"Xu-u-um"
Phong-Hưng Lưu-Nhơn-Nghĩa
Khu nhà từ ngả tư
đường vô Chưn Phnum là xóm cuối cùng nối dài tới bờ ruộng trên của quận lỵ hẻo
lánh nầy. Không biết phải gọi là xóm gì, đường gì, không ai buồn đặt tên cho
dễ nhớ. Chánh quyền địa phương xưa là ông Phủ, ông Huyện, sau đổi thành
Quận, đều là gốc Miên, mấy ổng làm sao biết tên các danh nhân Việt Nam mà đặt
tên đường.
Nếu tò mò đi vào xóm nhìn trên cửa
nhà có tấm bảng nhỏ vẽ tay "Liên gia số... Khóm số..., khách quen cũng chịu thua, phải hỏi tên người thì mới
biết.
Xóm chen
chúc đủ hạng người, làm đủ thứ nghề. Nhà nào trước sân có cần-xé rau, dưa leo, bí rợ, có thể họ làm rẫy mang về bán, hoặc vào Sóc mua
bán đồ hàng bông. Nhà nào có mấy con bò đứng nhơi rơm, mùi "ách-cô"
(1) un khói thúi thúi thơm thơm quen thuộc, biết là
chủ nhà nuôi bò hay lái bò. Vài nhà bề ngoài có vẻ vô công
rỗi việc, nhưng họ giàu ít ai biết, đó là mấy người chuyên vô Sóc Miên ở Tà Pò,
Sóc Tiết, Sla-đom cho tiền lúa, cho nuôi bò rẻ, nuôi heo rẻ. Họ bỏ tiền
mua bò con, heo con gởi trong Sóc, người Miên có ruộng đất nuôi chia lời, dĩ
nhiên chủ có nuôi rẻ, chia nhiều hơn, người nuôi cực đã đành, nhưng có bò làm
ruộng, dân bòn-ca (2) không biết lường công, có đủ "nhăm bai phật xạ"
(3) là vui rồi.
Lọt vào hẻm theo
con đường đất, sâu vô trong, thường nghe tiếng gà gáy, đó là xóm nuôi gà nòi,
chờ đem vô trường gà cáp độ. Lại có nhà để mấy cái khạp da bò (4) đựng nước
mưa, trong khạp có xác mía để nuôi lăng quăng cho cá
thia thia ăn, đó là dân đá cá.
Trời nắng còn đỡ, mùa mưa nước ngập
tới mắt cá chưn. Nghề nào trong xóm nầy xem ra khó khá
nổi, nuôi heo, nuôi bò rẻ có khi bị xộ, bò heo chết thì cụt vốn, cho tiền lúa,
tới tới mùa lúa háp thì chửi trừ, làm rẫy khi trúng khi thất, đá gà, đá cá là
loại cờ bạc, nghề không mấy lương thiện, nhưng không phải bất lương, chỉ làm
phiền lòng các bà vợ.
Lỡ kể thì kể cho hết, nhà nào giắt
bao bố trong nhà biết là nhà đó cho tiền lúa, cho một lời hai! Đầu mùa dân làm ruộng trên không đủ vốn mua hột giống, phân bón,
thiếu ăn, phải tìm chủ cho tiền lúa, lấy tiền mặt, trả bằng lúa. Tới mùa gặt, chủ cho tiền lúa ra ngay ngoài đồng góp lúa tại chỗ,
để trễ không có lợi. Ai cũng chê nghề ác đức, nếu họ
ác đức thì đừng tới họ để hỏi tiền lúa, họ "đâu có ép nài ai lấy tiền lúa
đâu mà than phiền".
Nghĩ hoài mà không ra, mấy thế hệ
qua, trước ngày Tây, Ma-rốc đổ bộ, già thì chết, con cháu tấn lên thay, mặt mũi
giống cha mẹ ông bà, tiếp tục nghèo mà có ai đói khát bao giờ đâu.
*
* *
Chú Sáu Tý là một "khả tích kỳ
nhân" xóm nầy, nhà chú khuất hẳn trong đám nhà lá, khó nhận ra, bên cạnh
nhà ông Tà Bu làm nghề cúng giải bịnh tà. Người chú cao lỏng
khỏng, tóc dài, râu lởm chởm, nước da và màu áo Pyjama chú mặc hằng ngày có
cùng màu với cánh cửa liếp lá. Buổi trưa nằm trên
chõng tre trước nhà, tinh mắt lắm mới nhìn thấy chú, như con thằn lằn mốc mốc
đeo trên tường xi-măng.
Thím Sáu dậy khi con gà nhạn vỗ cánh
gáy sáng, khi ông Năm Hui dẫn nó đi quầng sương trên bãi cỏ. Thím
ôm đống quần áo ra giếng, nhúm lửa để nấu áo quần. Thím lục trong túi áo
quần xem có tiền bạc giấy tờ gì không, thường chỉ có giấy tờ rác rến, tiền chưa
bao giờ có, rồi bắt đầu chà đồ tới đứng bóng, những thau áo quần sắp dài theo giếng nước thấy ngộp. Nhằm hôm gió bấc cuối năm, trong
người bần thần mà vẫn cố giặt cho hết chừng ấy áo quần, thím hơi tủi thân
"dù cho mẹ chồng ác nhơn như mụ Tào Thị, mẹ ghẻ của Nghi Xuân Tấn Lực
trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa, chắc cũng không bắt con dâu làm cực hơn
tui".
|

|
Nước sôi sùng sục, thím vớt áo quần
nấu bằng hai cây đũa bếp lớn bỏ vô thau nước lạnh, rồi bỏ đồ khác vào nấu tiếp.
Thím ngồi chồm hổm, nhúng áo quần cho nguội, chà xà-bông mạnh tay trên cổ áo hoặc lưng quần, chà nhẹ cục xà-bông trên phần
nào ít dơ để tiết kiệm xà-bông. Áo quần bỏ giặt được đánh dấu trên lai quần hay
vạt áo để dễ nhận ra. Dù đã kiểm soát túi áo quần trước, nhưng lâu lâu cũng bị kim tây bỏ quên đâm đầu ngón tay, đau thấu trời xanh, máu đỏ
thau nước, chưa kể vò nhằm những bộ nút kim loại gồ ghề thốn tay. Hôm nay phải dùng tới bàn chải đánh sạch bộ quân phục trên quận đưa
xuống. Đồ nhà binh túi ơi là túi, vốn đã nặng, ngâm
nước lại càng nặng thêm, túi chứa đầy nước, mỗi lần nhúng nước xả, thím ngồi
xuống đứng dậy liên tục như tập thể thao, xả nước ba bốn lượt mới sạch xà-bông.
Vắt cho khô nước, kéo bừng bựt áo quần ước cho thẳng, khi ủi sẽ nhẹ tay hơn. Áo trắng có khi cần hồ dương, thím xé một miếng
dương giấy bỏ vô thau quậy đều nhúng áo vào cho đều, mới lộn bề trái ra ngoài,
mang ra phơi trên những cây sào tre, chỉ có sào tre mới chịu nổi những bộ đồ
nhà binh nặng, dây chỉ căng làm áo có lằn và dễ bị sét dính áo quần. Gặp hôm nào có mấy chục bộ đồ trên quận đưa xuống một lần, thím
phải giặt thật gấp, mấy ngày nữa có cuộc lễ, diễn hành, mưa gió gì cũng phải
giao cho đúng hẹn. Tiền bạc sao cũng được, tính sau,
người ta để yên cho mình tiếp tục làm ăn, nhứt là họ nhắm mắt cho chú Sáu đi
mây về gió, không làm khó dễ gì là phước rồi. Mấy bộ
đồ nhà binh nầy, biết đâu được, lần tới sẽ rách nát, nói chi đến người mặc nó.
Tiền công hỏi ai, thôi coi như tiền phúng điếu. Bình
thường, ai có dám bỏ giặt ủi, ắt phải khá, đều thanh toán sòng phẳng, chỉ có
nghèo mới giựt nhà giàu, chứ nhà giàu ai lại giựt công của người nghèo như vợ
chồng chú Sáu, tiền công có là bao mà giựt cho mang tiếng.
Đừng tưởng chú Sáu tầm thường mà lầm
à! Chú thím quan trọng mà ít ai biết. Chỉ cần phơi hai
hàng áo quần nhà binh là có "người" báo cáo cho "ở trong"
biết, là có tiệc tùng, ở Tỉnh vô, ở Vùng xuống, nên chuẩn bị phục kích hay
tránh đụng lớn. Chuyện nầy nói nghe qua rồi bỏ, nói đi nói
lại không có lợi.
Thím vẫn quần quật với áo quần, mấy
ngày tới, ngày lành tháng tốt, đám cưới liên miên, họ vui, mình có việc làm có
tiền. Quần tây, áo sơ-mi, pyjama giặt nhẹ tay, nhưng phải cẩn thận, nhiều chiếc
áo cũ, bị sờn rồi rách cổ áo, lưng áo nhiều mồ hôi dễ mục, lỡ làm rách khó ăn
khó nói, thím thường nghe những câu nói mát "cái áo, cái quần bận cả chục
năm nay không rách", gặp trường hợp nầy, thím chỉ dám trả lời một mình với
chồng "10 năm áo rách là phải rồi". Thím vò thật nhẹ, bọt xà-bông như
bong bóng trong thau bay lên rồi vỡ trong không khí, sợ nhứt là cây viết nguyên
tử bỏ quên trong túi áo trắng, lỡ tay, viết gẫy, màu xanh màu đỏ bám vô áo, dù
có thuốc tẩy cũng không sạch được, chỉ còn có nước đi năn nỉ trừ thôi, chứ tiền
đâu may áo mới thường cho chủ. Nói là nói vậy, chứ thím Sáu
đã kinh nghiệm nhiều năm, sơ sót hoài thì ai dám tới bỏ giặt. Ít nhứt
nửa năm mới giặt được bộ đồ lớn, thời đó, mặc áo sơ-mi trắng, pyjama đi ăn tiệc
là sang rồi, loại đồ lớn chỉ có hai bộ, nếu không kể áo bốn túi của ông Phán Cu
Ton, ông Cai Tổng Ta-Ul. Đó là hai cái áo bành-tô của ông Hội
Đồng Kết và ông Đốc Nâu già, áo có một hàng nút đồng, bốn túi, mỗi túi thêm một
nút đồng, cổ cao, bên trong vai áo độn vải dầy cộm nước rút vào đó phơi lâu
khô. Ông Hội Đồng và ông Đốc Nâu may cái áo đó từ khi ông được Tây phong
chức Hội Đồng và lúc ông Đốc Nâu đậu Certificat đổi về đây dạy Cours
Élémentaire đầu tiên. Ông Hội Đồng thường mặc áo bành-tô màu
xanh nhạt, quần lãnh đen, thắt dây nịt bạc. Ông Đốc Nâu mỗi lần tới tiệm
giặt đều nói tiếng Tây "Vous lavez les vêtements hả?".
Chú thím Sáu không học tiếng Tây, nhưng hiểu điều ông muốn nói giặt ủi chớ gì?, nên khi giao áo, ông Đốc gật đầu "Bon, bon!"
rất vừa ý.
Giặt tới trưa đứng bóng, hai tay
thím khô vì xà-bông, áo quần dù vén khéo tới đâu cũng ướt sũng nước và xà-bông,
hai bàn tay khô hết chất nhờn, mỗi lần đếm tiền phải thấm nước miếng.
Làm nghề giặt ủi là làm dâu trăm họ,
dâu của mấy ông già chồng, đàn bà đâu có đi đám cưới, hội họp gì quan trọng mà
chưng diện, mà bày đặt ủi với giặt, cũng như dân bòn-ca, đi chân đất, quần cành
tăng (5), quần cheo (6) vải đen, vải ú, áo phá-lấu (7) vải thô, mặc đi làm
ruộng vợ họ giặt, họ còn chưa biết chú Sáu làm nghề gì nữa.
Thời đó, trước 1950, quận chưa có
nhà máy đèn, chỉ có chủ tiệm may lớn mới có bàn ủi than. Còn các chủ tiệm dù
giàu có, ăn mặc giản dị, ở nhà mặc áo thun lá, ra đường mới xỏ cái áo sơ-mi vô,
về nhà cởi ra, áo cũng không cần ủi, nên chưa có nhu cầu; lại nữa, mua cái bàn
ủi, cả năm xài vài lần không xứng đáng đồng tiền, các bà vợ hay đứa ở chưa quen
sử dụng, than tro bay tứ tung cháy lốm đốm, lọ nghẹ dính mền, áo quần, có khi
bàn ủi nóng quá, cháy một mảng, tiêu cái áo. Nhờ vậy mà chú thím Sáu còn sống được,
nếu như ngày nay, văn minh, có điện, ai cũng có tủ lạnh, máy giặt, bàn ủi điện,
người ta biết dùng thứ đó thì tiệm giặt ủi chú thím Sáu dẹp sớm.
Chú thím Sáu là
đôi vợ chồng rất xứng đôi, tuy hai người là hai thái cực. Chú Sáu thì ốm yếu, thím Sáu người
chắc nịch, hai tay gân guốc, nhanh nhẹn vì cả đời vất
vả nuôi cái ông tiên nho nhỏ trong nhà. Một tên bợm nhậu, rình mò tới sào phơi
áo quần định chôm vài cái bán uống rượu, bị thím Sáu bắt gặp tại trận, gã mới
mở miệng chối beo bẻo, thì đã bị thím tát một cú "rờ-que" làm sưng má
và trặc gân cổ, phải kêu thằng Xum tới đấm bóp và chữa mấy ngày chưa hết.
Ngày ngày, chú Sáu
luôn luôn có lệ dậy trễ hơn thím Sáu. Khi chiếc xe Lam tài nhứt chạy vô Sóc ở Ngả Tư bắt đầu nổ
máy cành cạch, chú Sáu mới chống tay ngồi dậy đốt đèn dầu phộng ngay trong
mùng, ngọn đèn leo lét nóng dần làm ấm và thơm không khí trong mùng, chú tiêm
một điếu, nằm dài ra kéo một ngao, nuốt cả khói thơm và giữ cho nó thật lâu
trong người, nhựa càng ngày càng mắc, lại khó mua, khói luồn trong mạch máu,
thớ thịt ấm ấm, đê mê, chú rút cổ, cử động hai vai. Để da thịt, tóc tai, áo quần, mùng mền chiếu gối được ướp bằng chất thơm,
phải tiết kiệm và không thể phí phạm khói, chú nằm nướng thêm cho đã, nói chơi
nếu rủi có pháo kích, người nhà không lôi chú xuống hầm chắc chú cũng nằm lì
trong mùng, đã là tiên, làm sao chết bậy được.
Khi chuyến xe
Lam cuối cùng rời bến, chú Sáu mới dậy, thật sảng khoái, khói tan dần trong
nhà, còn lảng đảng mùi thơm nhè nhẹ.
Chú Sáu rửa mặt
xong, lấy cái khăn choàng tắm chà khắp mình mẩy. Cái khăn rằn vải
thô thích hợp cho việc làm sạch cáu ghét trên người chú, xong, chú quấn khăn
quanh cổ, để khi cần dùng tiếp.
Căn nhà lá nhỏ, vách ván, ẩm ướt
suốt năm. Chú Sáu uống ly trà đậm, thêm điếu thuốc mới đủ
hứng khởi bắt đầu ngay công việc. Tất cả đã được chuẩn
bị sẵn, đâu ra đó. Cái lò than hồng nóng nực, thím Sáu
đốt sẵn, mấy cái bàn ủi gang nướng trên cái vỉ lò. Trên cái bàn lớn kê
sát tường, chỗ làm việc được sắp xếp thứ tự. Bên tay trái trên cái ghế đẩu là
ca nước lạnh, bên tay phải là lò than nướng bàn ủi, trên bàn là một miếng bố
tời cắt ra từ bao gạo chỉ xanh, miếng vải ka-ki xám và cái mền phẳng lì như
miếng ván bào láng, nhiều vết cháy nhạt hay đậm đen, lổ chổ vì bàn ủi. Sau lưng chú là bộ ván ngựa, những đống quần áo được xếp thự tự,
cái nào giao trước thì ủi liền.
Trong nghề mới
biết, ủi quần vải ka-ki dầy trước, cần thật nóng mới thẳng và hết nếp nhăn, áo
nylon ủi sau cùng, khi bàn ủi bớt nóng. Nếu sơ suất dễ bị cháy, cháy áo
còn hơn cháy da mình và cháy túi. Con ngựa chạy đường dài rủi may cũng
phải vấp. Thằng con ông Đội trong đồn thời Tây hăm đốt nhà chú, khi chú lỡ ủi
cháy cái quần vải Tropical duy nhứt mới may của nó, vải Tropical mới có lần
đầu, xui là vào cuối năm, thợ may làm sao tìm được loại vải hiếm có để may bắt
thường cho nó mặc ăn Tết, chú thím Sáu mất ăn mất ngủ sợ thầy Đội tới nhà mời
lên bót.
Năm nào cũng vậy, cuối năm, áo quần
ủi chất cao trên bộ ván ngựa, thấy hết muốn làm, biết chừng nào mới ủi hết đống
áo quần đó; nhứt là lúc thiếu cơm đen, tay chân uể oải, đầu óc lơ mơ.
Việc đã làm thành thói quen, quen tay, không cần suy nghĩ, cứ bao nhiêu động tác trở đi trở
lại. Khi lò than nướng bàn ủi đỏ hồng, hết khói lên, bàn ủi cũng vừa đủ nóng,
nóng quá ủi dễ cháy, nguội quá ủi không hết nếp nhăn và không có
"li", khói bám bàn ủi có thể làm dơ áo quần. Tất cả
đều được tiên liệu. Động tác đầu tiên là với tay
lấy ca nước súc miệng rộc rộc cho sạch thức ăn còn dính trong kẽ răng. (Lúc mới
vô nghề, vừa ăn cơm với cá kho xong, quên động tác cần thiết đầu tiên nầy, chú
phun một bãi nước miếng pha nước mắm lên áo). Sau đó,
chú ngậm một ngụm nước, phùng má, cầm hai cái cổ áo, giũ một cái, qua đầu sang
trái, rồi sang phải vừa phun đều cho đủ ướt cổ áo, hớp thêm ngụm nước, ngước
lên phun phì phì vừa cúi đầu xuống, như gật đầu, đủ ướt sương sương vạt áo và
lưng áo. Đặt áo trên bàn, chú với lấy miếng vải quấn quai bàn ủi nhúng vô thau
nước lạnh cho dịu lại, chà bàn ủi trên miếng bố-tời cho sạch tro bụi than, đẩy
bàn ủi trên miếng vải dầy xem có cháy xém không, rồi mới bắt đầu ủi cổ áo, tay
áo, hai vạt áo, lưng áo, máng áo lên giá cho nguội để chiều xếp lại đi giao,
xếp thế nào giống như cái áo bán đựng trong hộp, không có nếp nhăn.
Năm qua tháng lại,
có mấy lúc thảnh thơi, thảnh thơi thì thiếu thốn, thiếu nhựa. Nghề giặt ủi dù không bị cạnh
tranh, cũng giống các nghề khác, lên xuống bất thường, có khi còn bị đào thải
như mấy anh nài nuôi tượng chở khách, mấy anh đánh xe
ngựa chở đồ hàng bông bị xe Lam, xe đò cướp khách. Làm ruộng
làm thầy lên xuống có mùa. Mùa nóng nực, khí trời độc địa sau trận mưa,
hơi nước bốc lên, con nít ấm đầu, tiệm thuốc bắc Vạn Trường Xuân và Bảo An
Xương khấm khá, mấy ông thầy Tàu cười ha hả, vừa tán thuốc trong cối, tiếng len
ken nghe vui tai.
Tháng cuối năm, người giặt ủi cực ơi
là cực; những tháng ra giêng, hay tháng mưa dầm, ngồi chờ người mang áo quần
tới mỏi mắt, cũng như các tiệm may không nghe tiếng
đạp máy. Sau mùa gặt, đám cưới đám hỏi liền liền, ngày lành
tháng tốt, tân hôn vu qui, giặt ủi suốt ngày đêm, thuốc đầy đủ, chú Sáu mặt
tỉnh táo hồng hào ra.
Cái nghề tạm bợ, không đáng trọng
cũng không ai khinh, không cách gì phát đạt như chủ tiệm may, tiệm tạp hóa.
Thỉnh thoảng, ngồi uống trà rảnh rang, chú Sáu cũng tìm ra chút lý do để hãnh
diện, khỏa lấp cái nghèo. "Muốn đi ăn đám cưới
coi cho được phải bận quần áo tôi ủi à! Ông Hội Đồng, ông Đốc
Nâu khen tui ủi khéo như thợ ở bên Tây". Chú Tư Ngọ hỏi móc:
"Ông Hội Đồng, ông Đốc Nâu có đi bên Tây hồi nào mà biết bên Tây?". Chú Sáu không thèm nghe, tiếp tục: "Tôi từng
giặt ủi cho mấy ông Tây hồi xưa, áo veston, áo Ba-đờ-xuya, áo măng-sết, áo có
cầu vai màu đỏ màu xanh khó ủi lắm. Xứ nầy ai hơn tui, anh chỉ coi?". Chú Tư Ngọ vuốt đuôi: "Phải rồi, xứ nầy anh
hạng nhứt, có ai làm nghề nầy ngoài anh đâu".
Chú Sáu chứng kiến nổi trôi theo bao
nhiêu sự thay đổi vải vóc, thời trang từ thời Tây tới giờ, nhắc lại thời cũ,
ông Cai Tổng Tà-Ul ăn mặc ra sao chưa chắc có người nhớ, chú nhớ vì lâu lâu ông
Cai Tổng đi xe con cóc từ Ô Thôm ra bỏ giặt mấy cái áo lớn để đi dự đấu xảo ở
Ta Keo. Thời năm một ngàn chín trăm oảnh tẹt, dân thường mặc áo bà ba đen, các
chú mặc áo Tiều có nút thắt, dân thầy chú thì mặc quần Short trắng hay quần dài
trắng ống rộng, vải may hết khổ, áo măng-sết, đeo soi mát, đội nón nỉ, đi giày sandal,
dắt xe máy đầm, sang trọng biết chừng nào. Ủi quần tây nầy
phải bàn ủi thật nóng, phải giũ hết bụi cát đóng trong lai quần. Dần dần
đồ Tây thay thế đồ bà ba, áo Tiều, quần cheo, chỉ có mấy ông đạo núi Cấm và dân
theo đạo Hiếu Nghĩa ở Ba Chúc còn mặc bà ba đen, bới
tóc, quấn khăn. Hầu hết dân chợ mặc đồ Tây. Năm đó,
nghe đâu khoảng năm 1945-47, có loại vải nhập cảng bên Tây, màu nâu lợt, hai
bên rìa vải dệt màu đỏ, trắng, xanh, thợ may tiết kiệm không cần cắt bỏ, vì
phần vải đó nằm ở lai quần, xếp vô trong may, khỏi đột chỉ, không ai thấy. Vậy
mà Việt Minh họ biết, ai mặc quần vải nầy là Việt gian, có cớ "lên núi cho
mò tôm", vì rìa vải là lá cờ tam sắc của Tây. Oan ưng có
giải bày cũng đã muộn. Chú Sáu cũng biết người nào ưa
mặc vải nầy (mấy ông Thầy Ký chớ ai). Lúc đó chú Sáu còn trẻ, theo Thanh
Niên Tiền Phong, cũng vác gậy đi "Một, hai, hai một, Tây đốt nhà hổng còn
cây cột", Chú đã báo cáo cho bên trong, công lớn lắm, mà sau nầy Cách Mạng
vô không tặng cho chú cái huy chương nào, còn hăm he chú về chuyện cái bàn đèn.
Cái quần Tây dài ống rộng màu trắng
ngự trị lâu nhứt, sau đó quần Short mất thay thế bằng quần màu:
"Thanh niên mới chải đầu láng
bóng
Chải cánh chim lóng nhóng chốn ca
lâu
Áo dài tay
xúng xính chiếc quần màu
Giày bóng lọng ngồi trên xe máy mới
Sống trong nước nhà đầy lửa khói
Dòng máu người đỏ ối khắp giang sơn
..."
Sau đó, chú Sáu Tý chứng kiến thêm
cái cảnh đổi đời, Tây rút đi rồi, mất luôn cái quần Short, thay bằng quần ống
túm theo kiểu phim cao-bồi nhập cảng kiểu bên Mỹ.
Người lớn quen mắt với quần ống
rộng, thấy thanh niên chạy theo "mốt" mới, tức điên lên, hăm he,
chửi, bọn nó cũng không nghe, mỗi lần ủi quần nầy, lúc đầu vải ka-ki, rồi vải
"Sakine", làm bằng lông vịt, rách một lỗ là khó vá, nó rách toạt ra
luôn, chú vừa ủi vừa lầm thầm:
Vật chất văn minh quá cỡ rồi
Thanh niên ăn
mặc kiểu cao-bồi
Áo thòng quần xệ coi kỳ cục
Đầu tém, chân túm dễ tức cười"
Ai thay đổi mặc ai, vợ chồng chú bon
chen làm gì, chú chỉ biết áo quần nào dễ ủi là chú
chịu. Quần hai "li" xuôi hay hai "li" ngược mỗi lần ủi phải
mất công xếp "li", mới kéo ngay để ủi, rồi còn ủi lai quần. Loại quần "xăng li", không có lai, ủi tuột luốt, tiết
kiệm mấy phút, vài phút không bao lâu, nhưng nếu ủi chừng ba mươi cái thì sẽ
thấy thời giờ là quý.
Chú Sáu cầm bàn ủi
đã mấy mươi năm, qua bao nhiêu loại vải, bao nhiêu kiểu áo quần, mỗi lần kể
nghe bắt mệt.
Vải "ga-bạc-đin", vải "popeline", vải lụa lèo mịn may đồ
mát ủi nhẹ tay, vải "nylon", vải "nin
phăng", vải "tuýt-xo", nhiều lắm. Cơ trời đi
trên vải vóc và kiểu áo quần. Chú sống cả đời với vải
vóc áo quần, đủ kiểu, đủ màu. Mỗi lần ủi áo quần vải
mới ra, chú ước ao bâng quơ có một bộ mặc như người ta, buồn tủi, vì sắm không
nổi, Ước mơ ngắn ngủi chấm dứt, khi treo bộ đồ vừa ủi lên, lấy cái khác ủi
tiếp.
Áo quần vải vóc đổi thay thật nhanh
sau nầy như những cuộc thay đổi chánh trị, khi chú kiệt sức vì có tuổi, lại
giậm chân tại chỗ, không cách gì phát lên được, như mấy người thợ hớt tóc, đè
đầu đè cổ thiên hạ mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Hễ người ta càng
tiến bộ thì chú càng lùi. Nhà máy đèn bắt đầu chạy đều, có điện ban đêm,
nhiều người biết xài bàn ủi điện, chú Sáu lui vào bóng tối, vất vả hơn nhiều!
Bất cứ ai ở xứ nầy đều no cơm ấm áo
đã nhiều đời, tuy không giàu, người ăn xin cũng đủ cơm đủ cá ăn, đêm đêm phì
phà điếu thuốc vấn, tay phe phẩy quạt muỗi, ngồi trước dãy phố có Radio nghe ké
cải lương.
Gia đình chú Sáu
sở dĩ nghèo vì chú mang bịnh ghiền. Thuốc phiện (ít ai nhắc tới) tuy bị cấm
lâu rồi, từ khi Tây về nước, chú vẫn có nhựa đấp đổi, thuốc mua bán ở đâu, qua
ngả nào, chỉ có người đồng nghề cộng nghiệp mới biết. Dân
ghiền xứ nầy chưa tới mười người, hầu hết là đàn ông, trừ gia đình ông chủ tiệm
bánh, họ thuộc thế hệ chú Sáu. Họ từng sống qua thời
bình tịnh, còn Tây, tiệm hút có ba-tăng (9), không cần sắm bàn đèn cho tốn kém.
Tới cữ thì cứ tự nhiên đến tiệm hút, nằm dài trên giường, có người tiêm sẵn,
kéo một ngao ro ro cho đã, xong trả tiền, ra về, hút đầy đủ thì mập mạp hồng
hào, khỏe người tỉnh táo.
Nếu Tây không về
nước, chắc chú Sáu Tý sống bình thường không tệ như ngày nay. Nhưng Tây bỏ đi, có lịnh cấm hút,
mới có tình trạng lén lút, lén lút thì nhựa lên giá, người tiêu thụ như chú mới
cực, phải bớt lượng thuốc, tiết kiệm luôn thuốc sái, khói thuốc, trăm bề khốn
khổ, nhưng có đấp đổi còn hơn không.
Khi chú lớn tuổi,
sức yếu hẳn thì có cuộc đổi đời lần nữa. Thuốc đã khan hiếm, thân chủ bỏ
giặt ủi ngày trước, bây giờ bị phá sản, Cách Mạng vào, cơm còn lo chưa đủ, nói
chi tới mặc đẹp mà giặt ủi. Giếng nước còn đó, mực
nước sâu hơn, thấy thím Sáu phải buộc thêm cho dây gàu dài ra. Mấy cái
thau giặt quần áo chồng lại để bên giường chung với
bàn ủi, mền ủi xếp lại làm gối, lò than biến thành lò nướng bánh chuối bán
chiều. Thím Sáu chuyển sang nghề bán cháo ban ngày, bánh chuối nướng ban đêm,
vừa đủ cơm ngày hai bữa, quên mất món nhựa cho ông tiên trong nhà.
*
* *
Chú Sáu vặn mình,
xương kêu rôm rốp, miệng há toang hoát, hàm dưới xiêu vẹo không hả thêm được,
người run bần bật.
Chút chút lại cong mình như con tôm búng ngược trên giường, chiếu trơn như thoa
mỡ, trong nhà tối âm âm, cái mùng trĩu nặng ban ngày giắt lên, ban đêm hạ
xuống, vải mùng còn vương vương mùi khói thơm. Chú lăn
lộn một hồi lâu, rồi giẫy giụa, rồi ngáp. Người chú gầy xọp
hẳn đi, cáu ghét đóng từng vòng trên cổ, chú vốn sợ nước.
Trong nhà, nhắc thêm tủi, con cái ra
riêng tự lo chưa xong, chỉ còn lại người đàn bà duy nhứt chịu đựng kiên nhẫn
săn sóc chú. Thím vất vả quá sức chịu đựng, thím cũng đâu còn trẻ gì, nhịn nhục
tới chừng nào?, thím lầm bầm: "Ráng chịu đi, biểu
cai mà không chịu, thời buổi nầy, gạo mua còn không có tiền, dư đâu nuôi người
ghiền".
Chú Sáu càng làm dữ, ai cũng hèn
nhát lúc Cách Mạng vào, mọi người im thin thít, không ai dám hó hé, chỉ có chú
đủ can đảm, dám quậy, dám la hét đập giường đập chiếu, nguyền rủa ai làm chú
khổ sở như vầy. Lúc tỉnh lại, chú thều thào "Kêu thằng
Xum lại, kêu thằng Xum cho mau, cho mau, cho mau" chú giận lắm rồi nghe.
Thím Sáu vừa gói bánh vừa bực tức, trả lời: "Người Miên bị đuổi đi hết
rồi, thằng Xum thằng Xê nào còn ở đây mà kêu!".
Bỗng thím đứng dậy đi xay xảy vô nhà, vả chan chát trên lưng chú Sáu: "Ừ,
mà thằng cha già dịch nầy lớn tật dữ a! Cơm còn chưa đủ "dọng" (10)
mà còn đòi nầy kia, còn kêu thằng Xum đấm bóp nữa,
muốn thì đi vô Chưn Phnum (11) kêu nó! Liệu hồn à!".
Thím Sáu đã nư giận, bưng thúng bánh ra chợ, bỏ chú nằm chèo
queo.
*
* *
Chú Sáu há hốc, nước dãi chảy ướt
gối, chú giật nẩy người lên, rớt từ trên giường xuống đất, thân mình run như
điện giựt, mắt láo liêng, lạc thần, quơ tay loạn xạ quật mấy cái bàn ủi và
chồng thau ngã ngổn ngang, miệng mếu, thoi thóp, cổ khò khè như bị đờm chận
"Xu-u-um" rồi lịm dần, cánh tay còn vướng cái bàn ủi.
Bầu trời xanh trong bao la, không
khí tinh khiết mát lành, chú Sáu lướt đi thong dong giữa hai hàng quần áo ủi
thẳng, quần áo đủ màu sắc như cờ xí rực rỡ phất phới vẫy chào.
Chú thích:
(1) ách-cô = phân bò.
(2) bòn ca = dân Miên
(3) nhăm bai phật xạ
= ăn cơm uống rượu
(4) khạp da bò = khạp
dày, cao độ 60cm, đường kính độ 30cm
(5) quần cành tăng =
quần ngắn, ráp bằng 3 miếng, không sợ rách đáy.
(6) quần cheo = quần
dài quá gối, ráp bằng nhiều miếng vải, ngồi xếp mon trong chùa không bị rách
đáy và rộng rãi.
(7) áo phá lấu = như
áo lá đơn giản.
(8) xăng li = (sans
pli) không có đường nếp.
(9) ba-tăng = môn bài.
(10)
dọng = ăn
(11) vô
Chưn Phnum = vô chân núi, lúc họ chết chôn ở núi Chưn Phnun. Vô Chưn Phnum
nghĩa là chết.Ồ
58
Viên Giác số 137 Tháng 10 Năm 2003
|
|