần hơn. Khi hai con bò nghé dứt sữa, Chệt Kía dẫn đi ngay,
hai con bò nghé là đủ vốn, còn hai con bò cái là lời. Lứa bò năm sau sẽ thuộc về
Pù Nghét, năm nay thì chưa, ừ, chờ đã hai năm, còn một năm nữa đâu có lâu. Hy
vọng đi! Chệt Kía dặn Pù Nghét cho bò ăn, dặn thêm lúa cho có sữa, nhưng không
nhắc ai trả tiền mua lúa. Hết bò rồi tới heo, Ì Phi mới thấm thía, khám phá ra
việc nuôi heo rẽ hình như chỉ lời lóm chút đỉnh, so với công lao bỏ ra thì không
đáng, nhưng không nuôi thì làm gì bây giờ, ngồi không thấy khó chịu.
Cơm
heo ngày càng ít, có khi chủ nhà không dư được lon sữa bò cơm thừa cá cặn. Đi
lấy cơm heo mười mấy căn nhà, cả buổi trưa nấu chưa được nửa “trả” cơm heo, phải
mua cám thêm.Mấy bụi chuối sau nhà đốn gần hết để xắt nuôi heo, hạ một cây chuối
con là mất một quày chuối. Giá tấm cám lên, tiền dành dụm gói trong khăn “chàn
tắm” khẻ lâu cũng cạn.
Sau
ba năm vất vả, bốn con heo đẻ trước sau được bầy heo con mười bảy con. Cả nhà,
nhứt là con gái lớn, mừng cuống quit, nhìn bầy heo như chuột xạ bú mẹ, Chệt Kía
ghé thật đúng lúc chia vui với gia đình Pù Nghét “Đó, mầy thấy chưa Nghét, không
giúp thì thôi, tao giúp ai, người đó khá hết thẩy! Nhớ mua cám cho heo mẹ ăn mau
lợi sức nghe”.
* * * * *
* * *
Vài
tháng sau, như đã giao hẹn, Chệt Kía cầm sổ tính. Ba con heo đầu là công trả cho
chủ heo giống bỏ nọc. Mười bảy con, trừ ba con, còn mười bốn con, chia hai, mỗi
bên bảy con, gọn quá, chẵn chòi.
Chệt
Kía bắt mười con heo con trói bốn chân bỏ lên xe lôi. Ì Phi và đứa con gái lớn
nhìn theo, nghe heo kêu eng éc dưới cơn nắng đổ lửa mà thương, mà nhớ lúc tắm
heo, lúc cho heo ăn, như rứt ruột con mình.
Trở
lại chuồng heo, Ì Phi nhìn bốn con heo nái nằm, công lao nuôi mấy năm, vẫn thuộc
về Chệt Kía. Hai năm vất vả, bây giờ mới dư được bảy con heo con, bằng cườm
chưn, mỗi con nặng chừng ba ký thịt. Ì Phi thở dài, thôi ráng nuôi tiếp tục, năm
tới heo mẹ lại đẻ bốn lứa khác, lứa heo con này sẽ lớn, bán làm của hồi môn cưới
chồng cho con gái, trễ rồi, nó đã 20 tuổi. Tội nghiệp con quá, lại phải chờ.
Tiếng
heo kêu đói trong chuồng làm Ì Phi hết buồn, lại tắm heo, xắt chuối, nấu cám,
lấy cơm heo. Sang năm bầy heo sẽ lớn lên. Pù Nghét sẽ có hai con bò con, rồi bò
con sẽ lớn lên, nhà giàu thêm, cất nhà rộng thêm cho con có chỗ ngủ. Thằng Xil,
thằng Chóc, thằng Bai sẽ có bò riêng, sắm thêm ruộng bên miệt Tà Lấp, buổi tối
ăn cơm sẽ có thịt heo, Đôn Tà có gà luộc cúng. Giấc mơ Ì O giống giấc mơ Pù
Nghét.
* * * * *
* * *
Ngoài
việc cho nuôi rẽ, Chệt Kía còn cho tiền lúa đầu mùa, cho vay, tới mùa gặt Chệt
Kía mang bao tới góp, làm ăn cũng vất vả, nhờ ngay thẳng nên trời cho. Cũng gặp
năm hạn, lúa lép, kẹt vốn cho vay, phải đợi tới mùa sau. Có năm vài con bò xà
co, heo con lăn ra chết, bán thịt vẫn còn lỗ. Bù qua sớt lại, ăn xài các cuộc,
tiền vô tiền ra, vài năm cất thêm từng lầu.
Từ
chiếc xe đạp đòn dông, chở từng tạ lúa, chục con gà, vài con heo nuôi rẽ, rồi
lên xe mobylette kéo xe lôi, rồi Lambrette ba bánh, rồi xe Daihatsu, vợ chồng
Chệt Kía tự khen mình làm phước giúp đỡ dân nghèo trong Sóc chung quanh quận.
Vào các dịp lễ Cho Snăm Mây (tết Miên), Đôn Tà, Thơ Bun (làm phước) Chệt kía đều
cúng chùa, cho người nuôi rẽ ký đường, cân lạp xường, gói mì xụa, họ mừng, cho
lại bánh tét, bánh ít, trái cây. Dù sao gia đình Chệt Kía cũng được ăn thịt heo,
thịt bò, thịt gà.
Người
lãnh nuôi như Pù Nghét, nếu gặp may, chịu khó chờ đợi, cũng có cặp bò làm ruộng,
bầy heo như bỏ ống, bầy gà cho con nít, chỉ bỏ công, Chệt Kía bỏ của.
* * * * *
* * *
Nghề
nào cũng vậy, có lúc thịnh lúc suy, chỉ thấy suy chứ chưa thấy thịnh. Chiến
tranh kéo dài, gia tăng, thuế trong thuế ngoài, vùng núi Tô không còn an toàn,
mìn bẫy, pháo kích, còn cỏ đâu cho bò ăn. Đời sống càng lúc càng khó khăn, chưa
đến đỗi đói, nhưng ít ai còn cơm dư cho heo ăn. Chệt Kía nhanh trí đổi nghề, bán
bò heo, mua máy cày, cày mướn, có lợi hơn bò, chiều đem máy cày về quận an toàn.
Pù Nghét chưa kịp có đôi bò cày ruộng. Chệt Kía không dám vô Sóc, buôn bán luôn
ở ngoài chợ, an bình: túc tâu, tà pu nâu (xuồng đi, bến ở), người đi khỏe ru,
người ở lại lãnh họa ban đêm, pháo kích, đóng thuế hai đầu.
* * * * *
* * *
Chớp
mắt mà mấy chục năm, ai cũng già hết. Pù Nghét lên Tà Nghét (Ông Nghét), vợ là Ì
Phi lên “Dơi” Phi (bà Phi), con cháu cả bầy mà đất không nở thêm cho rộng chỗ để
chúng nó ở.
Năm
nay hạn, nghèo quá, cái gì cũng mắc, lên giá. Tuần lễ sau Thanh Minh là Chô Snăm
Mây (vô năm ăn Tết), Tà Nghét được thơ trên xã kêu đi lãnh quà, 10 lí lô gạo, ký
muối i-ốt. Có gia đình Việt kiều gốc ở chợ, chở năm trăm phần quà nhờ Hội Chữ
Thập Đỏ phát cho các hộ nghèo. Tà Nghét đứng xếp hàng lãnh gạo muối. Mấy người
thơ bun làm phước đứng bên xe chở gạo, họ còn quá trẻ, tuổi con cháu Tà
Nghét.
Lúc
lãnh gạo muối xong, Tà Nghét tò mò hỏi: “Chau col à na nưng?” (Cháu con ai vậy?)
-“Pa Kía” (Ba Kía). Tà Nghét nghe tên quen quen, nghe ở đâu lâu rồi, già cái gì
cũng mau quên.
- Pa
Kía à ? Ở đâu vậy?
- Pa
tôi lúc trước tiệm Phước Lợi ở ngoài chợ. Ổng dặn tôi về Ô Thôm thí gạo thơ
bun.
- Sao
biết Ô Thôm mà thơ bun ?
- Pa
tôi nói hồi xưa gốc gác ổng ở Ô Thôm, ổng cho tiền lúa, cho nuôi rẽ. Ổng nói làm
nghề cho vay tội lắm, ăn chận ăn bớt của người nghèo. Ổng còn nói cho nuôi bò,
nuôi heo rẽ ác lắm, mình làm giàu mà người ta không đủ ăn. Ác lắm! Ổng dặn tôi
về mua gạo bố thí làm phước cho ổng bớt tội.
-
Phải Cảo Kía không? Tà Nghét cắt ngang câu chuyện.
-
Phải, sao Ta biết Pa tôi?
- Nó
ở đâu bây giờ?
- Pa
tôi được bảo lãnh đi Canada.
Tà
Nghét ôm bịch gạo muối như ôm cứng người bạn xưa, hai chân run lên cầm cập,
bương bả về nhà, la lớn vô tai Dơi Phi điếc nghễnh ngãng.
- Mè
Âu ơi ! Cảo Kía thơ bun. Hồi đó nó cho mình nuôi bò, nuôi heo rẽ, bây giờ nó dặn
con nó thơ bun cho người nghèo, cho gạo cho muối. Trời Phật thương nó, vợ con nó
ở ngoại quốc hết. Cầu cho nó mạnh giỏi. Xa Thút, Xa Thút !
Chú thích: Nuôi “rẻ”, nuôi
“ghẻ” hay nuôi “rẽ”
Có
người nói nuôi rẻ vì không cần tiền vốn mua bò heo, sau khi bò heo có con, họ
được hưởng. Tôi chưa từng nghe người già nào nói : “nuôi rẻ” (âm /r/)
* Một
ông xứ tôi, sinh năm 1923, nói “nuôi ghẻ”, vì nuôi bò heo của người khác, không
phải là chủ, nên nuôi bò heo như con ghẻ, không phải con ruột.
* Một
bà, năm nay 86 tuổi, gốc Chợ Mới, Ba Răng Đốc Vàng, thuộc tỉnh long Xuyên, nói
“nuôi ghẻ” . Dân miền Chợ Mới thời trước khi phát âm, âm /r/ thành âm /j/ “cá rô
bỏ vô rổ” thành “cá dô bỏ vô dổ”. Nhưng họ có âm /g/ “ghẻ”, nếu muốn nói “nuôi
rẻ”, họ sẽ nói “nuôi dẻ”.
* Dân
Sóc Trăng, Rạch Giá, Trà Vinh, âm /r/ thành âm /g/, “cá rô” thành “cá gô”, nhưng
họ có âm /j/.
Vì đi
học, phát âm theo sách vở, tôi đọc “nuôi rẻ”, nhưng chưa chắc ý nghĩa đúng. Vậy
“nuôi rẻ” hay “nuôi ghẻ”, tôi chưa giải thích được.
*
Việt Nam Tân Tự điển (Minh họa), tác giả Thanh Nghị, do một nhà xuất bản trong
nước ấn hành năm 1991, trang 221 có viết “cấy rẽ (repiquer pour partager la
recolte): cấy rồi về sau chia lại mùa màng”. Ở đây, chữ rẽ mang dấu ngã.
Trang
1121: RẼ: chia, tách: xem tiếng Chia rẽ, làm rẽ, đường rẽ. Trang 793: Làm rẽ:
làm ruộng chia phần huê lợi.
* Mè
Âu ơi! = Má Ba ơi! (tán thán tự)